ĐỀ TÀI
QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HOÁ
CỦA NỀN VĂN MINH CHĂM PAGiáo viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :
1
MỤC LỤC2
MỞ ĐẦU
Đất nước Việt Nam - điểm đến du lịch của thiên niên kỷ - Đó là một lời chào
của đất nước Việt Nam chúng ta. Trải dài từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau xa
xôi. Đất nước Việt Nam thống nhất lãnh thổ từ Bắc đến Nam chạy dài suốt biển
Đông cùng dãy núi Trường Sơn hùng vĩ. Đất nước cong cong hình chữ S, gánh lấy
sứ mệnh nối liền dải đất Miền Trung đầy nắng và gió. Nơi đây đã từng tồn tại một
nền văn hoá vô cùng rực rỡ là nền văn hoá nơi đến của cư dân Chăm Pa.
Việt Nam một đất nước phải gánh chịu trên vai mình suốt chiều dài lịch sử là
những cuộc chiến tranh đẫm máu, là những cuộc chiến tranh không ngừng nghỉ để
chống áp bức, chống nô dịch và chống đồng hoá. Trải qua biết bao thăng trầm của
lịch sử “ta vẫn là ta” vẫn giữ được bản sắc văn hoá của dân tộc, giữ được nét riêng
truyền thống thiêng liêng của đất nước. Là cửa ngõ thông thương nằm trên trục
đường giao thương buôn bán của thế giới, Việt Nam có một vị trí vô cùng chiến
lược cho sự trung chuyển và phát triển kinh tế từ lâu đời. Nhưng đó cũng chính là
những điểm mà kẻ thù luôn luôn tranh thủ và nhòm ngó để xâm chiếm.
Đất nước còn lại hôm nay đó chính là một quá trình đấu tranh gian cường và
anh dũng để bảo vệ chủ quyền, bảo vệ nền văn hoá, bảo vệ cái ý thức cộng đồng
Chăm Pa đã từng bước “ bản địa hóa” các luồng văn hóa du nhập vào vương quốc
này, tạo nên sự khác biệt, mới mẻ rất riêng của ChămPa so với cái gốc của các nền
văn hóa mà nó chịu ảnh hưởng. Chính điều này đã tạo sự phong phú, độc đáo trong
văn hóa Chăm trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của vương Quốc Chămpa và đến
cả ngày nay văn hóa Chămpa vẫn còn nhiều ẩn số cần tìm hiểu.
Nền văn hóa của vương quốc ChămPa xưa kia và của người Chămpa ngày
nay mang đậm sắc thái tôn giáo. “ Không có một người Chămpa nào không có tôn
giáo…Những yếu tố tôn giáo đã in đậm dấu ấn trong mọi dạng thức sinh hoạt văn
hóa của người Chămpa” ( Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp – Văn Hóa
Chăm). Cương chính tôn giáo la biểu hiện trong mối giao lưu tiếp biến giữa văn
4
hóa Chămpa với văn hóa của nhiều thành phần dân tộc cư dân vùng lục địa và hải
đảo Châu Á.
Với quá trình giao lưu văn hoá của cư dân Chăm Pa bằng cả con đường tự
nguyện lẫn chiến tranh. Dù bằng phương thức nào nhưng với sự sáng tạo của mình
họ đã tạo ra những giá trị văn hoá tuyệt vời, mà ngày nay nó vẫn là một thứ cực kỳ
quý giá trong kho tàng lịch sử dân tộc.
Nền văn minh Chăm Pa đã tồn tại từ II đến XIX. Đó là một quá trình mà cư
dân Chăm Pa đã sinh sống và tạo ra nền văn hoá của chính họ, một nền văn hoá hội
tụ đủ yếu tố bản địa vô cùng độc đáo, chúng cũng có những yếu tố du nhập vào đây
chất sáng tạo. Đó là một quá trình giao lưu văn hoá, của sự phân ly và tích hợp, để
rồi cải biến một cách tuyệt vời để biến cái ngoại lai thành cái nội sinh.
