Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
LỜI NÓI ĐẦU
Một nền kinh tế phát triển là mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của
đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang hội nhập một cách nhanh
chóng trên mọi phương diện, nền kinh tế nước ta còn nhiều yếu kém, chúng ta
cần thiết phải xây dựng những ngành mang tính chất chiến lược như công
nghiệp, xây dựng, thông tin, năng lượng, ngân hàng…Trong đó Công nghiệp
và xây dựng cơ sở hạ tầng là những ngành đòi hỏi phải có sự phát triển nhanh
hơn một bước so với các ngành kinh tế khác. Cũng như bất cứ các doanh
nghiệp nào trong nền kinh tế, việc định vị và sử dụng có hiệu quả các yếu tố
đầu vào sản xuất là nhân tố quyết định thành công. Trong các nhân tố đó, Vốn
của doanh nghiệp đóng vai trò tiên quyết. Bởi vốn chính là công cụ cũng như
mục tiêu gia tăng, với biểu hiện là giá trị của doanh nghiệp.
Sau một thời gian thực tế tại Công ty cổ phần công trình giao thông
124, tôi đã phát hiện ra những vấn đề liên quan đến tình hình sử dụng vốn của
doanh nghiệp, những thực trạng về ưu, nhược điểm tại đây. Chính vì vậy tôi
đã chọn đề tài về “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn” để làm luận văn tốt
nghiệp.Qua những lý thuyết đã tìm hiểu cộng với nhận thức về hướng phát
triển của ngành, của công ty và môi trường kinh tế, đồng thời với sự hướng
dẫn, chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn và các cán bộ hướng dẫn thực
tập, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
tại công ty Cổ phần xây dựng công trình giao thông và thương mại 124”.
Đây là những nghiên cứu tổng quan về tình hình hoạt động và sử dụng vốn
của công ty, kết hợp với những lý luận về vốn và sử dụng vốn, mặc dù chưa
thể đi sâu vào giải quyết một cách triệt để mọi yêu cầu xong tôi đã cố gắng
hoàn thiện trong Luận văn tốt nghiệp này những hướng, những vấn đề đề tài
nêu ra và cần giải quyết. Trong đó những biện pháp về lý thuyết và phương
pháp được ưu tiên so với những biện pháp cụ thể, thực tế để phù hợp với mục
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
tiêu của một đề tài luận văn tốt nghiệp, đó là kết hợp lý thuyết ứng dụng vào
kinh tế thị trường, điều đó có nghĩa là làm sao đạt được giá trị đầu ra tối đa từ
các yếu tố đầu vào mà các nhà sản xuất sử dụng. Và một trong những yếu tố
đầu vào quan trọng nhất đó là Vốn. Cùng với lao động, phương pháp tổ chức
sản xuất và công nghệ, Vốn đóng góp ý nghĩa quan trọng nhất để một doanh
nghiệp tồn tại và thành công.
Trong các vấn đề về vốn, người ta thường quan tâm tới thu hút, phân bổ
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
và sử dụng vốn. Làm thế nào để có được vốn nhưng khi có được rồi thì sử
dụng sao cho có hiệu quả. Đó mới là câu hỏi quan trọng quyết định trong hoạt
động của doanh nghiệp.
1.1.2. Các khái niệm về vốn và phân loại vốn
Khái niệm về Vốn
Vốn là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá trình kinh doanh. Do
đó quản lý và sử dụng vốn hay tài sản trở thành một trong những nội dung
quan trọng của quản lý tài chính. Mục đích quan trọng nhất của quản lý và sử
dụng vốn là đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành bình
thường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Cũng chính vì vậy, việc định vị và xác
định được đâu là Vốn của một doanh nghiệp là điều cần được đặt ra đầu tiên
và không thể thiếu.
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành
sản xuất kinh doanh cũng cần phải có vốn. Vốn là tiền đề là yếu tố quyết định
tới mọi khâu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để làm tốt công tác quản
lý và tạo lập doanh nghiệp cần hiểu rõ về vốn và các đặc trưng cơ bản của vốn
để từ đó làm cơ sở cho việc tổ chức vốn trong doanh nghiệp mình.
Để định nghĩa vốn là gì, các nhà kinh tế đã tốn rất nhiều công sức và
mỗi người đều có những định nghĩa riêng theo quan điểm riêng của mình.
