Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
MỤC LỤC
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên văn
Agribank Tên viết tắt bằng tiếng anh của Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam
BHXH Bảo hiểm xã hội
CNV Công nhân viên
KDNT Kinh doanh ngoại tệ
KD Kinh doanh
NHNo&PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHđCĐ Ngân hàng được chỉ định
NHNT Ngân hàng nhờ thu
NHPH Ngân hàng phát hành
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTB Ngân hàng thông báo
NHTH Ngân hàng thu hộ
NHXN Ngân hàng xác nhận
PGD Phòng giao dịch
TTQT Thanh toán quốc tế
TDCT Tín dụng chứng từ
TCKT Tổ chức kinh tế.
WTO Tổ chức thương mại thế giới ( World Trade Organization )
XNK Xuất nhập khẩu
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán chuyển tiền 8
năng thanh toán của khách hàng, tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển hoạt
động ngoại thương của mỗi nước.
Trước năm 1990, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ độc quyền của Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam thì nay đã trở thành một nghiệp vụ phổ biến tại nhiều Ngân hàng
thương mại, mang lại nguồn thu dịch vụ lớn, nâng cao vị thế của các Ngân hàng trong
quan hệ kinh tế quốc tế.
Ngân hàng NHNo&PTNT Việt Nam, chi nhánh Tây Hà Nội bắt đầu tham gia
cung cấp thanh toán quốc tế từ 2003 và đã bắt đầu mang lại thu nhập cho Ngân
hàng. Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh vẫn còn gặp không ít
khó khăn. Quy mô thanh toán quốc tế tại chi nhánh chưa lớn, hiệu quả thanh toán
quốc tế chưa cao, các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế chủ yếu là các nghiệp
vụ truyền thống, nhiều nghiệp vụ hiện đại chưa được áp dụng, khách hàng sử dụng
thanh toán quốc tế ít, chưa thường xuyên, các dịch vụ hỗ trợ thanh toán quốc tế
chưa phát triển. Việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh toán
quốc tế của chi nhánh là một nhu cầu bức thiết, một đòi hỏi khách quan không chỉ
đối với sự phát triển kinh tế trên địa bàn mà còn với Ban lãnh đạo Ngân hàng,
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
từng cán bộ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế .
Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
thanh toán quốc tế tại Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tây Hà Nội”
2. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến thanh toán quốc tế, hiệu quả thanh
toán quốc tế của ngân hàng thương mại.
Đánh giá thực trạng và hiệu quả thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Việt Nam,
chi nhánh Tây Hà Nội.
Trên cơ sở lý luận và đánh giá hiệu quả TTQT tại NHNo&PTNT Việt Nam, chi
nhánh Tây Hà Nội, bài viết đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi nhằm
học kĩ thuật, nguồn lực và nguồn nhân lực cũng như các yếu tố về xã hội học giữa các
quốc gia đã làm cho lợi thế giữa các quốc gia không bằng nhau và khác nhau, nước
này có lợi thế về mặt hàng này nhưng lại bất lợi về mặt hàng khác và nước khác thì
ngược lại. Để có thể tồn tại và phát triển một cách thuận lợi, các quốc gia phải tiến
hành trao đổi kinh tế và thương mại với nhau trên nguyên tắc mang cái mình có lợi thế
trao đổi lấy cái mình chưa có lợi thế với nước khác.
Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế thì bộ phận kinh
tế đối ngoại là một phần không thể thiếu trong nền kinh tế. Vấn đề trao đổi hàng hóa,
dịch vụ vượt ra khỏi biên giới quốc gia góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế
của đất nước. Và theo đó, hoạt động thanh toán quốc tế ra đời, tồn tại và phát triển. Đó
là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về
tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá
nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức
quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan.