Quá trình giao lưu văn hoá diễn ra trên mọi lĩnh vực từ văn hoá, tôn giáo tín
ngưỡng, nghệ thuật điêu khắc, văn học trên nền tảng của những điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội thuận lợi nhất của cư dân Chăm Pa có được.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VĂN MINH CHĂM PA
1. Định nghĩa giao lưu văn hoá tộc người
5
Mỗi tộc người trong qúa trình tồn tại và phát triển của mình ở những điều kiện
địa lý tự nhiên cụ thể, đã tạo ra nền văn hóa phản ánh sắc thái riêng thích ứng với
yếu tố văn hoá chung nhất, tiếp thu một phần văn hoá của tộc người láng giềng vào
nền văn hoá của mình.
• Giao lưu và tiếp xúc văn hoá giữa các tộc người
diễn ra rất đa dạng mà một trong những hoạt động có ý nghĩa đặc biệt đối với giao
lưu và tiếp xúc văn hoá là trao đổi kinh tế. Các tộc người sinh sống ở những vùng
lãnh thổ khác nhau không phải bất kỳ nơi nào cũng đáp ứng được nhu cầu của đời
sống. Các sản phẩm làm ra của một cộng đồng cư dân nào đó, trước hết là đáp ứng
nhu cầu của chính nhu cầu của cộng đồng đó, nhưng trong nhiều trường hợp các
sản phẩm làm ra không những đáp ứng nhu cầu của cộng đồng mà còn có thể trao
đổi. Lúc đầu có thể là những trao đổi sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng
bạn, nhưng dần dần lại mang ý nghĩa trao đổi văn hoá. Từ việc trao đổi các sản
phẩm các tộc người dần dần tiếp thu những yếu tố văn hoá của tộc người khác dựa
vào sản phẩm biến nó thành nét văn hoá của mình.
Một hiện tượng khác trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại có
ảnh hưởng đến giao lưu văn hoá là hiện tượng di dân. Di dân là một hiện tượng xã
hội nhưng cũng là một hiện tượng văn hoá, xảy ra ở hầu hết các dân tộc. Di dân
sảy ra trong suốt tiến trình của lịch sử nhân loại chịu tác động của các yếu tố kinh
tế, văn hoá, xã hội những cuộc chiến tranh những tác động của thiên tai. Di dân sảy
ra làm tăng quá trình giao lưu, tiếp xúc tộc người. Khi các đợt di dân sảy ra với
cường độ không lớn tức với số lượng không đông sẽ ít phá vỡ lãnh thổ tộc người.
Lớp cư dân mới đến cộng cư hoà nhập vào lớp cư dân bản địa làm cho quá trình
7
giao lưu văn hoá tăng lên. Trong trường hợp di dân với cường độ lớn có thể đẩy
người bản địa ra khỏi lãnh thổ cư trú tạo nên sự xáo trộn rất lớn trong lãnh thổ cư
trú, giao lưu văn hoá tăng. Di dân làm tăng nhanh và mở rộng quá trình giao tiếp
tộc người và làm tăng nhanh quá trình giao lưu văn hoá.
Ngoài hoạt động kinh tế, di dân còn có những hoạt động trao đổi phi kinh tế
ảnh hưởng của chúng đế giao lưu văn hoá là không nhỏ. Đó là sự trao đổi tặng
phẩm, vật phẩm tôn giáo. Lúc đầu những vật phẩm tặng phẩm có ý nghĩa khuyếch
trương hơn. Cùng với sự tồn tại và phát triển của các tộc người đã dẫn đến những
Tất cả những điều kiện tự nhiên ấy giúp Chăm Pa phát triển một nền kinh tế
vững mạnh dựa vào các ưu thế vốn có của vùng.
Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, Nhân dân trồng các loại ngũ cốc, nếp, kê,
đậu, vừng đây là vùng đất mới khai phá sau nên đất đai phì nhiêu họ còn trồng các
loại mía, chuối, thốt nốt, dừa, sen, cau, đặc biệt là mía. Ngoài ra người Chăm Pa
còn nuôi trâu bò, ngựa, voi và voi được sử dụng chủ yếu trong quân đội. tại đây
Chăm Pa cũng học cách cày cấy bằng trâu bò cửa Cửu Chân. Ruộng hai mùa, mùa
trồng lúa trắng mùa trồng lúa đỏ tên lúa là Chiêm đây cũng là loại lúa được người
Việt tiếp nhận qua đó cho thấy quá trình giao lưu học hỏi người Đại Việt và người
Chăm Pa hình thành rất sớm.
