Báo cáo " So sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ: Pháp và Việt " - Pdf 12

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261
247
So sánh cách biểu đạt ý nghĩa bị động trong hai ngôn ngữ:
Pháp và Việt
Đinh Hồng Vân*

Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHQGHN,
Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 10 tháng 11 năm 2007
Tóm tắt. Kết quả nghiên cứu t-rên lý thuyết cũng như khảo sát ngữ liệu cho thấy ở cả hai ngôn ngữ
Pháp và Việt đều có những phương tiện biểu đạt ý nghĩa bị động với những đặc thù riêng của mỗi
ngôn ngữ. Việc thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng Pháp phổ biến hơn trong tiếng Việt. Tuy nhiên,
lối nói tiếp thụ-bị
động hay nói cách khác là việc xử dụng các cấu trúc để biểu đạt ý nghĩa bị động
đang có xu hướng gia tăng trong tiếng Việt và đi kèm với xu hướng này là sự xuất hiện của một số
cấu trúc mới được dùng để thể hiện ý nghĩa bị động. Nguyên nhân có thể là do ảnh hưởng của giao
thoa ngôn ngữ qua tiếp xúc và dịch thuật. Một trong những biện pháp có thể giảm bớt khó khăn
của người Việt Nam học tiếng Pháp khi phải sử dụng dạng bị động là tăng cường việc hướng dẫn
người học chủ động so sánh đối chiếu dạng bị động tiếng Pháp với lối nói tiếp thụ-bị động tiếng Việt.
1. Đặt vấn đề
*

Theo các nhà nghiên cứu, ý nghĩa bị động
tồn tại ở hầu hết các ngôn ngữ, sự khác biệt là
ở cách biểu đạt ý nghĩa này. Một trong những
phương tiện thường được sử dụng để biểu
đạt ý nghĩa bị động là dạng bị động. Đối với
các ngôn ngữ châu Âu thì dạng bị động là
một hiện tượng quen thuộc nhưng cho đến
hiện nay vẫn còn có nhiề
u quan niệm khác

Pháp sang tiếng Việt để có thể tìm hiểu về
những phương tiện tương đương cho phép
chuyển dạng bị động từ tiếng Pháp sang
tiếng Việt.
2. Những quan niệm chung về dạng bị động
Dạng là gì? Theo quan niệm chung, dạng
là một phạm trù được dùng trong việc mô tả
cấu trúc câu hoặc mệnh đề chủ yếu liên quan
đến động từ, để thể hiện cách mà các câu có
th
ể lựa chọn mối quan hệ giữa chủ ngữ và bổ
ngữ của động từ, mà không làm thay đổi
nghĩa của câu. Phạm trù dạng được thể hiện
bằng những hình thức khác nhau tùy theo
từng ngôn ngữ. Chẳng hạn như ở tiếng La-
tinh, dạng được thể hiện bằng hình thái của
động từ. Ví dụ như với động từ "yêu,
thương", cùng được chia ở
thức chỉ định, thì
hiện tại nhưng có hình thức khác nhau ở
dạng chủ động và ở dạng bị động :
Dạng chủ động Dạng bị động
amo amor
amas amaris
amat amatur
amamus amamur
amatis amamini
amant amantur
Trong khi đó ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh
thì lại không có hình thái riêng biệt cho dạng

tiếng Pháp. Trong ngữ pháp ngữ pháp cải
biến-tạo sinh, dạng bị động được coi là một
hiện tượng ngữ pháp phổ quát gắn liền với
phép cải biến bị động hay quá trình bị động
hóa. N. Chomsky [2, p.88] câu bị động là kết
quả của sự cải biến từ các câu chủ động
tương ứng. Theo quan niệm loại hình học cú
pháp thì dạng bị độ
ng gắn liền với sự phân
biệt về loại hình học cú pháp điển hình giữa
các ngôn ngữ "thiên chủ ngữ" và các ngôn
ngữ "thiên chủ đề". Sự phân biệt này do Ch.
N. Li và S. A. Thompson [3] đề ra lần đầu tiên
năm 1976 trong công trình "Subject and topic: a
new typology of language". Theo các tác giả này,
bị động là một hiện tượng ngữ pháp điển
hình của ngôn ngữ thiên chủ ngữ. Ngữ pháp
ngữ nghĩa - chức năng muốn kết hợp cả
hai
cách quan niệm của ngữ pháp cải biến -tạo
sinh và loại hình học cú pháp để phân tích
hiện tượng bị động. Các tác giả thuộc trường
phái này (Givón, Dixon, Palmer) cho rằng bị
động là một hiện tượng ngữ pháp vừa có tính
phổ quát vừa có tính loại hình: tính phổ quát
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