Khi nghiên cứu đi từ các yếu tố sản xuất, trong tác phẩm “Tư bản”,
Marx cho rằng vốn đã được khái quát hoá thành phạm trù tư bản trong đó nó
đem lại giá trị thặng dư và là “một đầu vào của quá trình sản xuất”. Định
trong khu vực sản xuất hay nhập bán quyền sử dụng vốn trong một thời gian
nhất định mà lãi suất chính là giá cả của nó. Chính nhờ có sự tách rời quyền
sở hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh
và sinh lời cao.
Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện
vật chất cơ bản kết hợp sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
trình sản xuất kinh doanh. Vốn tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất của
doanh nghiệp, từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến chu kỳ sản xuất cuối cùng
trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp.
Tóm lại, có rất nhiều quan điểm về vốn, tuy nhiên trong pham vi luận
văn này, khái niệm vốn được hiểu một cách khái quát như sau:
Vốn là hình thái giá trị biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản, vật
tư dùng trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, nó gắn liền với
nền sản xuất hàng hoá. Vốn là tiền, nhưng tiền chưa hẳn là vốn, tiền trở thành
vốn khi nó hoạt động trong lĩnh vực sản xuất lưu thông. Có rất nhiều khái
niệm, thuật ngữ xung quanh và có liên quan tới vốn. Trong các bản báo cáo
tài chính ở các doanh nghiệp thường có mục Nguồn vốn và Vốn chủ sở hữu.
Hay ngay trong khái niệm vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp cũng có các
thuật ngữ: Vốn pháp định, vốn điều lệ, vốn tự có… Tuy nhiên ở đây, chúng ta
sẽ đề cập đến khái niệm Vốn theo cách hiểu chung nhất như trên để tiến hành
tìm hiểu và phân tích.
Các đặc trưng cơ bản của vốn:
Để có thề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn các nhà quản lý doanh nghiệp
cũng cần phải nắm vững các đặc trưng cơ bản của vốn, bao gồm:
- Vốn đại diện cho một lượng tài sản: Chẳng hạn, vốn được biểu hiện
bằng giá trị của những tài sản vô hình và hữu hình (đất đai, nhà cửa, máy
móc, bản quyền phát minh sang chế,…)
hoạt động kinh doanh ở các nước đang phát triển chưa nhiều nên việc phân
loại vốn chưa được mọi người quan tâm. Tuy nhiên, việc phân loại vốn tại các
doanh nghiệp ngày nay cũng rất đa dạng và phong phú, đòi hỏi doanh nghiệp
phải có sự lựa chọn phương thức phân loại vốn phù hợp với doanh nghiệp của
mình.
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
(*) Phân loại theo nguồn hình thành vốn:
Theo cách phân loại này, vốn hay vốn kinh doanh của doanh nghiệp
được phân thành 2 loại: vốn chủ sở hữu và vốn vay. Đây là cách phân loại cơ
bản và phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Hai loại vốn này có quan hệ đặc
biệt với nhau khi chúng ta xem xét cơ cấu vốn tối ưu của doanh nghiệp.
+ Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Vốn
chủ sở hữu gồm các khoản chính sau đây.
Vốn tự có: đối với doanh nghiệp nhà nước thì vốn tự có do ngân sách
nhà nước cấp ban đầu và cấp bổ sung, đối với doanh nghiệp tư nhân thì vốn tự
có do chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp, với công ty liên
doanh hoặc công ty cổ phần thì do các chủ đầu tư hoặc các cổ đông đóng góp.
Vốn tự có được bổ sung từ lợi nhuận giữ lại
Các quĩ được hình thành trong quá trình sản xuất kinh doanh (quỹ phúc
lợi, quĩ dự trữ, quĩ phát triển kinh doanh,...)
Đối với vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp không phải hoàn trả những
khoản tiền đã huy động được trừ khi doanh nghiệp đóng cửa. Tuy nhiên các
chủ sở hữu có thể giảm vốn bằng cách giảm vốn ngân sách nhà nước hoặc
mua lại các cổ phiếu…Chi phí của vốn chủ sở hữu là chi phí cơ hội cho viêc
sử dụng vốn. Trường hợp huy động vốn cổ phần, chi phí vốn là lợi tức yêu
cầu của các cổ đông. Do tính dài hạn và gần như không hoàn trả, vốn chủ sở
hữu có độ an toàn rất cao nhưng đồng thời rủi ro đối với nhà đầu tư khi sử
dụng vốn chủ sở hữu cao hơn khi sử dụng vốn vay nên chi phí vốn chủ sở hữu
cao hơn chi phí của vốn vay.
định cần phải nắm được những đặc điểm về hiện vật của vốn cố định là các tài
sản cố định của doanh nghiệp.
TSCĐ là những tư liệu sản xuất, tối thiểu phải đáp ứng 2 tiêu chuẩn sau
đây:
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên.