9
Việc chuyển hướng từ nông nghiệp khai thác biển sang nông nghiệp thuần
túy là sự kiện đặc biệt cho quá trình này.Trên cơ sở phát triển của kỹ thuật
luyện kim đồng thau đã tạo điều kiện cho năng suất tăng, dư thừa để trao đổi,
buôn bán, xuất hiện giao lưu tiếp biến
Hơn nữa với vùng tự nhiên giáp Đại Việt trong cơng cuộc chống Bắc thuộc
hai vùng cũng có những mối quan hệ bang giao và kéo dài theo chiều dài lịch sử
mối quan hệ ở mỗi giai đoạn tuy có biến đổi nhưng đặc biệt trong các đợt chống
ngoại xâm phương Bắc hai nước thể hiện tinh thần hồ hiếu với nhau rất thân thiết.
Quá trình hợp tác lâu đời giữa hai dân tộc Đại Việt- Chămpa do cùng cư
trú trong một khu vực đòa lí chung, và trong cuộc đấu tranh lâu dài với thiên
nhiên mà bộ phận cư dân Đai Việt- Chămpa trong vùng cùng nhau ghánh vác.
Hai dân tộc sử dụng chung nhiều con đập, đường mương trong vùng từ đó đưa
đến việc cùng nhau lao động để bảo vệ các nguồn cung cấp nước và qua lao
động hai cư dân có dòp tiếp xúc và giao lưu với nhau.
Nhân dân trồng dâu ni tằm ngành dệt lụa rất phát triển, nghề khai quặng nấu
quặng và rèn đúc kim loại cũng rất phát tiển, sản xuất được nhiều vàng, bạc, sắt.
Chăm Pa cũng rất giàu lâm sản q như hương liệu, tê giác, ngà voi, sáp ong, hổ
phách, đồi mồi đặc biệt là vùng có trầm hương các sản phẩm này thường dùng
thơng thương với nước ngồi và là thứ hàng trao đổi hàng năm của ngoại thương
11
Chủ nhân của nền văn hoá Sa Huỳnh tiền thân vương quốc Chăm pa là cư dân
nói tiếng Nam đảo, tộc người Chăm Pa là cư dân đa chủng tộc có nhiều nét văn hoá
khác nhau.
Chính trị: Chăm pa là một nhà nước quân chủ chuyên chế vua đứng đầu giải
quyết mọi việc từ sản xuất đến việc theo dõi các hình phạt uy quyền của nhà vua
rất lớn quan lại cũng không được đến gần nhân dân thấy vua phải quỳ còn quan lại
yết kiến nhà vua mà thôi. Dưới vua có các quan lại họ không có lương bổng chỉ
được tư cấp theo thổ tục địa phương, đôi khi được cấp thức ăn, miễn tiêu, dịch. Để
đảm bảo quyền lực nhà vua có một đạo quân mạnh thường trực. Quân lính mỗi
tháng được cấp hai học gạo nếp, mỗi năm cấp từ 3-5 áo đông và hè họ được trang
bị vũ khí gươm giáo, cung tên thuốc độc. Trong nước ai phạm tội thì phạt bằng gậy
đánh hoăc tội nặng thì trèo cây lấy ngọn cây đâm vào cổ, hay tội nặng hơn nữa thì
cho voi dày hay voi quật chết, cũng có khi bắt tự tử ở núi Bất lao.
Khi mới thành lập vương quốc Chăm pa vào cuối thế kỷ II thì liên tiếp tiến
hành giao hảo với Giao châu và cử xứ sang. Thế kỷ III Châu khu liên là Phạm
hung (cháu ngoại) liên kết với Phù Nam để tấn công các trưởng lại nhà Tấn và tấn
công cả Giao Chỉ nhưng cuộc tấn công thất bại. Năm 284 Chăm Pa cử sứ sang Tấn
triều cống và ngừng cuộc xâm lấn. Với vị trí như vậy Chăm pa luôn có các mối
quan hệ phức tạp với phương Bắc, với Đại Việt với Phù Nam và Chăm Pa thường
phải nộp triều cống cho Đại Việt và phương Bắc.
Chăm Pa và Đại Việt có lúc mối quan hệ diễn ra hoà bình hoà hiếu cùng nhau
tồn tại và phát triển nhưng có lúc quan hệ trở nên căng thẳng, đặc biệt là vùng phía
Bắc Chăm Pa và phía Nam Đại Việt có thời gian thường sảy ra tranh chấp và theo
thời gian do sự mở rộng về phía Nam của Đại Việt làm lãnh thổ Chăm Pa ngày
càng thu hẹp về phía Nam và cuối cùng sát nhập hoàn toàn vào Đại Việt. Lãnh thổ
Chăm Pa tuy không còn nhưng dân tộc Chăm vẫn tồn tại họ sống chủ yếu ở phía
Nam đặc biệt là Ninh Thuận-Bình Thuận, qua thời gian họ vẫn giữ vững bản sắc
12
văn hố riêng của mình và bản sắc văn hố hồ vào tạo thành nền văn hố đa dạng
Do ngành hải thương phát triển mạnh, Chăm Pa có giao lưu văn hoá rộng rãi.
Tuy nhiên, sự tiếp xúc của Chăm Pa có xu hướng về phía Nam như Ấn Độ, Mã Lai
nhiều hơn về phía Bắc (Đại Việt và Trung Quốc). Sự tiếp xúc với Trung Quốc chủ
yếu thông quan Đại Việt, và bằng các cuộc chiến tranh.
Do có cơ sở ven biển và giao lưu nhiều. Đây cũng là vùng đất trù phú và dồi
dào về tài nguyên khoáng sản nhất là kim loại và kim loại quý do sự phát triển của
đồ trang sức rất phổ biến.
Ở đây nghề gốm cũng phát triển nên có sự giao lưu mạnh mẽ với Ấn Độ và
Trung Quốc
Đa số những giá trị văn hoá được giao lưu chủ yếu qua đường thương mại và
buôn bán nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, Campuchia và A rập.
Văn hoá và giao lưu văn hoá ở Chăm Pa phát triển mạnh hiện nay vẫn còn
nhiều giá trị văn hóa độc đáo không đâu có được.
Là nơi thương nhân dừng chân buôn bán, trung chuyển quốc tế, nghỉ chân nên
nơi đây là cửa ngõ thông thương và tạo điều kiện cho giao lưu văn hoá tốt hơn,
rộng rãi hơn với nhiều nước.
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính, từ đó quyết định văn hoá của văn
minh Chăm Pa-một nền văn hoá nông nghiệp.
Kết quả buôn bán và giao thương với A rập tạo ra đạo Hồi, với Ấn Độ tạo ra
Phật Giáo+ Blamôn+ Hinđu, chữ viết Phạn, kiến trúc đền tháp…
Sau đây là quá trình giao lưu văn hóa từ đó tạo ra được những nhân tố mới
trong nền văn hóa.
14
CHƯƠNG II: QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VĂN HOÁ CỦA NỀN
VĂN MINH CHĂM PA.
1. Sự hình thành những nhân tố mới trong quá trình giao lưu tiếp
biến văn hoá của nguời ChămPa
Trước khi lập quốc, Chăm Pa đã chịu sự đô hộ của người Hán và cũng chịu
ảnh hưởng sâu sắc các yếu tố Hán trong nền văn hoá của mình. Trong khi đó, ngay
từ trước công nguyên, trước nhu cầu phát triển sự buôn bán trao đổi hàng hoá. Các
trọn vẹn hai tôn giáo lớn ở Ấn Độ là Ấn Độ giáo và Phật giáo. Nhìn vào lịch sử
hơn chục thế kỷ tiếp nhận các tôn giáo Ấn Độ ở Chăm Pa, có thể thấy rất rõ quá
trình hoà nhập các hình thức Ấn Độ vào tôn giáo, tín ngưỡng bản địa của người
Chăm. Tính Siva giáo vẫn bao trùm toàn bộ tôn giáo, vương triều hoặc quốc gia
của Chăm Pa.
Tín ngưỡng của người Chăm trước khi tôn giáo của Ấn Độ gia nhập vào cho
đến nay vẫn chưa có tư liệu rõ ràng. Trên cơ sở tài liệu của nền văn hoá Sa Huỳnh
ta có thể thấy những mộ chum điển hình và có chóp theo đồ tuỳ táng. Mang đặc
trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước, có lẽ người Chăm cũng như tộc người
khác có tín ngưỡng đa thần giáo. Họ thờ cúng các hiện tượng tự nhiên: Thần mưa,
thần sấm, thần sét, thần sông, thần đất, thần biển…, thờ cúng tổ tiên, tộc họ. Chính
cơ sở đó, khi văn hoá Ấn Độ ảnh hưởng đến đây mang nhiều tính chất tương đồng.
Hơn nữa, văn hoá tôn giáo Ấn Độ du nhập vào Chăm Pa bằng con đường hoà bình
nên đã nhanh chóng hoà đồng chung với các tín ngưỡng dân gian của người Chăm
16
Pa ở đây. Tức là, văn hoá Ấn Độ tuy vẫn giữ được tính chất nền tảng nhưng có sự
bản địa hoá.
Văn hoá tôn giáo Ấn Độ đã ảnh hưởng trên hầu hết các lĩnh vực như kiến trúc,
điêu khắc, chữ viết, văn học…Nhưng trong đó, những yếu tố kiến trúc, điêu khắc
trên tháp Chăm Pa đã thể hiện rõ nhất tính bản địa đó.
• Ban đầu, các đền tháp có chức năng thờ Tam vị nhất thể (Trimurti,
Sava, Brahma, Visnu) theo tín ngưỡng Balamôn với một tổng thể kiến trúc gồm ba
tháp trên cùng một trục như khu tháp Hoà Lai (thế kỷ IX), Khương Mỹ (thế kỷ X).
Càng về sau, người Chăm càng suy tôn thần Siva và hình thành nên Siva giáo với
tổng thể kiến trúc thường chỉ một tháp thờ thần Siva hoặc được một bố cục gồm
tháp ở vị trí tung tâm hay trên trục trung tâm và các tháp phụ khác quy mô nhỏ hơn
như khu tháp Bánh Ít (Bình Định thế kỷ XII), khu tháp Po Kloong Gia rai ( thế kỷ
XIII-XIV), khu tháp Ponagar. Sức mạnh văn hoá bản địa của văn hoá Chăm Pa và
sự suy tôn thần Siva được thể hiện qua kiến trúc được mô phỏng bằng hình tượng
Linga-Yoni. Người Chăm đã tạc những mẫu tượng Linga-Siva hoặc kết hợp thần
vị La Hán…
• Các tháp, đền Chăm Pa như PoNagar ở Nha Trang, Khánh Hồ. Là một
đề thờ quan trọng bậc nhất của người Chăm trong lịch sử. Trong tháp trung tâm
của tháp này còn có pho tượng đá thể hiện Mẹ sứ sở ngồi trên bệ cao. Sự tồn tại
của khu đền tháp này là sản phẩm đặc sắc của tính mẫu hệ trong văn hố Chăm Pa.
Điêu khắc
18
Những tác phẩm điêu khắc Chăm Pa vào buổi đầu tuy không nhiều và tập
trung, nhưng lại có diện phân bố rộng và thể hiện những tinh thần tôn giáo khác
nhau. Ngoài ra, chúng lại mang những nét đặc trưng rời rạc chứ không thống nhất.
Tuy nhiên, có thể thấy một điều rõ rang là điêu khắc Chăm Pa trước thế kỷ VII gần
gũi một cách kỳ lạ với truyền thống nghệ thuật Amaravati của Ấn Độ, chỉ từ nửa
thập niên thứ 2 của thế kỷ VII (tức là dưới triều vua Prakasadharma
Vikrantavarman I) thì nền nghệ thuật điêu khắc Chăm mới bộc lộ những cá tính
riêng biệt của mình.
Điêu khắc Chăm Pa có lúc hướng tới cái đẹp cổ điển của nghệ thuật Ấn Độ
nhưng xu thế chung của nền điêu khắc này là bứt khỏi khiếu thẩm mỹ tả thực cổ
điển của Ấn Độ. Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử, nền nghệ thuật cổ Chăm Pa
luôn chịu tác động rất mạnh của những ảnh hưởng từ bên ngoài tới. Chính những
tác động từ bên ngoài vào đã trở thành những động lực quan trọng để tạo ra những
nấc thang lớn trong lịch sử điêu khắc Chăm pa: Ảnh hưởng của Ấn Độ ở giai đoạn
trước thế kỷ thứ VII; Ảnh hưởng của Chân Lạp trong phong cách Mỹ Sơn E1; Ảnh
hưởng của Java trong phong cách Trà Kiệu; Ảnh hưởng của nghệ thuật Ăngko
trong phong cách Tháp Mắm…hầu như mỗi khi một ảnh hưởng nào đó từ bên
ngoài tác động mạnh vào là ở Chăm Pa lại xuất hiện một phong cách đieu khắc
mới. Thế nhưng, các chuẩn mực từ bên ngoài vào đều bị phá vỡ rất nhanh hoặc bị
nhập chung vào các truyền thống điêu khắc riêng của Chăm. Đặc trưng lớn nhất và
chung nhất cho điêu khắc cổ Chăm Pa là là xu thế hướng tới tượng tròn của hầu
như tất cả những hình chạm khắc dưới dạng phù điêu. Có thể chính vì điều này
khiến cho điêu khắc Chăm Pa không rạo rực, sôi động như phù điêu Khơme vốn có
Độ để viết thành chữ của mình:
- Chữ Akhar Klanmưng (chữ con nhện)
20
- Kiểu Akhar ator (chữ treo)
- Kiểu Akhar thrah (chữ thảo) đây là loại chữ phổ biến hơn cả
Hiện nay, chữ thảo là loại chữ mà cho đến nay người Chăm vẫn còn sử dụng.
Văn học
Cũng như nền văn hoá Việt Nam, văn học Chăm Pa bao gồm văn học truyền
khẩu và văn học thành văn. Đó là ca dao, tục ngữ, sử thi Chăm, truyện cổ Chăm,
trường ca trữ tình Chăm, trường ca thế sự Chăm, gia huấn và triết lý Chăm,
Dammưy, những bài ca cúng tế, ma thuật…
- Sử thi-trường ca tôn giáo mang đậm triết lý Balamôn và Hồi giáo
- Thơ triết lý Chăm
- Những câu truyện tình ngang trái, bi thảm bởi tôn giáo Balamôn vfa
Hồi giáo.
Các tác phẩm văn học viết ra đời từ khi hình thành chữ viết Chăm nhằm ca
ngợi con người và đất nước Chăm Pa, ca ngợi công đức các vị vua, các bậc đế
vương, các chiến công quân sự.
Âm nhạc và múa
Đối với người Chăm âm nhạc có vai trò quan trọng, nhất là đối với lễ nghi và
lẽ hội mang tính tôn giáo. Ảnh hưởng âm nhạc và múa Ấn Độ có tác động một
cách mạnh mẽ đến vương quốc Chăm Pa.
Hầu như các nhạc cụ có mặt trên các hình chạm khắc của Chăm Pa đều là
những nhạc cụ truyền thống của Ấn Độ: đàn vina, trống mriđang,trống mađđlam,
chela…
Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với vũ đạo Chăm Pa không chỉ ở tư thế, động tác
và vũ điệu mà còn cả về quan điểm thẩm mỹ về cái đẹp của cơ thể con người.
Cũng như Ấn Độ trong khi múa, các vũ nữ Chăm Pa bao giờ cũng phô diễn vẻ đẹp
kiều diễm của cơ thể. Hầu như các vũ nữ Chăm pa đều để mình trần khi múa.
21
quanh các tầng mái được thể hiện bằng nhiều kích cỡ, bố cục khác nhau. Có rắn 5
đầu, rắn 3 đầu, rắn 1 đầu…Hàng ngàn đá chạm thu được ở tháp Dương Long. Có
thể nói rắn Nagar tháp Dương Long là một hiện tượng đặc biệt trong điêu khắc cổ
Chăm Pa, nói lên q trình giao lưu, tiếp biến văn hố giữa người Chăm, người Ấn
Độ và người Khơme.
Sự ảnh hưởng văn hóa Hồi Giáo
Hồi giáo được du nhập vào Chăm pa qua những con đường giao lưu quốc tế
vì Đơng Nam Á là nơi hội tụ của nhiều nền văn hố khác nhau, tạo cho cư dân ở
đây một truyền thống dung hồ các nền văn hố trong đó tơn giáo (hồi giáo) được
thể hiện rất rõ nét. Thoạt đầu, Hồi giáo đến với người Chăm bằng sự hiện diện của
một cộng đồng Hồi giáo gốc Trung Đơng ngay trên đất Chăm Pa. Nhưng người
Chăm đã chắc chắn khơng chỉ tiếp xúc với Hồi giáo ngay tại q hương của họ qua
những thương nhân Hồi giáo. Bởi vì cộng đồng Hồi giáo người nước ngồi do
những điều kiện khơng thuận lợi ở Cham Pa lúc bấy giờ đã khuếch trương cơng
việc làm ăn lúc bấy giờ của mình một cách mạnh mẽ và vững chắc. Đó cũng là lý
do mà họ khơng truyền bá đức tin Hồi giáo một cách tích cực được. Trong những
thế kỷ từ XII-XVI, người Chăm đã có hoạt động hàng hải khá phát triển.Chính
bằng những con đường hang hải họ đã tiếp xúc với Indơnesia, Malaisia, Malcca…
mà từ thế kỷ thứ XII, ở những nơi này, Hồi giáo đã giữ vai trò ưu thế. Đây có lẽ là
con đường chủ yếu để người Chăm tiếp nhận Hồi giáo. Đến giữa thế kỷ XVII,
Chăm Pa đã được Hồi giáo hố, đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn của người Chăm
23
Pa. Balamơn giáo gày càng suy giảm và một bộ phận dân chúng đã tin vào đức tin
mà thiên sứ Mohamet đã truyền giảng. Đạo Bani là một biến thái địa phương của
Hồi giáo ở người Chăm tại Việt Nam (đặc biệt là người Chăm ở vùng Thuận Hải).
Tín đồ đạo Bani tạo thành một cộng đồng Hồi giáo địa phương của người Chăm tại
Việt Nam và chỉ tập trung ở vùng Thuận Hải, có sinh hoạt tơn giáo độc lập với
cộng đồng Islam của người Chăm ở Nam Bộ cũng như cộng đồng Hồi giáo thế
giới. Họ tn thủ giáo lý Hồi giáo theo một cách riêng, trong đó hồn tồn có
những điểm xa lạ với Hồi giáo chính thống.
Chăm Bàni, không chỉ có một đấng Ala duy nhất mà còn có thần mưa,
thần núi, thần biển trong văn hóa bản đòa với sự duy trì một hệ thống tín ngưỡng
dân gian có sự đan xen của Balamon giáo trong các lễ hội. Trong các nghi lễ
nông nghiệp ngoài các tu só còn có các thầy char tham gia.
So với các tập tục Hồi Giáo trên thế giới, Chăm Bàni có sự khác biệt
nhất đònh. Trước nhất là lễ “ cắt bao quy đầu” (kho tan) được người Chăm Bàni
đổi thành lễ “ Kathar” cho các thiếu niên nam 15 tuổi và lễ “karơh” cho các
thiếu nữ ở tuổi dậy thì. Nếu lễ “cắt ra quy đầu” cho nam thiếu niên được coi là
phong tục quan trọng trong xã hội Hồi Giáo chính thống thì lễ “ Kathar” của
Chăm Bà Ni chỉ mang tính tượng trưng còn lễ “ karơh” mới là quan trọng trọng
xã hội theo chế độ mẫu hệ.
Trong lễ cưới, nếu ở hồi giáo chính thống người đàn ông có vò trí độc tôn
thì ở Chăm Bàni người con gái lại chủ động trong cưới xin là người quyết đònh
mọi công việc hệ trọng trong gia đình.
Trong tang lễ, ngoài các nghi lễ thực hiện đơn giãn của tập tục hồi giáo
còn thể hiện ở đó khá rõ nét tián ngưỡng dân gian (làm phép mở đường xuống
âm phủ, hình thức gửi lễ vật nhờ người chết mang hộ xuống âm phủ cho người
thân).
Có thể nói rằng tuy Hồi giáo đã ảnh hưởng rất đậm nét trong văn hóa
Chămpa và người Chămpa vẫn tự gọi mình là tín đồ Hồi giáo. Nhưng chính
25