QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA VIỆT – CHĂM TRONG LỊCH SỬ - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
___________________________ Trần Dũng
QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VÀ HỘI NHẬP
VĂN HÓA VIỆT – CHĂM TRONG LỊCH SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
__________________________
Trần Dũng

QUÁ TRÌNH GIAO LƯU VÀ HỘI NHẬP

MỤC LỤC

Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠI VIỆT VÀ
CHAMPA TRƯỚC THẾ KỶ X .............................................. 17
1.1. Nước Đại Việt giai đoạn một ngàn năm Bắc thuộc ........................... 17
1.2. Nước Champa từ cuộc khởi nghĩa Khu Liên đến vương triều
Đồng Dương ....................................................................................... 19
Chương 2: QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP ........................................................ 30
2.1. Chiến tranh, quan hệ bang giao (Từ thế kỷ X đến XIV)
.................... 30
2.2. Từ Chiêm Thành quốc đến trấn Thuận Thành – quá trình cộng cư và
hội nhập văn hóa sôi động (Từ thế kỷ XV đến XVII) ....................... 36
2.3. Hội nhập Việt – Chăm, dòng chảy tất yếu của lịch sử (Từ thế kỷ XVII
đến nay) .............................................................................................. 42
Chương 3: LÃNH VỰC GIAO LƯU VÀ TƯƠNG TÁC .......................... 55
3.1. Kinh tế – vật chất ............................................................................... 55
3.2. Xã hội – tinh thần................................................................................ 80
KẾT LUẬN .................................................................................................. 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 104

người Chăm. Người Chăm vốn sinh sống ở miền duyên hải miền Trung
Việt Nam từ rất lâu đời và họ đã sớm xây dựng nên vương quốc Champa
với một nền văn hóa rực rỡ, mang màu sắc ảnh hưởng từ nền văn minh n
Độ. Trải qua những biến thiên của lòch sử, vương quốc Champa đã dần dần
sáp nhập vào lãnh thổ của Đại Việt. Đó cũng là quá trình người Việt mở
rộng lãnh thổ xuống phía Nam, quá trình gặp gỡ, tiếp xúc, cộng cư, giao
lưu và tiếp biến văn hóa của hai dân tộc.
Hiện nay, người Chăm gồm có hai bộ phận chính: bộ phận cư trú ở
Ninh Thuận và Bình Thuận, chủ yếu theo đạo Bà La Môn (một bộ phận
nhỏ người Chăm ở đây theo đạo Islam truyền thống gọi là người Chăm
Bàni). Bộ phận thứ hai cư trú ở các đòa phương thuộc các tỉnh Châu Đốc,
Tây Ninh, An Giang, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh, chủ yếu theo
đạo Islam mới (Hồi giáo). Cũng như bao dân tộc khác, người Việt và người
Chăm khắp mọi miền đều cầu mong có một cuộc sống an lành, ấm no,
hạnh phúc và cùng nhau xây dựng Tổ Quốc giàu mạnh.
Tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lòch sử,
chúng ta sẽ hiểu rõ hơn sự ảnh hưởng qua lại giữa hai tộc người có bản sắc
văn hóa độc đáo riêng. Do nằm cạnh nhau và có chung những điều kiện tự
nhiên, lòch sử... , quá trình tương tác văn hóa đã xảy ra như một quy luật tất yếu trong nhiều lãnh vực, từ sinh hoạt vật chất,
kết cấu đời sống xã hội
đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tín ngưỡng … . Mặc dù người Đại Việt
đã chinh phục thành công lãnh thổ của Champa, nhưng chính trong quá
trình Nam tiến, mở đất đó, người Việt đã tiếp nhận nhiều yếu tố từ một
nền văn hóa giàu bản sắc của người Chăm, từ những điệu hò da diết, đến
những công trình kiến trúc nguy nga tráng lệ, những điệu múa say mê lòng
người … . Do đó, tìm hiểu quá trình giao lưu văn hóa Việt – Chăm trong lòch
sử, chúng ta sẽ đánh giá đúng đắn hơn, khách quan hơn về vai trò, vò trí