Ngày nay, nói đến hoạt động ngoại thương là nói đến TTQT và ngược lại nói đến
TTQT là nói đến ngoại thương. Vì hoạt động TTQT được thực hiện thông qua hệ thống
ngân hàng và mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân hàng cũng như nâng cao vị thế của
ngân hàng. Do vậy, ngân hàng nào cũng cố gắng phát triển nghiệp vụ TTQT và lấy
hoạt động TTQT làm trọng tâm.
1.1.2. Vai trò thanh toán quốc tế
1.1.2.1. Vai trò đối với ngân hàng thương mại
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Thứ nhất: Giúp mở rộng thị phần kinh doanh, thu hút khách hàng, từ đó mà tăng
thu nhập cho Ngân hàng.
TTQT là một nghiệp vụ liên quan đến tài sản ngoại bảng của ngân hàng. Hoạt động
TTQT giúp ngân hàng đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng về các dịch vụ
tài chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng
nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.
Thứ năm: Hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng phân tán được rủi ro.
Kinh doanh Ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh đầy rủi ro. Đặc biệt là trong bối cảnh
hiện nay, khi mà nền kinh tế thế giới luôn có nhiều biến động, rủi ro mà ngân hàng
phải gánh chịu ngày càng nhiều: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro
thanh khoản, rủi ro quốc gia… Với viêc đa dạng hóa các hình thức kinh doanh và dịch
vụ là phương pháp tôt nhất để phân tán rủi ro trong hoạt đông kinh doanh của ngân
hàng. Lợi nhuận thu được từ hoạt động TTQT sẽ hỗ trợ cho ngân hàng khi thị trường
biến động giúp cho ngân hàng giữ vững sự ổn định.
Hoạt động TTQT có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế quốc tế của một đất
nước và cả ngân hàng. Nó là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động
kinh tế, kể từ khi chuẩn bị các bước cần thiết để sản xuất ra hàng hóa tới khi xuất khẩu
thu ngoại tệ về hay chi ngoại tệ ra để nhập khẩu hàng hóa về phục vụ sản xuất, đời
sống con người. Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung các nghiệp vụ TTQT, hoàn thiện các
quy trình nghiệp vụ kỹ thuật TTQT để xử lý phù hợp với những đặc điểm, tính chất
của nền kinh tế, của mỗi nước để ngày một nâng cao hiệu hoạt động TTQT luôn được
coi là nhiệm vụ quan trọng của các ngân hàng.
1.1.2.2. Vai trò đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu
TTQT là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hàng hóa, khép lại một chu
trình mua bán hàng hóa dịch vụ phức tạp và nhiều rủi ro. Do đó, yêu cầu đặt ra cho
TTQT phải đảm bảo an toàn cho các hợp đồng XNK, thu tiền hoặc nhận hàng đầy đủ,
đúng hợp đồng, tạo lợi nhuận trong kinh doanh.
Thông qua thực hiện TTQT với các bạn hàng nước ngoài, các doanh nghiệp kinh
doanh XNK có điều kiện nắm bắt thông tin thị trường trong và ngoài nước cũng như
hiểu biết thêm về đối tác của mình. Trên cơ sở những thông tin về thị trường, cân đối
với tiềm lực của mình,các doanh nghiệp có thể đề ra những chiến lược thích hợp, và có
những biện pháp ngăn ngừa rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
1.1.3. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế
Các thông lệ và tập quán quốc tế bao gồm: Điều kiện thương mại quốc tế
(International Commerce Terms – INCOTERMS); Quy tắc thực hành thống nhất tín
Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền)
yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác
(người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định.
b.Nội dung
Thanh toán chuyển tiền là thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người
nhận tiền. Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền và trả tiền, chỉ đóng vai trò trung gian
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
thanh toán theo ủy nhiệm để được hưởng hoa hồng, và không bị ràng buộc gì đối với
cả người mua và người bán.
Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán chuyển tiền
(1)
(2) (4)
(3)
Giải thích:
(1): Người xuất khẩu giao hàng hóa và chuyển bộ chứng tư cho người người nhập
khẩu.
(2): Người nhập khẩu kiểm tra hàng hóa – bộ chứng từ. Nếu phù hợp lập thủ tục
chuyển tiền.
(3): Ngân hàng nhận chuyển tiền lập thủ tục chuyển tiền qua ngân hàng đại lý (hoặc
chi nhánh) nhận trả tiền.
(4): Ngân hàng trả tiền – thanh toán tiền cho người thụ hưởng.
Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi Ngân hàng thanh toán hết số tiền cho người
thụ hưởng; trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của
người chuyển tiền và người này có quyền hủy lệnh chuyển tiền, mà người thụ hưởng
không thể khiếu nại gì với Ngân hàng. Như vậy, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí
của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không đảm bảo.
Có hai hình thức chuyển tiền: chuyển tiền bằng thư (mail transfsfer, M/T) và
chuyển tiền bằng điện báo (telegraphic transfeer T/T). Hình thức chuyển tiền bằng điện
phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do chính người bán lập.
Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch bên bán đã chuyển giao trực tiếp
cho bên mua, không qua ngân hàng.
Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán nhờ thu trơn
(1)
(5) (4) (2) (7)
(3)
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
8
Người mua
Ngân hàng xuất trình
Ngân hàng thu hộ
Ngân hàng nhận ủy
thác thu
Người bán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
(6)
Giải thích:
(1): Bên bán chuyển giao hàng hóa, đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng hóa
cho bên mua.
(2): Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, ủy nhiệm qua ngân hàng phục vụ
mình thu hộ tiền từ người mua.
(3): Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng phục vụ bên mua
nhờ thu tiền từ người mua.
(4): Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu kí chấp nhận hối
phiếu.
(5): Bên mua thanh toán tiền.
(6): Chuyển tiền trả qua Ngân hàng phục vụ bên bán.
(7): Thanh toán tiền cho bên bán.
Ưu điểm : Đây là phương thức thanh toán đơn giản, có thủ tục sơ sài và quyền lợi
nhờ thu tiền từ người mua.
(4): Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu kí chấp nhận hối
phiếu.
(5) Bên mua thanh toán tiền.
(6): Chuyển tiền trả qua ngân hàng phục vụ bên bán.
(7): Thanh toán tiền cho bên bán.
Trong nhờ thu kèm chứng từ người bán ủy thác cho Ngân hàng ngoài việc thu hộ
tiền còn nhờ ngân hàng khống chế chứng từ hàng hóa đối với người mua. Đây là sự
khác nhau cơ bản giưa nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. Với cách khống chế theo
bộ chứng từ này thì quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. Tuy nhiên, việc trả
tiền vẫn còn phụ thuộc vào thiện chí của người mua.
Ưu điểm
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
10
Người mua
Ngân hàng nhận ủy thác
thu
Ngân hàng xuất trình
Ngân hàng thu hộ
Người bán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Trong phương thức này, với cách khống chế theo bộ chứng từ thì quyền lợi của
người bán được đảm bảo hơn. Do đó, phương thức này đã khắc phục được nhược điểm
của nhờ thu phiếu trơn, người bán không sợ mất hàng (gắn Thanh toán quốc tế với vận
tải hàng hóa).
Trách nhiệm của ngân hàng trong phương thức này cũng cao hơn hai phương thức
trước đó là không chế người mua bằng bộ chứng từ. Tuy nhiên ngân hàng vẫn chỉ đứng
ở vai trò trung gian thu tiền hộ người bán, việc thanh toán tiền hàng vẫn còn phụ thuộc
vào thiện chí của người mua.
Nhược điểm:
(10) (9) (1) (3) (5) (6)
(4)
Giải thích:
(1): Người làm đơn yêu cầu mở L/C.
(2): NHPH mở L/C nếu chấp nhận đơn yêu cầu và chuyển tới NHTB.
(3): NHTB tiếp nhận L/C, kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C rồi thông báo
cho người thụ hưởng.
(4): Nhà XK sau khi được thông báo L/C, nếu chấp nhận sẽ tiến hành giao hàng.
(5): Sau k hi giao hàng nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C, xuất trình tới
NHđCĐ để yêu cầu thanh toán.
(6): NHđCĐ sẽ kiểm tra bộ chứng từ, nếu thầy phù hợp thì tiến hành thanh toán,
chiết khấu bộ chứng từ hoặc chấp nhận hối phiếu. Nếu bộ chứng từ không phù hợp thì
từ chối thanh toán đồng thời trả lại nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK.
(7): NHTB gửi bộ chứng từ đòi tiền NHPH.
(8): NHPH kiểm tra bộ chứng từ để quyết định thanh toán hay từ chối trả tiền.
(9): NHPH thông báo chứng từ cho nhà NK.
(10): Nhà NK là thủ tục thanh toán và nhận chứng từ hoặc từ chối chứng từ phụ
thuộc vào chất lượng của bộ chứng từ do NHPH chuyển giao
Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, không
dựa trên hàng hóa hoặc dịch vụ.
L/C phải được chỉ rõ là hủy ngang hay không hủy ngang, nếu không nêu rõ thì L/C
này sẽ được coi là không hủy ngang.
Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu:
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
12
NHPH
(Issuing Bank)
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người yêu cầu
- Người mua sẽ chịu hoàn toàn thiệt hại nếu bộ chứng từ bị làm giả.
- Chi phí cho phương thức này còn cao
- Nếu nhà nhập khẩu không đáp ứng được các quy định của L/C thì việc
thanh toán có thể bị trì hoãn, có khi bị từ chối thanh toán.
Tóm lại, phương thức thanh toán này vẫn còn nhiều phức tạp, đòi hỏi các bên tham
gia phải có trình độ nghiệp vụ cao trong việc mở L/C và lập bộ chứng từ hoàn hảo.
e. Trường hợp áp dụng
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Phương thức này được áp dụng cho hai bên mua bán mới quan hệ lần đầu hoặc còn
chưa tín nhiệm lẫn nhau.
Tóm lại, trong ba phương thức thanh toán trên thì phương thức chuyển tiền và nhờ thu
là hai phương thức chứa đựng nhiều rủi ro cho nhà xuất khẩu và nhập khẩu, vai trò của
ngân hàng chỉ là người trung gian thanh toán, không chịu bất cứ rủi ro nào cho việc chậm
thanh toán. Còn phương thức tín dụng chứng từ rủi ro được chuyển từ nhà nhập khẩu và
xuất khẩu một phần sang cho ngân hàng nê được sử dụng phổ biến trong TTQT.
1.2. Hiệu quả thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm hiệu quả thanh toán quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường, yêu cầu về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM
là hiệu quả và giảm thiểu rủi ro. Một hệ thống TTQT hiệu quả là nền tảng cho lĩnh vực
thanh toán Ngân hàng. Hiệu quả hoạt động TTQT của NHTM là yêu cầu cần thiết để
thu hút các đối tượng tham gia. Hiệu quả đó được thể hiện ở thời gian thanh toán, độ
tin cậy và chi phí giao dịch cho một thanh toán.
Thời gian thanh toán: là khoảng thời gian kể từ khi chỉ định thanh toán được
đưa ra cho đến khi các chủ thể tham gia nhận đủ tiền trên tài khoản. Thời gian dài hay
ngắn có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn.
Chi phí giao dịch thanh toán: không chỉ đơn giản là chi phí mà người sử dụng
dịch vụ phải thanh toán khi sử dụng dịch vụ mà còn có ý nghĩa rộng hơn là sự so sánh
giữa chi phí mà người thanh toán phải chịu với những gì mà người đó được hưởng.
Đối với nhà nhập khẩu, khi cần nhập khẩu một khối lượng hàng hóa cần thiết
nhưng chưa có đủ năng lực tài chính để thực hiện hoạt động đó, lúc này nhà nhập khẩu
sẽ đến ngân hàng xin vay. Ngân hàng khi đó sẽ là người cung cấp nguồn tài chính cần
thiết cho nhà nhập khẩu trên cơ sở các điều kiện cần thiết được thỏa thuận.
Đối với nhà xuất khẩu, khi thị trường hàng hóa đòi hỏi cạnh tranh tích cực, nhà
xuất khẩu buộc phải tìm kiếm nguồn đầu tư để thực hiện hợp đồng của mình, lúc này
ngân hàng sẽ đóng vai trò là người cung cấp nguồn tài chính cho nhà xuất khẩu.
Khi ngân hàng cho doanh nghiệp XNK vay, ngân hàng sẽ thu lãi trên khoản tiền đã
cho vay này. Sự hợp nhất giữa ngân hàng và nhà XNK sẽ tạo điều kiện nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng XNK, đưa hoạt động XNK trở thanh một đòn bẩy kích thích sự
phát triển của nền kinh tế.
Chỉ tiêu thứ hai: Tăng cường và hỗ trợ nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TTQT, ngân hàng bán ngoại tệ cho các khách
hàng có nhu cầu mua ngoại tệ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu, hoặc mua ngoại tệ
của khách hàng khi khách hàng có nguồn thu từ xuất khẩu hàng hóa. Khi nghiệp vụ
thanh toán hàng XNK qua ngân hàng càng phát triển thì sẽ càng tạo điều kiện cho ngân
hàng phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tăng doanh thu dịch vụ và nâng cao
hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Như vậy, chỉ tiêu này được đánh giá thông qua tỉ
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
trọng doanh thu từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ ba: Đảm bảo nguồn vốn ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu thanh toán
của khách hàng
Đối với chỉ tiêu này cần đề cập đến mối quan hệ giữa doanh thu TTQT và số dư
tiền gửi ngoại tệ tại Ngân hàng, hay doanh số TTQT và số dư tiền gửi ngoại tệ của các
tổ chức kinh tế. Khi thực hiện nghiệp vụ TTQT, mọi nguồn thu hoặc chi ngoại tệ để
thanh toán cho các Ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng phải thực hiện qua tài khoản
NOSTRO – tài khoản tiền gửi ngoại tệ của ngân hàng tại nước ngoài. Hoạt động TTQT
càng phát triển thì doanh số giao dịch qua tài khoản NOSTRO sẽ ngày càng nhiều. Đặc
thứ bậc xếp hạng hoặc các giải thưởng do tổ chức quốc tế có uy tín trao tặng. Thương
hiệu của ngân hàng ngày càng được nhiều người biết đến, và khách hàng ngày càng hài
lòng với ngân hàng. Đồng thời không ngừng gia tăng khách hàng mới và khách hàng
tiềm năng. Chính sự hài lòng, thỏa mãn về tiện ích, chất lượng phục vụ, thái độ giao
dịch, tính an toàn của các sản phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp sẽ tạo nên mối
quan hệ hiệu quả với khách hàng.
Chỉ tiêu thứ sáu: Tăng cường các dịch vụ hỗ trợ Ngân hàng khác (bảo lãnh,
chiết khấu hối phiếu, bao thanh toán…)
Trong hoạt động TTQT, NHTM không chỉ thực hiện chức năng trung gian thanh
toán giữa các bên mà còn cung cấp một số dịch vụ hỗ trợ khác như bảo lãnh, chiết
khấu hối phiếu, bao thanh toán,… Từ đó ngân hàng có thể mở rộng hoạt động kinh
doanh của mình.
Đối với chỉ tiêu này thì chúng ta sẽ lượng hóa tỉ trọng của doanh thu từ các dịch vụ
hỗ trợ hoạt động TTQT với doanh thu TTQT.
Như vậy có thể nói hoạt động TTQT phát triển sẽ kéo theo sự phát triển của các
hoạt động khác của ngân hàng. Ngược lại sự phát triển của các hoạt động khác của
ngân hàng sẽ góp phần hoàn thiện bộ máy TTQT tại NHTM.
1.2.2.2. Chỉ tiêu định lượng
a. Nhóm chỉ tiêu tuyệt đối
Chỉ tiêu thứ nhất: Hiệu quả TTQT được đánh giá qua doanh thu từ hoạt động
TTQT
Khi thực hiện các yêu cầu của khách hàng có liên quan đến TTQT, ngân hàng thu
được một mức phí nhất định theo biểu phí dịch vụ của ngân hàng đối với từng nghiệp
vụ cụ thể như: phí mở L/C, phí nhận và xử lý các khoản ủy thác thu, phí thanh toán
nhờ thu, phí thanh toán chuyển tiền,… Khi các mặt hoạt động này càng phát triển thi
hiệu quả mang lại càng lớn, càng góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh của NTHM.
Bên cạnh hoa hồng và các khoản phí thu được, ngân hàng có thể thu được lợi nhuận từ
hoạt động kinh doanh ngoại tệ hoặc chuyển đổi ngoại tệ.
Chỉ tiêu thứ hai: Chỉ tiêu lợi nhuận ròng từ hoạt động TTQT
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
Tỉ lệ này càng cao thì hoạt động TTQT càng hiệu quả.
Chỉ tiêu thứ hai: Chỉ tiêu “doanh thu TTQT trên chi phí TTQT”
Doanh thu TTQT
Tỷ lệ giữa doanh thu TTQT so với chi phí TTQT =
Chi phí TTQT
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí phải bỏ ra thu được mấy đồng doanh thu.
Hay chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời trên một đồng chi phí mà Ngân hàng bỏ ra
để thực hiện hoạt động TTQT. Tỉ lệ này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Chỉ tiêu thứ ba: chỉ tiêu “lợi nhuận ròng từ hoạt động TTQT trên lãi kinh doanh
ngân hàng”
Lợi nhuận TTQT
=
Lãi kinh doanh ngân hàng
Tỷ lệ này cho biết trong một đồng lãi của ngân hàng thu được có bao nhiêu đồng lợi
nhuận do hoạt động TTQT mang lại.
Tỷ lệ này càng cao thì hiệu quả TTQT càng tốt.
Chỉ tiêu thứ tư: Chỉ tiêu “ doanh thu TTQT trên tổng tài sản của ngân hàng”
Doanh thu TTQT
=
Tổng tài sản của ngân hàng
Chỉ tiêu này đánh giá được khả năng sinh lời của tổng tài sản. Cứ một đồng tài sản
thì thu được bao nhiêu đồng doanh thu TTQT.
Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả TTQT càng cao.
Chỉ tiêu thứ năm: Chỉ tiêu “ doanh thu TTQT trên tổng số cán bộ TTQT”
Doanh thu TTQT
=
Tổng số cán bộ TTQT
thương sẽ làm phát sinh nhiều nhu cầu thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền tệ của quốc gia
này đối với quốc gia khác. Đây chính là điều kiện để phát triển và mở rộng hoạt động
thanh toán quốc tế của NHTM, để từ đó mà nâng cao hiệu quả của họat động này.
b. Các chính sách vĩ mô của nhà nước
Đây là một yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, các khách hàng của Ngân hàng và ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của NHTM.
Chính sách kinh tế đối ngoại: Chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia
bao gồm các chính sách thương mại quốc tế (chính sách ngoại thương), các chính sách
đầu tư nước ngoài, các chính sách cán cân thanh toán quốc tế…. Việc đưa ra các định
hướng mang tính chiến lược là bảo hộ mậu dịch hay tự do hoá mậu dịch; thu hút, đẩy
mạnh hay hạn chế đầu tư; các chính sách nhằm thay đổi tỉ trọng cán cân thanh toán quốc
tế có ảnh hưởng lớn đến hành vi của các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến sự sôi động hay
trầm lắng của hoạt động TTQT. Sự lựa chọn chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
20
Tỷ lệ giữa số vụ khiếu nại so với
số món thanh toán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: TS. Đặng Ngọc Đức
nếu thiên về xu hướng đóng cửa nến kinh tế sẽ gây khó khăn cản trở hoạt động ngoại
thương, ngược lại nếu thiên về xu hướng tự do hoá mậu dịch, mở cửa nền kinh tế sẽ tạo
điều kiện cho ngoại thương phát triển, qua đó thúc đẩy hoạt động TTQT phát triển.
Chính sách quản lí ngoại hối của Ngân hàng Trung ương : Ngoài việc chịu
trách nhiệm trong việc phát hành tiền tệ, quản lí và điều tiết sự vận động của tiền tệ,
cân bằng cán cân thanh toán, NHTW còn thực hiện các chính sách quản lí ngoại hối để
can thiệp vào thị trường ngoại hối để bình ổn đồng tiền bản xứ so với đồng tiền nước
ngoài. NHTW thực hiện quản lí ngoại hối thông qua việc đề ra các chính sách kiểm
soát luồng vận động vào ra của ngoại hối và trạng thái ngoại tệ của các tổ chức tín
dụng. Căn cứ vào tình hình cụ thể và những biến động trên thị trường mà Nhà nước áp
dụng các chính sách quản lí ngoại hối tự do hay thắt chặt nhằm hướng sự vận động của
đến tự do hoá thương mại, đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó
ảnh hưởng đến quá trình thanh toán. Những thay đổi về cơ chế, chính sách của một
quốc gia như thay đổi những quy định về dự trữ ngoại hối, quy định về thuế, phí xuất
nhập khẩu hoặc đơn giản là môi trường pháp lý, nền kinh tế của một quốc gia chưa ổn
định và thường xuyên thay đổi khiến cho các bên đối tác không dự đoán trước được
tình hình làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán, vì vậy gây thiệt hại cho các bên
tham gia, trong đó có NHTM.
d. Môi trường pháp lí
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào vượt ra ngoài biên giới một quốc gia sẽ phải tuân
thủ hai loại luật pháp là luật trong nước và luật của nơi tiến hành hoạt động kinh
doanh. Hoạt động TTQT tại NHTM không những chịu sự chi phối với các cơ chế,
chính sách, pháp luật trong nước và quốc tế mà còn phải tuân thủ theo những quy tắc,
chuẩn mực quốc tế, thông lệ quốc tế của từng loại nghiệp vụ phát sinh. Một môi trường
pháp lý đồng bộ, toàn diện, và phù hợp cùng với hệ thống luật pháp quốc tế thống nhất
sẽ tạo điều kiện cho hoạt động của các doanh nghiệp XNK thuận lợi dẫn đến nâng cao
hiệu quả TTQT của ngân hàng.
e. Sự ổn định của đồng tiền thanh toán
Sự ổn định của đồng ngoại tệ được chọn làm đồng tiền thanh toán có ảnh hưởng rất
lớn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh XNK. Nếu đồng tiền
thanh toán bị mất giá thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác xuất khẩu rất lớn.
Ngược lại, nếu đồng tiền thanh toán tăng giá thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của các
mặt hàng nhập khẩu của doanh nghiệp.
f. Các yếu tố về phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, khách hàng là yếu tố quyết định sự sống còn của
Ngân hàng nói chung và của hoạt động TTQT nói riêng. Nếu Ngân hàng có thể thu hút
một lượng lớn khách hàng thường xuyên có hoạt đông kinh doanh XNK thì sẽ tạo điều
SV: Trần Thị Huyền Trang – Tài chính quốc tế 49
22