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
- Giá trị sử dụng tối thiểu ở một mức nhất định do nhà nước qui định
phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ ( hiện nay là 5 triệu đồng trở
lên).
Đặc điểm của TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và
nhìn chung không bị thay đổi hình thái hiện vật, nhưng năng lực sản xuất và
kèm theo đó là giá trị của chúng bị giảm dần.
Trong quá trình tham gia vào sản xuất, TSCĐ được cụ thể hoá như sau:
+ Về mặt hiện vật: TSCĐ tham gia hoàn toàn và nhiều lần vào quá
trình sản xuất nhưng giá trị thi giảm dần cho đến khi hư hỏng hoàn toàn phải
loại khỏi quá trình sản xuất.
+ Về mặt giá trị: TSCĐ được biểu hiện dưới hai hình thức:
- Một bộ phận tồn tại với hình thái ban đầu gắn với hiện vật
- Một bộ phận giá trị chuyển vào sản phẩm mà tài sản cố định sản
xuất ra và bộ phận này sẽ chuyển hoá khi bán được sản phẩm.
Bộ phận thứ nhất giảm dần trong khi bộ phận thứ hai tăng dần cho đến
khi bằng giá trị ban đầu của tài sản cố định thì kết thúc quá trình vận động.
Như vậy khi tham gia vào quá trình sản xuất nói chung tài sản cố định không
bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất thì bị giảm dần, tức là
bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của TSCĐ
cũng giảm đi tương ứng. Bộ phận giá trị hao mòn đó chuyển vào giá trị sản
phẩm sản xuất ra và được tính vào chi phí khấu hao. Quỹ khấu hao dung để
tái sản xuất tài sản cố định khi chúng bị hư hỏng hoàn toàn và phải loại ra
khỏi quá trình sản xuất nhằm duy trì năng suất của doanh nghiệp.
kỹ thuật của doanh nghiệp để từ đó có định hướng đầu tư; mặt khác, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc quản lý và thực hiện khấu hao TSCĐ.
• Phân loại theo tình hình sử dụng:
Căn cứ vào tình hình sử dụng TSCĐ, có thể chia toàn bộ TSCĐ của
doanh nghiệp thành những loại sau:
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
- TSCĐ đang dùng
- TSCĐ chưa cần dùng
- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý hoặc nhượng bán.
Dựa vào cách phân loại này, người quản lý nắm được tổng quát tình
hình sử dụng TSCĐ trong doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp
sử dụng tối đa các TSCĐ hiện có, giải phóng nhanh các TSCĐ không cần
dùng và chờ thanh lý để thu hồi vốn.
Trên đây là hai cách phân loại chủ yếu, ngoài ra còn có thể phân loại
theo mục đích sử dụng, phân loại theo quyền sở hữu... mỗi cách phân loại đáp
ứng những yêu cầu nhất định của công tác quản lý.
Vốn lưu động:
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của
doanh nghiệp.
Đặc điểm của vốn lưu động:
Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay
trong một lần và được thu hồi toàn bộ sau khi doanh nghiệp thu được tiền bán
hàng. Như vậy, vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu
kỳ kinh doanh.
Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động được biểu hiện dưới nhiều
hình thái khác nhau ( T-NVL-SPDD-TP-T’).
Thời gian chu chuyển của VLĐ ngắn hơn so với VCĐ.
Phân loại :
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả, người ta phân loại VLĐ theo
VLĐ trong doanh nghiệp, từ đó đề ra các biện pháp quản lý thích hợp nhằm
tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý và tăng được tốc độ chu chuyển của VLĐ.
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
*) Phân loại dựa vào thời gian hoạt động và sử dụng vốn:
Theo cách phân loại này có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành
hai loại:
- Nguồn vốn thường xuyên: bao gồm các nguồn vốn có tính chất ổn
định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Nguồn vốn này dùng để tài trợ cho việc hình thành các tài sản cố định
và một bộ phận tài sản lưu động (tài sản lưu động ròng). Nguồn vốn thường
xuyên gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn.
- Nguồn vốn tạm thời: bao gồm các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn
(dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng nhằm đáp ứng các nhu cầu có
tính chất tạm thời, bất thường, phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân
hang và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn.