chúng tôi đã phân tích quá trình giao lưu hội nhập văn hóa Việt – Chăm
theo trình tự thời gian và trong những không gian, hoàn cảnh cụ thể nhất
đònh. Với phương pháp logic, chúng tôi đã phân tích các mối quan hệ tác
động qua lại lẫn nhau giữa văn hóa Việt và văn hóa Chăm trên nhiều lãnh
vực.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng kết quả nghiên cứu của một số
bộ môn khoa học gần gũi như khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, đòa
lý – kinh tế để hỗ trợ cho vấn đề mà luận văn nghiên cứu.
4. Ý nghóa khoa học và thực tiễn
Trước tiên, luận văn là một công trình nghiên cứu có ý nghóa khoa
học, nhằm làm sáng tỏ một vấn đề lòch sử: quá trình giao lưu hội nhập văn
hóa Việt Chăm. Bằng việc nghiên cứu, phân tích, so sánh nhiều nguồn sử
liệu khác nhau một cách nghiêm túc, chúng tôi đã cố gắng dựng lại bức
tranh lòch sử về quá trình giao lưu hội nhập văn hóa Việt Chăm một cách
chân thực và sống động. Đồng thời, luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ
thêm vấn đề vò trí, vai trò của người Chăm trong quá trình xây dựng bản
sắc văn hóa Việt Nam, và làm sáng tỏ hơn vấn đề khoa học lòch sử đang
còn nhiều tranh cãi: quá trình mở rộng không gian sinh sống của người
Việt trong lòch sử.
Bên cạnh ý nghóa khoa học, luận văn còn có ý nghóa thực tiễn sâu sắc,
đặc biệt là vấn đề đoàn kết dân tộc trong thời đại ngày nay.
Dân tộc, từ xưa đến nay, luôn là vấn đề nhạy cảm đối với sự thống
nhất quốc gia và an ninh thế giới. Liên Bang Xô Viết bò tan rã trong những
năm 90 của thế kỷ XX là do nhiều nguyên nhân, trong đó có vấn đề dân
tộc.
Nghò Quyết Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng Sản
Việt Nam họp từ ngày 18-4 đến 25-4-2006 đã khẳng đònh: “Vấn đề dân tộc


- Phan H
uy Chú (1996), Hoàng Việt Đòa Dư Chí, Nxb Thuận Hóa,
Huế. Theo tác giả: Vùng đất Thuận Hóa xưa là nước Việt Thường, thời
Hán thuộc Tượng Quận, thời Tấn thuộc Lâm p. Do những quan hệ chính
trò, quân sự và ngoại giao nên từ năm 1075 đến năm 1306 đã lần lượt được
sáp nhập vào quốc gia Đại Việt. Cũng do những mối quan hệ này mà từ
năm 1470 đến năm 1680, lãnh thổ của người Việt được mở rộng đến Bình
Thuận.
- Phan Huy Chú (1972), Lòch Triều Hiến Chương Loại Chí, Tập I, Nxb
Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn hóa, Sài Gòn. Tác giả cho rằng: Người
Việt ở Thuận Hóa giáp giới với Quảng Nam ở phía nam đã tiếp thu giống
lúa của người Chăm trong sản xuất nông nghiệp. “Phủ này (Thuận Hóa) có
ít ruộng mùa, nhiều ruộng Chiêm. Vụ Chiêm là chính mùa, vụ mùa gọi là
trái vụ, những sản vật tốt đẹp gồm các thứ gấm vóc, và chiếu cói dệt rất
tinh xảo” (tr. 439).
- Lê Quý Đôn (1964), Phủ Biên Tạp Lục, Nxb Khoa Học, Hà Nội. Tác
giả cho biết về bộ máy chính quyền của nước Đại Việt trên vùng đất
Thuận Hóa và Quảng Nam vào thế kỷ XVIII. Tác giả còn nêu lên các
nguồn tài nguyên của vùng này cùng các chế độ thuế má của nhà Nguyễn.
Cũng trên vùng đất này, người Việt đã biết tiếp thu và phát triển việc khai
thác các sản vật thiên nhiên của người Chăm như khai thác vàng, tìm kiếm
trầm hương … .
- Ngô Gia Văn Phái (1987), Hoàng Lê Nhất Thống Chí, Nxb Văn Học,
Hà Nội. Sách nêu lên sức mạnh quân sự của nước Đại Việt vào thế kỷ
XVIII, thời kỳ mà cả hai dân tộc Việt – Chăm cùng nhau đoàn kết chống ngoại xâm. Người Nam (của nước Đại Việt) lúc này hay dùng voi trong
chiến trận, khiến tướng Tôn Só Nghò của nhà Thanh trước khi mang quân

lương thực nhiều, không lo về đói rét, cho nên ít chứa sẵn, tục dân xa hoa,
kẻ só đua nhau tài giỏi. Người bốn phương ở lẫn nhau, mỗi nhà có tự có tục
riêng” (tr. 141).
- Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Tập I-II-III (2000), Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội. Sách nêu lên quá trình giao lưu và hội nhập của hai dân tộc
Việt – Chăm từ thời Bắc thuộc đến năm 1656. Nổi bật là việc trồng cây
lúa Chiêm, tôn thờ các vò thần, cách ăn mặc, các cuộc hôn nhân và đặc
biệt là công cuộc chống ngoại xâm cũng như các chủ trương chính sách của
nhà nước Đại Việt đối với người Chăm.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam Thực Lục, Tập 1, Nxb
Giáo Dục, Hà Nội. Sách cho biết: Năm 1693, chúa Nguyễn Phúc Chu đổi
nước Chiêm Thành làm trấn Thuận Thành nhưng vẫn để người Chăm cai
quản để yên lòng nhân dân. Năm 1694, khi vua Champa là Bà Tranh chết,
chúa Nguyễn Phúc Chu cho tiền và gấm vóc để hậu táng.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam Thực Lục, Tập IV, Nxb
Giáo Dục, Hà Nội. Sách cho chúng ta biết rằng, khi vương quốc Chămpa
đã trở thành một tỉnh của nước ta, thì người Chăm vẫn là một bộ phận quan
trọng không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Chính vì
vậy, năm 1836, vua Minh Mạng cho những kẻ só ở Bình Thuận đi học chữ
và tiếng nói người Chăm. - Quốc sử quán triều Nguyễn (1975), Đại Nam Thực Lục, Tập XXXIII,
Chính Biên – Đệ tứ kỷ VII, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. Sách cho rằng,
năm 1874, vua Tự Đức đã quy đònh lại tục thờ tự miếu các đế vương ở các

triều đại ở các đòa phương, vẫn tôn trọng các vò vua Chăm.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm Đònh Việt Sử Thông Giám
Cương Mục, Tập I, Nxb Giáo Dục, Hà Nội. Sách cho biết: Vào năm 1044,
nhà Lý đã lập trấn Vónh Khang và Đăng Châu trên đất Đại Việt cho người

Việt – Chăm, các tác giả cho rằng, người Chăm và người Việt có mối quan
hệ hổ tương khách quan và tất yếu trong cuộc kháng chiến chống các thế
lực phong kiến bành trướng Trung Quốc, đặc biệt là chống quân xâm lược
Nguyên Mông vào thế kỷ XIII. Thế kỷ XVIII, người Chăm đã có mặt
trong nghóa quân Tây Sơn đánh đổ chế độ phong kiến thối nát và cát cứ
của chúa Nguyễn Đàng Trong, của Lê Trònh Đàng Ngoài, góp phần đánh
tan quân Xiêm xâm lược (1784 – 1785) và quân viễn chinh nhà Thanh
(1788 – 1789). Người Chăm cũng đã cùng với các dân tộc anh em ở Việt
Nam đã đi theo Đảng Cộng Sản Việt Nam chống thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ xâm lược.
- y ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1989), Đô Thò Cổ
Việt Nam, Nxb Hà Nội. Sách đã đề cập đến đô thò cổ Hội An trước thế kỷ
XV, vào thời mà người Chăm còn tụ cư đông đúc, đã có thuyền buôn của ngoại quốc đến và thuyền buôn của họ từ đây đi ra nước ngoài. Cư dân
Việt đã đến ở rải rác ven biển hoặc làm nghề chài lưới hoặc làm ruộng.
- Các tác giả Hà Văn Tấn – Phạm Thò Tâm (1975), Cuộc Kháng Chiến
Chống Xâm Lược N
guyên Mông TK XIII, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Lương Ninh (2004), Lòch Sử Vương Quốc Champa, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội. Trong các tác phẩm của mình họ đều đề cập đến tình đoàn kết
chống phong kiến xâm lược phương Bắc của hai dân tộc Việt – Chăm từ
xa xưa trong lòch sử, quá trình hội nhập, hai nền văn hóa đã ảnh hưởng lẫn
nhau, từ kinh tế – vật chất đến xã hội – tinh thần như: chiếc áo dài, tục thờ
cúng các vò thần, kiến trúc – điêu khắc, hôn nhân.
- Phan An – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường, Võ Só Khải (2006), Lòch S

Việt Nam, Tập III, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí Minh. Theo các tác giả: Nước
Champa ban đầu có tên là Lâm p, được thành lập năm 192. Nhưng chính

hàng thế kỷ với Campuchia đã làm cho vương quốc Champa suy yếu, và sự
phục hồi rất chậm chạp” (tr. 301).
- Ngô Văn Lệ – Ngô Văn Tiệp – Nguyễn Văn D
iệu (1997), Văn Hoá
Các Dân Tộc Thiểu Số Ở Việt Nam, Nxb Giáo Dục, TP.Hồ Chí Minh. Các
tác giả cho rằng: Lớp thanh niên nam nữ người Chăm ngày nay đã quen
dùng y phục hiện đại. Trang phục truyền thống chỉ còn thấy ở những người
lớn tuổi, ở những vùng xa và trong những ngày lễ hội truyền thống. Điều
đó nói lên quá trình hội nhập của các dân tộc ở Việt Nam.
- Nguyên Ngọc (C
hủ biên) (2005), Tìm Hiểu Con Người Xứ Quảng,
Nxb Đà Nẵng. Tác giả cho rằng: Đất Quảng nguyên là xứ Amavati, trung tâm kinh tế, chính trò, văn hóa lâu đời và quan trọng nhất của Champa. Hai
đợt chuyển cư quan trọng của người Việt vào đất Quảng diễn ra vào những
năm 1470 (thời vua Lê Thánh Tông) và từ năm 1600 (thời chúa Nguyễn
Hoàng). Tác giả coi ở đất Quả
ng, đã diễn ra cuộc tiếp biến văn hóa lần thứ
ba của người Việt (lần một là với n Độ, lần hai là Trung Quốc, lần ba là
Champa), người Việt không có thái độ kỳ thò với văn hóa Chăm. “Có một
sự dung hợp tín ngưỡng rộng rãi, cởi mở của người Việt đối với văn hóa
tâm linh của người Chăm” (tr. 215).
- Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2002), Vai Trò Lòch Sử Dinh
Trấn Quảng Nam, Nxb Quảng Nam. Các tác giả cho rằng: Sự giao lưu và
gắn kết văn hóa Việt – Chă
m đã tạo nên sự đa dạng phong phú của tiểu
vùng văn hóa xứ Quảng, đặc biệt là đã tạo nên những đặc tính đã trở thành
phẩm chất của con người xứ Quảng. Cái cày trong sản xuất nông nghiệp
của người Việt ở xứ Quảng là một minh chứng cho sự cải tạo, dung nạp

Chàm để cung cấp cho các tàu buôn nước ngoài trên hành trình vượt đại
dương ghé qua Cù Lao Chàm.
- Nguyễn Thò Thanh (1998), The French Conquest Of C
ochinchina,
Ithaca, New York. Tác giả cho rằng, người Chăm là những cư dân đònh cư
sau cùng ở đồng bằng sông Cửu Long. Họ từ Thuận Hải và Phú Khánh
sang Campuchia vào những năm 1790 và 1834. Năm 1858, hàng ngàn
người Chăm từ Campuchia trở lại đònh cư ở Châu Đốc, sau đó mở rộng ra các vùng Tân Châu, Cồn Tiên và Châu Phú ở đồng bằng sông Mê Kông
của Việt Nam.
- Sharma J.C. (1992), Temples Of Champa In Viet Nam, Nxb Khoa họ
c
Xã hội, Hà Nội. Ngô Văn Doanh (2003), Thánh Đòa Mỹ Sơn, Nxb Trẻ,
TP.Hồ Chí Minh. Các tác giả mô tả nghệ thuật kiến trúc độc đáo của người
Chăm trong lòch sử, nhưng cũng chòu ảnh hưởng từ bên ngoài, trong đó có
Đại Việt.
- Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong, Nxb Trẻ, TP.Hồ Chí Minh. Đây là
một bản Luận án Tiến só viết về lòch sử kinh tế – xã hội Việt Nam ở Đàng
Trong vào thế kỷ XVII và XVIII. Tác giả cho rằng, có sự giao lưu học hỏi
lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt – Chăm, từ văn hoá vật chất đến văn hoá
tinh thần. “Tiến xuống phía Nam, người Việt ở Đàng Trong đã tiếp xúc
chặt chẽ với các dân tộc đòa phương thuộc các nền văn hoá khác biệt.
Đứng đầu trong số các dân tộc này là người Chăm. Các di dân người Việt
đã tiếp nhận và thích nghi một cách thoải mái nhiều yếu tố của nền văn
hóa Chăm trong một quá trình dài vay mượn có chọn lọc cái mới và loại bỏ
cái cũ không còn phù hợp nơi vùng đất mới” (tr. 192).
- Hà Bích Liên (2000), Quan Hệ Giữa Vương Quốc Cổ Champa Với
Các Nước Trong Khu Vực, Luận án Tiến só Lòch sử, Trường Đại học Sư
Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ CỦA ĐẠI VIỆT VÀ CHAMPA
TRƯỚC THẾ KỶ X
1.1. Nước Đại Việt giai đoạn một ngàn năm Bắc thuộc
Trên cơ sở nền văn hóa Đông Sơn, người Việt đã lập nên nhà nước
Văn Lang. Theo sử cũ và truyền thuyết, nước Văn Lang được dựng lập
cách đây hơn 4000 năm. Vò vua tổ của dân tộc Việt, người sáng lập ra nước

Văn Lang, quốc gia đầu tiên của dân tộc là vua Hùng Vương thứ nhất,
đóng đô ở Phong Châu ( Phú Thọ) (Về kinh đô của nước Văn Lang, có
nhiều sách viết khác nhau: Văn Lang, Phong Châu, Bạch Hạc), chia nước
làm 15 bộ. Nước Văn Lang đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc
đến Hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn (tức Chiêm Thành, nay là
Quảng Nam).

Những năm cuối thế kỷ III TCN, triều đại Hùng Vương bước vào
giai đoạn suy thoái. Bấy giờ bộ lạc u Việt ở phía bắc nước Văn Lang do
thủ lónh Thục Phán cầm đầu đang trong giai đoạn phát triển, đã đưa quân
đánh chiếm kinh đô Phong Châu, lật đổ triều đại Hùng Vương, thống nhất
hai bộ lạc u Việt và Lạc Việt (nước Văn Lang) thành một quốc gia mới
lấy tên là u Lạc và vương hiệu là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa
(Đông Anh – Hà Nội). Cho xây dựng thành Cổ Loa làm trung tâm chính trò
và căn cứ quân sự của quốc gia.
Năm 207 TCN (có tài liệu ghi năm 208 TCN hoặc 179 TCN), Triệu
Đà đem quân đánh lấy nước u Lạc, sáp nhập vào nước Nam Việt. Từ
mới, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh – Hà Nội).
Năm 968, Đinh Bộ Lónh lên ngôi Hoàng Đế (Đinh Tiên Hoàng), đặt
quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh đô về động Hoa Lư.
Năm 980, Lê Hoàn sáng lập triều đại Tiền Lê. Bên trong, chống cát
cứ, xây dựng cơ sở của nền kinh tế. Bên ngoài, thi hành chính sách ngoại
giao mềm dẻo khôn khéo nhưng kiên quyết bảo vệ nền độc lập của đất
nước.
1.2. Nước Champa từ cuộc khởi nghĩa Khu Liên đến vương triều Đồng Dương

“Về nguồn gốc người Chăm cũng như của các dân tộc thuộc ngữ hệ
Mã Lai – Đa Đảo ở Việt Nam đến nay trong khoa học còn tồn tại nhiều ý
kiến khác nhau. Có người cho rằng họ là con cháu của những người di cư
từ thế giới Đảo Đông Nam Á đến. Và ngược lại, có người cho rằng họ từ
các quần đảo vùng biển Nam Trung Quốc mà di cư xuống vùng đất liền
Đông Dương rồi từ đó di cư ra Hải Đảo Đông Nam Á. Và người Chăm
cùng với các dân tộc thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo ở Việt Nam chính là
đội hậu bò, là cái đuôi của đoàn quân di cư từ vùng lục đòa Đông Dương ra
vùng Hải Đảo. Cũng có người cho rằng trên đường di cư từ các quần đảo
Nam Trung Quốc xuống vùng đảo Đông Nam Á, đã có một bộ phận rẽ vào
đất Việt Nam, đó chính là người Chăm và các dân tộc Mã Lai – Đa Đảo
hiện nay ở Việt Nam. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trên vùng đất miền
Trung Việt Nam có một số di chỉ của một nền văn hóa cổ, mà sau này đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh, tên đòa điểm đầu tiên tìm ra di tích nền văn hóa
này ở Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XX
. Cho đến nay, các nhà khoa học đã
phát hiện được nhiều di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh, phân bố trên một
không gian khá rộng, từ Trò – Thiên đến Đồng Nai, từ ven núi Trường Sơn
ra miền duyên hải miền Trung. Các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh có niên đại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status