249
được thể hiện qua các đặc điểm ngữ nghĩa-
chức năng của dạng bị động, còn tính loại

định nghĩa khác nhau về dạng bị động dựa
trên: nghĩa; hình thái; cú pháp; cả nghĩa lẫn
hình thái; cả hình thái lẫn cú pháp.
3.1. Định nghĩa dựa trên ngữ nghĩa
Các nhà ngữ pháp thường đối lập dạng
chủ động, khi chủ ngữ thực hiện hành động,
với dạng bị động, khi chủ ngữ chị
u sự tác
động của hành động. Theo R. L. Wagner et J.
Pinchon [4, p. 46]: "Dạng bị động là dạng có chủ
ngữ của động từ thể hiện đối tượng của hành
động (tức là bổ ngữ chỉ đối tượng ở dạng chủ
động)". Cách định nghĩa này đã bị phê phán
từ lâu, vả lại chính các tác giả thuộc trường
phái này cũng đã chỉ ra những hạn chế của
nó. Họ
cho rằng cách định nghĩa này chỉ để
đối lập các nghĩa khác nhau của bản thân một
động từ.
3.2. Định nghĩa dựa trên hình thái
Dạng bị động được coi là một dạng thức
của động từ và được đối lập với dạng chủ
động. Theo G. MAUGER, một tác giả tiêu
biểu của cách định nghĩa này: "Tiếng Pháp
không có dạng bị động đặc thù. Chính sự kết hợ
p
của trợ động từ être với phân từ quá khứ đóng
vai trò của dạng bị động." [1], p. 199]. Thực
chất, quan niệm này chỉ xét trên phương diện
thuần tuý hình thức, cơ bản dựa vào phép

phạm trù ngữ pháp, gắn liền với động từ, vừa
là một kiểu cấu trúc cú pháp. Ông lấy câu hạt
nhân gồm một danh ngữ (SN
1) và một động
ngữ (SV) gồm một động từ một danh ngữ
(SN
2) làm cơ sở: "Phép cải biến bị động có chức
năng cơ bản là đảo ngược trật tự của các danh
ngữ mà vẫn giữ nguyên vai trò của chúng trên
bình diện nghĩa. Phép cải biến bị động thay đổi
chức năng ngữ pháp của SN
1 nhưng không làm
ảnh hưởng tới vai trò tác thể của nó."
3.4. Định nghĩa dựa trên cả ngữ nghĩa lẫn hình thái
E. A. Referovskaïa và A. K. Vassilieva [6],
p.183] cho rằng: "Hệ liên tưởng của dạng bị
động là các tổ hợp phức, gọi là "phân tích tính".
Các tổ hợp này được hình thành dựa trên các
"thời" của trợ động từ être và phân từ quá khứ
của động từ cần chia… Các dạng thức bị động
được sử
dụng để chỉ ra rằng chủ ngữ của câu chịu
đựng tác động của hành động…". Ngay cả khi
hai tiêu chí này không được kết hợp với nhau
một cách tường minh trong định nghĩa về
dạng bị động dựa trên ngữ nghĩa thì sự kết
hợp này vẫn hàm ẩn trong các ví dụ: ngoài sự
đối lập liên quan đến chủ ngữ của câu, một
bên chính chủ ngữ là chủ thể hành động, m
ột

4.1. Dạng bị động nhìn từ phương diện cấu trúc
hình thức
Dạng bị động đã được tất cả các nhà ngữ
pháp đề cập đến và tất nhiên là nó được
giảng dạy một cách có hệ thống ở mọi
chương trình. Tuy nhiên, hiện tượng ngữ
pháp này của tiếng Pháp không đơn giản như
đã được giới thiệu trong các giáo trình:
- Không phải lúc nào chính các chủ ngữ
và bổ ngữ đối tượng của câu chủ động xuất
hiện lại ở trong câu bị động dưới hình thức
ban đầu của chúng. Chẳng hạn: "du lait - sữa"
trong câu "Les chats boivent du lait (Những con
mèo uống sữa) không thể xuất hiện lại y
nguyên như vậy trong câu bị động: "* Du lait est
bu par les chats (*Sữa bị uống bởi những con mèo).
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

251
- Hoặc như đại từ chủ ngữ "Je" của câu
chủ động "J'ai vu ce film" (Tôi đã xem phim
này." khó có thể trở thành bổ ngữ chỉ tác nhân
trong câu bị động "*Ce film a été vu par moi"
(*Phim này đã được xem bởi tôi).
- Trong một số trường hợp, không phải là
chủ thể hành động xuất hiện trở lại dưới
dạng bổ ngữ chỉ tác nhân mà là một bổ ngữ
chỉ địa đ
iểm: "La bouteille contenait ces objets"
(Cái chai đựng những vật này). "Ces objets

bất cập. Trước tiên, để bảo đảm tính nhất
quán, người ta chỉ có thể nói về hình thái học
khi đề cập đến những sự thay đổi về hình
thức của một từ. Còn đối vớ
i những dạng
phức hợp của động từ, dù là chủ động hay bị
động thì, về mặt nguyên tắc, chúng phải
được xếp vào lĩnh vực cú pháp. Mặt khác,
nếu chỉ thuần tuý thay một động từ chủ động
bằng một động từ bị động, thì chưa đủ để
biến một câu chủ động thành một câu bị
động vì nếu không có sự thay đổi về ch
ủ ngữ
thì có khi giữa những câu thu được sẽ xuất
hiện một quan hệ trái nghĩa chứ không phải
là quan hệ đồng nghĩa:
- Le roi a chaleureusement salué le Premier
ministre.
- Le roi a été chaleureusement salué par le
Premier ministre.
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng câu thứ
hai là một câu bị động nhờ vào ngữ động từ,
nhưng đó không phải là câu bị động của câu
thứ nhất. Như vậy ta có thể khẳng định rằng
nếu chỉ dự
a vào dạng thức của động từ
không thôi thì chưa đủ để chúng ta đem đối
lập một câu chủ động với một câu bị động.
4.1.2. Sự hoán đổi vị trí giữa chủ ngữ và bổ
ngữ của động từ

ng được kể
đến nhiều nhất khi nói đến bổ ngữ chỉ tác
nhân đó là PAR và DE. Tuy nhiên, theo nhiều
tác giả thì còn có một số giới từ khác cũng
được sử dụng để đánh dấu bổ ngữ chỉ tác
nhân trong câu bị động như à, avec, entre,
dans. Song các dẫn chứng về khả năng đánh
dấu bổ ngữ chỉ tác nhân của các giới từ này
đều không có sức thuyế
t phục. Ví dụ như giới
từ "à" được kể đến như một giới từ được
dùng để đánh dấu bổ ngữ chỉ tác nhân.
Nhưng ngoài trường hợp "mangé aux mites,
aux vers, etc. - bị mối ăn" đã được M. Grévisse
[8] nêu ra trong cuốn Le Bon Usage thì hầu
như không có một ví dụ nào khác cho việc
dùng giới từ này trong thành phần bổ ngữ chỉ
tác nhân nữa. Vậy, chừng nào ch
ưa tìm được
câu bị động sử dụng giới từ "à", ngoài một số
câu "kinh điển" thì chừng đó chưa nên đưa
"à" vào danh sách các giới từ có thể được sử
dụng để dẫn nhập bổ ngữ chỉ tác nhân vào
trong cấu trúc bị động hoặc nếu có thì cũng
nên nói rõ rằng đây là một trường hợp ngoại
lệ, mang phong cách cá nhân.
Kết quả phân tích về mứ
c độ sử dụng hai
giới từ "par" và "de" cho thấy nhìn chung là
"par" được sử dụng nhiều hơn "de" để đánh

n lược đó có thể là phân từ
quá khứ bị động mang các dấu hiệu về giống
số của danh từ mà nó bổ nghĩa; ở mức độ cao
nhất là câu bị động. Một cấu trúc bị động đầy
đủ bao gồm bốn thành tố: một chủ ngữ ngữ
pháp, động từ "être", một phân từ quá khứ, và
có thể một bổ ngữ gián tiếp hoặc mộ
t trạng
ngữ hay một bổ ngữ chỉ tác nhân, một yếu tố
có thể bị tỉnh lược. Các thành tố này có thể
được biểu thị trong mô hình sau :
PPR = SN
2 + être + PPP + par SN1
Trong đó PPR là mệnh đề bị động, par
SN1 là bổ ngữ chỉ tác nhân, SN2 là chủ ngữ
ngữ pháp, PPP là phân từ quá khứ bị động.
Từ công thức điển hình của dạng bị động
hoàn chỉnh này, trên thực tế, sự kết hợp của
các thành tố là rất đa dạng. Trong ngữ liệu có
các cấu trúc bị động sau :
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

253
FF1: "être + pp" không có tác thể
FF2: "être + pp + PAR + tác thể"
FF3: "être + pp + DE + tác thể"
FF4: Cấu trúc bị động có PP nhưng không
có động từ "être"
FF5: Cấu trúc bị động với động từ phản
thân

FF4 290 47,54% 95 39,74% 363 41,83% 2 11,11% 750 43,35%
FF5 62 10,16% 4 1,67% 121 14,02% 1 5,55% 188 10,86%
FF6 22 3,60% 8 0,92% 30 1,73%
FF7 15 2,45% 7 2,92% 1 0,11% 23 1,33%
610 12,44% 239 69,47% 863 30,70% 18 3,55% 1.730
4.2. Dạng bị động nhìn từ phương diện ngữ nghĩa
4.2.1. Vấn đề đồng nghĩa giữa câu bị động và
câu chủ động
Thường thì các nhà nghiên cứu cho rằng
chỉ có thể kết luận một câu nào đó là bị động
nếu có một câu chủ động tương ứng với nó.
Tuy nhiên, ở một số trường hợp trong tiếng
Pháp, khó có thể biết đó là câu bị động hay
không vì có s
ự lẫn lộn giữa phân từ quá khứ
bị động với tính từ; ví dụ :
1 - L'enfant était lié/attaché à sa mère. (Đứa
bé bện/gắn bó với mẹ nó).
2 - On avait lié/attaché l'enfant à sa mère.
(Người ta đã buộc/trói đứa bé vào mẹ nó).
3 - L'enfant avait été lié/attaché à sa mère.
(Đứa bé đã bị buộc/trói vào mẹ nó).
Rõ ràng là giữa câu 1 và câu 2 không hề
có một sự đồng nghĩa nào: câu 1 không hề
mang ý nghĩa vật lý ("trói/buộc") của câu 2.
Nếu như chúng ta muốn giữ nguyên nội
dung thông tin về các mặt thờ
i - thể của câu 2
thì phải công nhận là chỉ có câu 3 là câu bị
động tương ứng của câu 2. Thực vậy, động từ

dạng chưa hoàn thành. Trong khi đó, câu bị
động tương ứng lại có một động từ ở dạng
phứ
c hợp (forme composée), ấy vậy mà dạng
này lại thường được coi như là để thể hiện
các sự việc đã kết thúc. Điều này lại càng
đúng đối với những câu bị động không có bổ
ngữ chỉ tác nhân hoặc bổ ngữ tình huống.
Chẳng hạn như rõ ràng là hai câu sau đây
không có chung một ý nghĩa :
- On ferme la porte (Người ta đóng cửa)
- La porte est fermée (Cửa đóng)
Sự đối lậ
p thể hoàn thành - thể không
hoàn thành có thể được mô tả như là sự đối
lập giữa một tiến trình với kết quả của tiến
trình đó. Như vậy là phải lựa chọn một trong
hai giải pháp đặt ra với câu "La porte est
fermée":
+ Nếu đây được coi là một câu bị động do
hình thức động từ thì hệ quả sẽ là không nhất
thiết phải có sự đồng nghĩa gi
ữa hai câu chủ
động và bị động;
+ Hoặc ngược lại, nếu sự đồng nghĩa là
một tiêu chí để định nghĩa cho dạng bị động
thì đây không phải là câu bị động.
Đôi khi, sự xuất hiện của các từ chỉ lượng
có thể phá vỡ sự đồng nghĩa giữa câu chủ
động và bị động tương ứng. Ví dụ "Marie n'a

trong câu bị động bị biế
n đổi do tác động của
hành động. Tuy nhiên những động từ như
"aimer" được dùng ở dạng bị động thì khó có
thể nói là chủ ngữ bị động bị biến đổi do tác
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

255
động của hành động, vì chủ ngữ đó là nguồn
của trạng thái tâm lý.
Với những phân tích trên đây, dạng bị
động được định nghĩa như sau: "Trong tiếng
Pháp, dạng bị động được cấu tạo bằng một phân
từ quá khứ mà chủ ngữ không phải là chủ thể
hành động và có thể được kết nối với chủ ngữ
bằng động từ "être" mang nội dung ý ngh
ĩa thời-
thể." Định nghĩa này có thể giúp giải quyết
được những vấn đề bất cập đã được nêu ra
trên đây.
Tóm lại, việc một động từ ngoại động trực
tiếp có thể dùng được ở dạng bị động hay
không phải được xét trong một phạm vi lớn
hơn, chứ không phải riêng trong bản thân
động từ. Nhiều khi, khả năng này có thể đượ
c
lý giải bằng "sự tương hợp ngữ nghĩa" giữa
động từ, chủ ngữ và bổ ngữ, tức là trên bình
diện toàn câu.
5. Việc diễn đạt ý nghĩa bị động trong tiếng

t luận
được rằng đó là ba từ: - Thứ nhất, dùng để diễn
đạt ý nghĩa tiếp thụ; - Thứ hai, dùng để diễn đạt ý
nghĩa tình thái.” [11]. Trong cuốn “Ngữ pháp
tiếng Việt - từ loại”, Đinh Văn Đức cho rằng:
“Trong số các động từ tiếng Việt có một nhóm
những động từ kiểu như: cần, muốn, có thể, toan,
định, dám, bị, được rõ ràng là những động t

trống nghĩa. Ở chúng các ý nghĩa từ vựng là rất
ít, chúng đã được ngữ pháp hoá nhưng lại chưa
trở thành những từ thực sự, những động từ này
có nội hàm rất hẹp nên ngoại diên phải rộng
Trong khi diễn đạt các ý nghĩa: yêu cầu (cần), khả
năng (có thể), ý định (toan, định, dám), nguyện
vọng (mong, muốn), quan hệ bị động (bị, được)
các độ
ng từ này được sử dụng hoàn toàn theo
cách đánh giá của người nói đối với thực tại. Đó
là một quan hệ thể hiện nhận thức chủ quan: khi
ta nói: "Tôi được khen" hay "Tôi bị phạt" thì các
từ "được" "bị", một mặt là phương tiện diễn đạt
ý nghĩa ngữ pháp bị động nhưng bị động ở đây có
thể được hiểu theo sắc thái "may" hay "rủi", mà
"may" hay "rủi" là theo nhậ
n thức và đánh giá
của người nói- do đó bị và được cũng lâm thời trở
thành những từ tình thái ” [12], tr.139].
Các tác giả Nguyễn Hồng Cổn và Bùi Thị
Diên [13] cũng cho rằng: "[…] trong các ngôn

Ba đánh Nam. Nam bị Ba đánh.
Gió lay đổ bụi cây. Bụi cây bị gió lay đổ.
5.2. Về cấu trúc hình thức
Câu thể hiện ý nghĩa bị động trong tiếng
Việt có cấu trúc hình thức như sau :
- Chủ ngữ: chủ ngữ của câu thể hiện ý
nghĩa bị động chính là bổ ngữ trực tiếp của
câu chủ động tương ứng.
Ví dụ:
Câu chủ động Câu bị động
Thầy giáo phạt học sinh. Học sinh bị thầy giáo phạt.
- Động từ: trong câu thể hiện ý nghĩa bị
động, động từ chính là tổ hợp của một trong
hai từ bị, được với ngoại động từ tương ứng
trong câu chủ động.
Câu chủ động Câu bị động
Thầy giáo phạt học sinh. Học sinh bị thầy giáo phạt.
- Bổ ngữ chỉ tác nhân: bổ ngữ chỉ tác
nhân của câu thể hiện ý nghĩa bị động chính
là chủ ngữ trong câu chủ động tương ứng và
có thể bị lược bỏ, điều này hoàn toàn trùng
hợp với bản chất của câu bị động của các
ngôn ngữ phương Tây.
Câu chủ động Câu bị động
Thầy giáo phạt học sinh. Học sinh bị phạt.
- Trong cấu trúc của một số câu thể hiện ý
nghĩa bị động của tiếng Việt, có xuất hiện từ
“bởi”. Từ này nếu xuất hiện thì sẽ đứng giữa
động từ và bổ ngữ chỉ tác nhân.
Ví dụ:

cả là 2.634 câu trong đó có 425 câu thể hiện ý
nghĩa bị động. Có thể chia các cấu trúc bị động
trong ngữ liệu theo các loại cơ bản như sau:
VF1: SN
2 + được + V
VF2: SN
2 + được + SN1 + V
VF3: SN
2 + bị + V
VF4: SN
2 + bị + SN1 + V
VF5: SN
2 + được + V + bởi + SN1
VF6: SN
2 + bị + V + bởi + SN1
VF7: khuyết thiếu "bị/được"
Tỷ lệ cấu trúc bị động trong ngữ liệu tiếng Việt
Tổng số cấu trúc bị động/tổng số câu VF1 VF2 VF3 VF4 VF5 VF6 VF7
425/2634 268 41 55 12 7 2 40
16,13% 63,05% 9,64% 12,94% 2,82% 1,64% 0,47% 9,41%
309 (72,70%) 67 (15,76%) 9 (2,11%)
376 (88,47%)
VF2 + VF4 = 53 (12,47%)

Như vậy có thể nói rằng trong tiếng Việt,
ý nghĩa bị động được thể hiện thông qua các
câu có cấu trúc cơ bản như sau :
bị thể + bị/ được + tác thể + động từ
Hoặc
bị thể + bị/ được + động từ + bởi + tác thể

N
1 + V) là một cấu trúc bị động. Vả lại, theo
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học,
2000, do - "2. Biểu thị điều sắp nêu ra là chủ thể
hoạt động tạo ra hoặc tác động quyết định đến cái
vừa nói đến.". Trong ngữ liệu của bài viết có 15
câu thể hiện ý nghĩa bị động có sự xuất hiện
của t
ừ “do”. Nếu những cấu trúc này được coi
là bị động thì tổng số cấu trúc bị động trong
ngữ liệu sẽ là 440 và tỷ lệ của cấu trúc này sẽ
là 3,40%, cao hơn tỷ lệ cấu trúc bị động có bởi
(9/440 câu, 2,04%). Cấu trúc này có mô hình sau:
bị thể + do + tác thể + động từ
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

258
6. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động tiếng
Pháp sang tiếng Việt
Cách các học giả có uy tín chuyển dịch
dạng bị động từ tiếng Pháp sang tiếng Việt là
những kinh nghiệm quý báu cho những ai
phải làm công tác dịch thuật. Chính vì vậy,
cách chuyển dịch dạng bị động trong tác
phẩm Miếng da lừa của nhà văn người Pháp
Honoré de Balzac của các dịch giả có uy tín là
Nguyễn Văn Vĩnh [15] (nă
m 1928) và Đỗ Đức
Dục [15] (năm 1973), và cách chuyển dịch
dạng bị động có trong bản Hiến Pháp Cộng

tháng bảy mới rồi.)
Như vậy, ở dịch giả này, phần lớn câu có
cấu trúc bị động của bản gốc đã được chuyển
d
ịch thành câu có cấu trúc chủ động trong
tiếng Việt. Trong số câu có cấu trúc bị động
trong bản dịch thì loại cấu trúc không có
"bị/được" lại chiếm ưu thế. Lý do có thể là vào
thời kỳ này, tiếng Việt mới chỉ tiếp xúc chủ
yếu là với tiếng Pháp, còn tiếp xúc với các thứ
tiếng khác thì vẫn rất hạn chế. Mặt khác, có
thể là vào thời kỳ đó, người Vi
ệt Nam chưa
có thói quen diễn đạt bằng các cấu trúc bị
động. Đây cũng có thể là một nguyên nhân
đã khiến cho các nhà nghiên cứu tiếng Việt
thời kỳ đầu thế kỷ 20 đã đưa ra những nhận
xét cho rằng người Việt Nam "ghét lối nói này".
6.1.2. Bản dịch của Đỗ Đức Dục
Việc khảo sát trên bản dịch của Đỗ Đức
Dục cho thấy: 173/356 (48,59%) câu có cấu
trúc bị
động của bản gốc đã được chuyển
sang tiếng Việt bằng câu có cấu trúc bị động.
Trong số 173 câu tiếng Việt có cấu trúc bị
động này, có 128 câu có sự xuất hiện của hai
từ "được/bị", không câu nào có từ "phải".
Điểm khác biệt lớn nhất trong cách biểu đạt ý
nghĩa bị động ở hai bản dịch này là số lượng
câu có cấu trúc bị động ở bản d

ngữ của người đọc, nên có thể coi hai bản
dịch này như là những tấm gương phản
chiếu xu hướng gia tăng của việc sử dụng cấu
trúc bị động của người Việt Nam. Nhận xét
thứ ba là Nguyễn Vă
n Vĩnh có dùng từ "phải"
trong các cấu trúc bị động nhưng từ này
không xuất hiện trong các cấu trúc bị động
của Đỗ Đức Dục. Và điều này cũng trùng hợp
với xu hướng sử dụng từ "phải" để thể hiện ý
nghĩa bị động trong tiếng Việt.
6.2. Việc chuyển dịch cấu trúc bị động trong Hiến
pháp CH Pháp 1958
Trong bản Hiến pháp CH Pháp 1958 có cả
thảy là 344 câu, trong đó có 219 câu có cấu
trúc bị động, chiếm 63,66%. Khi khảo sát trên
bản dịch của Nhà pháp luật Việt - Pháp,
chúng tôi thấy có 159 câu có cấu trúc bị động.
Như vậy là số câu có cấu trúc bị động trong
bản dịch bằng 72,60% số câu có cấu trúc bị
động trong bản gốc. Nếu chúng ta không tính
đến đặc thù phong cách chức năng thì chúng
ta lại thấy xu hướng gia tăng của việc sử
dụng cấu trúc bị độ
ng trong tiếng Việt. Thật
vậy, ở bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh vừa
xét trên đây, số câu có cấu trúc bị động mới
chỉ là 10,95%, sang đến bản dịch của Đỗ Đức
Dục thì tỷ lệ này đã là 48,59% và đến bản dịch
của Nhà pháp luật Việt - Pháp thì tỷ lệ này

đáp ứng nhu cầu nhấn mạnh vai trò chủ thể

hành động.
Về mặt chức năng và ý nghĩa, trong cả hai
thứ tiếng, cấu trúc bị động được dùng để
hướng sự chú ý của người tiếp nhận thông tin
vào bị thể. Trong cả hai thứ tiếng, cấu trúc bị
động đều được dùng khá phổ biến trong các
ngôn ngữ thuộc phong cách hành chính -
công vụ, báo chí và khoa học để thể hiện tính
khách quan của thông tin cũng là một nét
chung đáng quan tâm.
Nét khác biệt nổi b
ật giữa hai ngôn ngữ
Đinh Hồng Vân / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23 (2007) 247-261

260
này là sự biến đổi của động từ trong tiếng
Pháp, trong khi động từ không hề thay đổi
trong tiếng Việt ngoại trừ việc chèn thêm các
từ "bị/được" vào phía trước động từ trong câu
bị động, và đôi khi các từ này cũng vắng nốt.
Nét khác biệt thứ hai về mặt hình thức là vị
trí của bổ ngữ chỉ tác nhân khi nó xuất hiện
trong các cấu trúc bị động của ti
ếng Pháp và
tiếng Việt: trong tiếng Pháp, nó hay đứng sau
quá khứ phân từ, còn trong tiếng Việt thì nó
hay đứng sau đối tượng và trước động từ.
Nét khác biệt đáng quan tâm hơn cả đó là

nét tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ
để có thể sử dụng dạng bị động của tiếng
Pháp một cách t
ự nhiên hơn và cũng tránh
được những giao thoa ngôn ngữ không đáng
có trong quá trình dịch thuật để góp phần gìn
giữ vốn ngôn ngữ của dân tộc.
7. Kết luận
Tóm lại, việc nghiên cứu trên lý thuyết
cũng như khảo sát ngữ liệu cho thấy ở cả hai
ngôn ngữ Pháp và Việt đều có những phương
tiện biểu đạt ý nghĩa bị động với những đặc
thù riêng của mỗi ngôn ngữ
. Nếu như trong
tiếng Pháp việc thể hiện ý nghĩa bị động
tương đối phổ biến thì trong tiếng Việt cách
làm này ít phổ biến hơn. Tuy nhiên, qua khảo
sát trên các tài liệu dịch cũng như trong các
thể loại văn bản khác nhau, ta thấy rằng việc
sử dụng các cấu trúc để biểu đạt ý nghĩa bị
động đang có xu hướng gia tăng trong tiếng
Việt và đi kèm với xu hướ
ng này là sự xuất
hiện của một số cấu trúc mới trong tiếng Việt
được dùng để thể hiện kiểu ý nghĩa này.
Nguyên nhân của hiện tượng này có thể là do
ảnh hưởng của giao thoa ngôn ngữ qua tiếp
xúc và dịch thuật. Một trong những biện
pháp có thể giảm bớt khó khăn của người
Việt Nam học tiếng Pháp khi phải sử dụng

trong câu bị động tiếng Việt", Những vấn đề các
ngôn ngữ Phương Đông, Viện ngôn ngữ học, Hà
Nội, 1986, tr.204-207.
[10] Nguyễn Kim Thản, Động từ trong tiếng Việt, NXB
KHXH, Hà Nộ
i, 1977.
[11] Nguyễn Tài Cẩn, "Quá trình hình thành thế đối
lập giữa ba từ "Bị, được, phải", Ngôn ngữ, Số 2,
1978, tr.20.
[12] Đinh Văn Đức, Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1986.
[13] Nguyễn Hồng Cổn, Bùi Thị Diên, "Dạng bị động
và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt", Tạp chí
Ngôn ngữ, Số 7, 2004, tr.1.
[14]
Nguyễn Phú Phong, Le syntagme verbal en
vietnamien, Mouton, Paris, 1976.
[15] H.De. Balzac, Miếng da lừa, Người dịch: Nguyễn
Văn Vĩnh, NXB Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1928.
[16] H.De. Banzăc, Miếng da lừa, Người dịch: Đỗ Đức
Dục, NXB Văn học, Hà Nội, 1973.
[17] Nhà pháp luật Việt-Pháp, Hiến pháp Cộng hòa
Pháp 1958, Hà Nội, 2003.
Expression of passive meaning in French and Vietnamese
Dinh Hong Van
Department of French Language and Culture, College of Foreign Languages, VNU,
Pham Van Dong, Cau Giay, Hanoi, VietnamThe results of theoretical research and survey of linguistic materials show that there are


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status