Việc phân loại này giúp người quản lý thuận lợi trong việc xem xét các
hình thức huy động vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu
tố trong quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng đầy đủ vốn đảm bảo hoạt
động kinh doanh diễn ra liên tục, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
của doanh nghiệp. Hơn nữa, cách phân loại này cũng giúp các nhà quản lý có
thể lập kế hoạch tài chính, hình thành các dự định về tổ chức các nguồn vốn
trong tương lai trên cơ sở xác định quy mô lượng vốn cần thiết. Tuy nhiên cần
rất tránh những nhầm lẫn giữa khái niệm về vốn với tư cách là tiền với các
khái niệm khác biểu hiện cho hiện vật, thời gian, cơ sở hình thành…
1.1.3. Tầm quan trọng của vốn đối với doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một
lượng vốn nhất định đủ lớn như là một tiền đề quyết định, không có vốn sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào được thực hiện. Sẽ là
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
1.2. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
Mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ
chế thị trường là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu thông qua việc cung
cấp sản phẩm, dịch vụ cho xã hội sao cho lợi nhuận thu được là cao nhất. Để
đạt được mục đích đó các doanh nghiệp phải phối hợp tổ chức thực hiện đồng
bộ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn nói chung trong sản xuất kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty xây dựng công trình giao
thông nói riêng và mọi doanh nghiệp nói chung đều phải có mục tiêu đem lại
lợi nhuận cao nhất. Đó chính là kết quả bằng tiền do các hoạt động đầu tư và
kinh doanh đem lại. Nhưng kết quả trên chỉ được coi là có hiệu quả khi giá trị
thu được phải lớn hơn số vốn đầu tư bỏ ra sau khi đã quy chuẩn vốn về cùng
một thời điểm. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn thu được của năm sau cao hơn năm
trước.
Hiệu quả trong các ngành kinh tế nói chung và ngành xây dựng cơ bản
nói riêng được thể hiện ở hai mặt, hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp.
Hiệu quả trực tiếp là mang lại lợi ích trực tiếp cho người kinh doanh. Hiệu
quả gián tiếp là xét trên phạm vi chung của nền kinh tế hoặc một vùng, một
lãnh thổ.
Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp của vốn nhìn chung là thống
nhất, song cũng có trường hợp mâu thuẫn, đối lập nhau. Thường là khi sử
dụng vốn vào những dự án, mục đích cụ thể đem lại hiệu quả kinh tế cao
nhưng hiệu quả kinh doanh lai không đạt được. Hiệu quả trực tiếp có sức hút
mạnh hơn vì khi bỏ một đồng vốn ra kinh doanh thì người ta đã dự tính rằng
họ sẽ thu được bao nhiêu lợi nhuận. Còn với lợi ích gián tiếp có sức hút kém
hơn vì người ta chưa thấy được ngay lợi ích của nó, còn lợi ích cho nền kinh
tế thì khó nhận biết.
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
nảy nở, không bảo toàn và phát triển vốn tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp, từ đó có thể dẫn đến việc phá sản doanh
nghiệp.
Trong cơ chế cũ, các doanh nghiệp nhà nước coi nguồn cấp phát từ
ngân sách nhà nước đồng nghĩa với "cho không" nên tìm mọi cách để xin
được nhiều vốn, vì tiền không phải mua mà được phát nên khi sử dụng vốn
doanh nghiệp không cần quan tâm đến hiệu quả, nếu kinh doanh thua lỗ đã có
nhà nước bù đắp. Việc khai thác đảm bảo vốn kinh doanh của doanh nghiệp
trở nên hết sức thụ động.
Chuyển sang cơ chế thị trường, các khoản bao cấp về vốn từ ngân sách
nhà nước không còn nữa, doanh nghiệp phải tự trang trải mọi chi phí và phải
tìm mọi cách kinh doanh sao cho có lãi, phải tổ chức sử dụng vốn một cách
tiết kiệm và có hiệu quả. Do đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, sử dụng
đồng vốn một cách chặt chẽ hơn, hiệu quả hơn, phải bảo toàn vốn, đầu tư mở
rộng quy mô phát triển sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên để sử dụng vốn một cách có hiệu quả không phải doanh
nghiệp nào cũng làm được, đặc biệt khi mà ở Việt Nam còn coi nhẹ vấn đề
này. Trong những năm thực hiện kinh tế chỉ huy tập trung bao cấp, các quy
luật kinh tế và biện pháp quản lý khoa học đã bị xem nhẹ. Đó cũng là một
nguyên nhân quan trọng khiến cho các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp
nhà nước “lãi giả lỗ thật”. Song khi mà nền kinh tế thị trường ngày càng sôi
động nhưng cũng không kém phần khắc nghiệt thì các doanh nghiệp cần phải
quan tâm đến vấn đề này nhiều hơn. Khi đó doanh nghiệp không chỉ dừng lại
ở chỗ làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả mà còn phải tìm cách nào để
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp mình.
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn
--> Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn Lưu Động:
(2)
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
Trong đó:
VTK: VLĐ có thể tiết kiệm được (-) hoặc phải tăng thêm (+) do sự thay
đổi của tốc độ luân chuyển VLĐ của kỳ này so với kỳ trước.
M1: Tổng mức luân chuyển VLĐ kỳ này (DTT kỳ này)
L1: Số lần luân chuyển VLĐ kỳ này.
L0: Số lần luân chuyển VLĐ kỳ trước
Mức tiết kiệm VLĐ càng lớn cho thấy hiệu suất sử dụng vốn càng cao
và ngược lại.
--> Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng Vốn Cố Định:
a) Hiệu suất sử dụng VCĐ:
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng VCĐ = (4)
Số VCĐ bình quân trong kỳ
Số VCĐ đầu kỳ + Số VCĐ cuối kỳ
Số VCĐ bình quân trong kỳ =
2
b) Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ = (5)
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
c. Tỷ suất lợi nhuận VCĐ: phản ánh một đồng vốn trong kỳ có thể tạo
ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế)
Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế)
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ = (6)
VLĐ bình quân trong kỳ
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
Các chỉ tiêu (4), (5), (6) các chỉ tiêu càng cao thì hiệu suất sử dụng
hợp sử dụng VCĐ và VLĐ của doanh nghiệp.
Để đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sử dụng vốn cần phải xem xét hiệu
quả đó từ nhiều góc độ khác nhau. Vì thế trong công tác quản lý, người quản
lý doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau để đánh giá mức sinh lời
của đồng vốn.
Ngoài các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối, để đánh giá hiệu quả sử dụng
VKD trong kỳ có thể sử dụng các chỉ tiêu chủ yếu sau:
LN trước thuế + lãi vay
a) Tỷ suất lợi nhuận VKD = (9)
trước thuế và lãi vay VKD bình quân sử dụng trong kỳ
b) Tỷ suất lợi nhuận VKD: phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh tạo ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
LN trước thuế
Tỷ suất lợi nhuận VKD = (10)
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
c) Tỷ suất lợi nhuận ròng VKD: chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng VKD
tham gia trong kỳ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế (LN ròng).
LN sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận ròng VKD = (11)
VKD bình quân sử dụng trong kỳ
LN sau thuế
d) Tỷ suất lợi nhuận ròng vốn CSH = (12)
Vốn CSH bình quân sử
dụng trong kỳ
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
Trong tất cả các chỉ tiêu trên, VKD bình quân sử dụng trong kỳ được
tính như sau:
VKD đầu kỳ + VKD cuối kỳ
nghiệp mà hoạt động của nó diễn ra ở ngoài trời như xây dựng, giao thông …
từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản phẩm của các ngành sản xuất
nguyên liệu đầu vào tương ứng như gạch, xi măng, sắt thép,…. Rõ ràng môi
trường tự nhiên một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đều tác động đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do đó có những ảnh hưởng nhất định
đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Môi trường khoa học công nghệ
Tiến bộ khoa học kỹ thuật một mặt tạo ra các dây chuyền máy móc
hiện đại giúp doanh nghiệp tăng năng suất, giảm chi phí, nâng cao chất
lượng sản phẩm…từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
Nhưng bên cạnh đó, với tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật trong
nhiều trường hợp làm gia tăng hao mòn vô hình, gây ra ảnh hưởng xấu trong
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Môi trường pháp lý
Là hệ thống các chủ trương, chính sách, hệ thống pháp luật tác động
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu môi trường pháp lý thuận
lợi, tạo hậu thuẫn cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy khả năng nâng cao lợi
nhuận, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp.Nếu môi
trường kinh doanh không thuận lợi và thiếu kịp thời cho hoạt động kinh
doanh, gây khó khăn cho doanh nghiệp và làm hạn chế hiệu quả sử dụng đồng
vốn kinh doanh. Bất kỳ sự thay đổi nào trong chế độ chính sách, pháp luật
cũng đều ảnh hưởng rất lớn tới mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Có thể nói môi trường pháp lý và việc vận dụng môi trường pháp lý vào sản
SV: Nguyễn Ngọc Duẩn Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44A
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Công ty CTGT 124
xuất kinh doanh cũng như quản lý sử dụng vốn của doanh nghiệp là một trong
những nhân tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động, doanh nghiệp
lõ, lãi, tồn tại hay không tồn tại.
Ngoài các nhân tố khách quan trên còn có rất nhiều các nhân tố chủ
quan do chính bản thân doanh nghiệp tạo nên, làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử