1Luận văn
Thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu cà phê Việt Nam tăng
trưởng bền vững và đạt hiệu
quả cao trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế
2
Lời nói đầu
Ngày nay, khi mà nền kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới đang
trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế có lẽ vấn đề nóng hổi nhất trên mọi
phương tiện thông tin đại chúng đó là chứng khoán. Bao giờ cũng vậy người ta
luôn dồn mọi sự quan tâm đến những cái mới mà ít ai để ý thấy rằng những
thông tin về thị trường xuất nhập khẩu mới là bản tin thường trực nhất trên các
phương tiện thông tin ấy. Điều đó phần nào cho thấy được tầm quan trọng vô
cùng của hoạt động xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế của một quốc gia, đặc
biệt là hoạt động xuất khẩu. Song hành với sự ra đời và lớn mạnh của những nền
kinh tế theo cơ chế thị trường là từng ấy năm phát triển của hoạt động ngoại
thương mà chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa của các quốc gia. Hoạt
động xuất khẩu là hoạt động không thể thiếu được của một quốc gia, nó góp một
phần quan trọng trong GDP của một nước. Ở Việt Nam, hoạt động xuất khẩu các
sản phẩm nông sản đã đem lại nguồn thu nhập rất lớn phục vụ cho việc xây dựng
và phát triển đất nước. Trong đó không thể không nhắc tới những sản phẩm nổi
tiếng đã đem lại vị thế cho Việt Nam trong hoạt động xuất khẩu hàng nông sản
như gạo, cà phê, tiêu, điều đặc biệt là sản phẩm cà phê, là hàng nông sản xuất
khẩu có giá trị nhất của Việt Nam. Chúng ta đều nhận thấy những đóng góp to
lớn mà ngành cà phê đã mang lại cho đất nước thông qua họat động xuất khẩu,
nhưng trong một vài niên vụ gần đây, sản phẩm cà phê xuất khẩu của Việt Nam
đã bị những đánh giá không tốt từ phía các đối tác nước ngoài, đây là một tín
4
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA
1.1. Khái niệm xuất khẩu hàng hóa và vai trò của xuất khẩu hàng hóa trong
nền kinh tế thị trường.
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa
1.1.1.1. Khái niệm
Trước tiên để hiểu về hoạt động xuất khẩu hàng hóa chúng ta cần hiểu thế
nào là “thương mại quốc tế” bởi xuất khẩu hàng hóa là một phần quan trọng
trong hoạt động thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể
kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường vượt ra
ngoài phạm vi điạ lý của một quốc gia) thông qua họat động mua bán, lấy tiền tệ
làm môi giới. Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ
kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế
quốc tế.
Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Trên giác độ của
một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương. Nội dung của thương mại
quốc tế bao gồm:
Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa hữu hình: nguyên vật liệu, máy móc
thiết bị, lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng Đây là bộ phận chủ yếu
và giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng
sáng chế phát minh, phần mềm máy tính, các bảng thiết kế kỹ thuật, các dịch vụ
lắp ráp thiết bị máy móc, dịch vụ du lịch và nhiều loại hình dịch vụ khác ) Đây
5
các cá nhân, tổ chức, hay các quốc gia nước ngoài. Do đó quốc gia xuất khẩu
muốn hoạt động này được đẩy mạnh và thuận lợi thì cần phải tìm hiểu sâu về thị
trường mà mình hướng tới, về nhu cầu, thị hiếu, về những rào cản mà thị trường
đó đặt ra. Cần phải có những mặt hàng phù hợp để có thể giữ được mối quan hệ
lâu dài.
Thứ hai, thị trường trong trong xuất khẩu rộng lớn và phức tạp hơn nhiều,
nó chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy trước khi lựa chọn một thị trường để xuất
khẩu hàng hóa cần phải có tính chiến lược, phải xét đến tính kinh tế khi trong
hoạt động xuất khẩu này, bởi không phải cứ xuất khẩu là luôn mang lại lợi nhuận
cho người xuất, và thực tế trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cũng đã có
những bài học về vấn đề này.
Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất nhập khẩu thường là mua
bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả.
Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động này đều phức tạp và chứa
đựng nhiều rủi ro cho cả bên mua và bên bán như: thanh toán, vận chuyển, ký
kết hợp đồng Do đó cần phải có trình độ về nghiệp vụ và sự chính xác trong
các bước thực hiện hoạt động này.
Tóm lại, hoạt động xuất khẩu là một hoạt động mang lại nhiều lợi ích cho
bên xuất khẩu nói riêng và cả toàn thế giới nói chung nhưng cũng chứa đựng
nhiều rủi ro. Để họat động này được đẩy mạnh thì cấn có sự hợp tác của tất cả
các bên.
1.1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường.
Trong thời đại mà hầu như tất cả nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới
đều vận hành theo cơ chế thị trường thị hoạt động xuất khẩu càng đóng một vai
7
trò quan trọng và không thể thiếu được đối với nền kinh tế của mỗi nước. Hoạt
động xuất khẩu của mỗi quốc gia được thực hiện bởi các đơn vị của quốc gia đó
mà chủ yếu là các doanh nghiệp ngoại thương. Chính vì vậy mà họat động này
không những đem lại lợi ích kinh tế cho cả nền kinh tế quốc dân mà còn đem lại
lợi ích trực tiếp cho các doanh nghiệp xuất khẩu đó.
thị trường là mục tiêu tức là cần mở rộng thị trường càng lớn càng tốt, khi đó tất
cả các ngành sẽ có cơ hội phát triển như nhau.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định
sản xuất, tạo lợi thế nhờ qui mô.
Xuất khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động xuất
khẩu cho phép mỗi quốc gia có thể tiêu dùng hàng hóa nhiều hơn khả năng sản
xuất của quốc gia đó.
Xuất khẩu giúp tạo vốn và thu hút khoa học công nghệ từ các nước phát
triển nhằm hiện đại hóa nền kinh tế trong nước.
Xuất khẩu còn thúc đẩy việc chuyên môn hóa trong họat động sản xuất để
tăng năng suất lao động. Trong một quốc gia mỗi cơ sở không nhất thiết phải sản
xuất hoàn thiện một sản phẩm mà có thể chỉ chuyên sản xuất một phần nào đó
của sản phẩm, song hiệu quả công việc của toàn quốc gia vẫn cao hơn. Tương tự
như vậy mỗi quốc gia không nhất thiết phải sản xuất một sản phẩm hoàn thiện
mà xu hướng trên thế giới hiện nay là người ta tiến hành xuất khẩu linh kiện từ
quốc gia này sang quốc gia khác để lắp ráp một sản phẩm hoàn thiện. Cách làm
này giúp mỗi quốc gia phát huy được tối đa khả năng sản xuất của mình, đồng
thời tránh lãng phí tài nguyên mà vẫn đem lại lợi ích chung cho toàn xã hội cao
hơn phương thức sản xuất truyền thống.
9
Thứ ba, xuất khẩu giúp giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân. Tác động này thể hiện rõ nhất ở các quốc gia có nền kinh tế đang và còn
kém phát triển. Do điều kiện khoa học công nghệ còn chưa cao, để tăng năng
suất trong sản xuất phục vụ cho xuất khẩu các doanh nghiệp đều phải cần tuyển
rất nhiều lao động. Vì vậy họat động này đã góp phần giải quyết một phần rất
lớn công ăn việc làm cho người dân, đồng thời còn tạo thu nhập tương đối ổn
định. Mặt khác xuất khẩu đem lại ngoại tệ để phục vụ cho nhập khẩu cho nên
chủng loại hàng hóa cũng ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng
phong phú và đa dạng của người dân trong nước.
Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế
trọng nhất là hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, tín dụng quốc tế.
Tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới hoạt động ngoại thương thông qua
kênh giá cả. Thông qua tỷ giá hối đoái ta có thể tính giá xuất nhập khẩu của một
loại hàng hóa của một nước theo tiền tệ của một nước khác. Do vậy tỷ giá thay
đổi kéo theo sự thay đổi của giá cả hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Chẳng hạn
khi tỷ giá hối đoái tăng, đồng nội tệ mất giá thì sẽ có lợi cho xuất khẩu hàng hóa
và dịch vụ của quốc gia đó. Chính vì vậy một số nước để làm tăng xuất khẩu và
hạn chế nhập khẩu đã dùng cách phá giá đồng tiền. Song đây không phải là một
cách làm có thể thực hiện trong dài hạn và không nên lạm dụng bởi nó có thể ảnh
hưởng xấu đến các quan hệ kinh tế khác nữa.
1.2.2. Chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước
Chính sách thuế
Chính sách thuế của nhà nước tác động tới cả cung và cầu hàng hóa thông
qua tác động vào giá và các yếu tố đầu vào như thuế nhập khẩu phân bón, thuế
11
nông nghiệp, thuế nhập khẩu giống và các khoản chi phí khác như phí thủy
lợi Các khoản phí và thuế này tăng làm tăng giá thành và làm giảm cung cà
phê. Ngược lại việc giảm các loại thuế này có tác động kích thích làm tăng cung
về mặt hàng cà phê, qua đó các chính sách này tác động tới cung cà phê cho thị
trường xuất khẩu.
Chính sách tín dụng.
Các hợp đồng kinh doanh xuất khẩu thường có giá trị lớn và chịu các chi
phí lớn khác như: chi phí vận chuyển, chi phí kiểm định, chi phí thuê kho ngoại
quan, thuế nhập khẩu, chi phí cho thanh toán Do vậy các doanh nghiệp khi
tham gia vào hoạt động xuất khẩu thường cần một lượng vốn lớn. Trên thực tế
hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu đặc biệt là các nước đang phát triển thường
gặp khó khăn về mặt tài chính. Vì vậy các chính sách ưu đãi tín dụng sẽ tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, mở rộng thị trường xuất khẩu và
trình đàm phán quốc tế.
Hệ thống pháp luật.
Hành lang pháp lý của một quốc gia càng thông thoáng, minh bạch và cụ
thể, phù hợp với thông lệ quốc tế thì càng tạo điều kiện thuận lợi và giảm thiểu
chi phí trung gian trong xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Hiện nay việc gia
nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) khiến các quốc gia phải từng bước thay
đổi hệ thống pháp luật trong kinh tế của mình sao cho phù hợp với thông lệ quốc
tế đã làm cho thương mại quốc tế ngày càng thuận lợi hơn.
Phương thức giao thông vận tải, thông tin liên lạc.
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc là một phần không thể thiếu trong
xuất nhập khẩu, nó ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí cho hoạt động này và sự đảm
bảo chất lượng cho hàng hóa. Giao thông vận tải đa dạng, nhanh, giá rẻ là yếu tố
13
cần thiết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Hệ thống thông
tin càng phát triển, hoàn thiện và chính xác thì càng tạo điều kiện tốt cho các
doanh nghiệp mở rộng thị trường.
Hệ thống tài chính, ngân hàng.
Yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh ngoại thương. Mọi
thanh toán trong kinh doanh quốc tế đều thông qua hệ thống ngân hàng. Chính vì
vậy hệ thống tài chính và ngân hàng càng phát triển thì càng giúp giảm thiểu rủi
ro trong việc thanh toán của các doanh nghiệp kinh doanh ngoại thương, đồng
thời giúp các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được cơ hội kinh doanh.
Ngoài ra còn rất nhiều nhân tố khác nữa ảnh hưởng tới hoạt động xuất
nhập khẩu của một quốc gia. Song trên đây là những nhân tố có ảnh hưởng nhiều
nhất tới hoạt động này, một quốc gia muốn thúc đẩy họat động xuất nhập khẩu
bền vững và hiệu quả đều phải quan tâm đến tất cả những nhân tố trên.
1.3. Sự cần thiết của việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa bền vững và đạt hiệu
quả cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Với toàn bộ phần trình bày ở trên chúng ta đã hiểu thế nào là hoạt động
nền kinh tế nước ta còn rất yếu.
Do đó để tăng trưởng kinh tế bền vững thì phải tăng cường sự đóng góp
thực sự của xuất khẩu vào tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
Từ hai luận điểm trên áp dụng vào hoạt động sản xuất và xuất khẩu cà phê
Việt Nam. Như chúng ta đều biết, cà phê Việt Nam xuất khẩu hiện đang đứng
hàng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Braxin, sản phẩm cà phê của Việt Nam cũng
được đánh giá cao về hương vị. Nhưng trong thời gian gần đây (niện vụ 2005 –
2006) cà phê Việt Nam xuất khẩu đã bị chê là sản lượng và năng suất cao nhưng
chất lượng kém xa chuẩn quốc tế, một khối lượng lớn hàng đã bị trả lại sau khi
đến cảng nước ngoài. Hơn nữa, mặc dù đứng thứ 2 về xuất khẩu nhưng khoảng
15
cách của nước ta với Braxin là rất lớn, trong khi đó lại không cách xa các nước
còn lại là mấy. Như vậy ta có thể thấy ngành xuất khẩu cà phê của Việt Nam
hiện nay còn khá nhiều yếu kém. Hơn nữa trong điều kiện hội nhập, hoàn cảnh
bên ngoài tác động rất nhiều, nếu không có nhưng điều chỉnh phù hợp thì rất dễ
bị bỏ xa và tụt hậu.
Từ tất cả những lý do trên ta rút ra kết luận cần phải có những giải pháp
thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa nói chung và riêng mặt hàng cà phê nói riêng một
cách bền vững và đạt hiệu quả cao trong điều kiện hội nhập là yêu cầu hết sức
cần thiết.
năm 1975 ở miền Bắc không có cây cà phê trong qui hoạch nông nghiệp. Còn ở
miền Nam Việt Nam, từ không đầy 20.000 ha cà phê mà đến năm 2000 cả nước
có hơn nửa triệu ha cà phê. Tức là tăng diện tích lên 26 lần, sản lượng năm đó là
900 ngàn tấn. Do qui hoạch mà không thể kiểm soát, Việt Nam đã xuất khẩu quá
nhiều cà phê làm cán cân cung cầu trên thị trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Sau thời kỳ khủng hoảng năm 2001, giá cà phê thế giới có nhích lên nhưng chưa
bao giờ trở lại thời kỳ vàng son. Theo thống kê chính thức trọn năm 2004 Việt
Nam xuất khẩu tổng cộng 890 ngàn tấn cà phê nhân sống, trị giá khoảng 580
17
triệu đô la Mỹ. Cà phê xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là cà phê Robusta (hay
còn gọi là cà phê vối) chiếm khoảng 90% tổng lượng cà phê xuất khẩu. Cà phê Việt Nam được trồng nhiều ở các tỉnh sau:
Tỉnh Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
Lâm Đồng 117.918 200.000
Gia Lai 79.126 100.000
Đồng Nai 28.875 25.000
Kon Tum 12.984 15.000
Bình Phước 13.693 15.000
ĐăkLăk 237.262 360.000
(theo số liệu thống kê năm 2005)
Diễn biến diện tích và sản lượng cà phê Việt Nam những niên vụ vừa qua:
Niên vụ Diện tích (ha) Sản lượng (tấn)
1992 – 1993 140.000 140.400
1993 -1994 150.000 181.200
1994 – 1995 215.000 211.920
1995 –1996 295.000 236.280
1996 – 1997 350.000 342.300
ngạch xuất khẩu hàng hóa nông sản của cả nước.
19
Xét trên phạm vi toàn thế giới, Việt Nam được biết đến là quốc gia có
lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ 2; có diện tích và sản lượng cà phê Robusta (cà
phê vối) xuất khẩu lớn nhất thế giới, với gần 500.000 ha và sản lượng hàng năm
từ 750.000 đến 800.000 tấn Tuy nhiên phần lớn lượng cà phê Việt Nam được
xuất khẩu dưới dạng thô, giá trị không cao. Trong khi giá cà phê thế giới liên tiếp
tăng thì trong nước không còn cà phê để bán.
Vế sản lượng và kim ngạch xuất khẩu :
Hiện nay mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 800.000 – 900.000 tấn cà phê
nhân, với 1% tạp chất, lượng cà phê bị thải ra vào khoảng 8.000 – 9.000 tấn.
Cùng với sự tăng lên của sản lượng thì số lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê
của Việt Nam tăng lên không ngừng, cách đây 10 năm (vụ 1992 – 1993) Việt
Nam xuất khẩu 116.000 tấn đến niên vụ 2002 – 2003 Việt Nam đã xuất khẩu
691.421 tấn, niên vụ xuất khẩu cao nhất là niên vụ 2000 – 2001 là 847.670 tấn.
Tính đến nay Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 thế giới sau
Braxin. Mặt hàng cà phê Việt Nam được đánh giá là một trong 20 mặt hàng cạnh
tranh của Việt Nam.
Tổng kim ngạch xuất khẩu 10 niên vụ (1992 – 1993 đến 2002 – 2003) giá
trị xuất khẩu đạt 4.334 triệu USD, chiếm khoảng 3,4 % tổng kim ngạch xuất
khẩu tất cả các mặt hàng của Việt Nam. Niên vụ đạt giá trị cao nhất là niên vụ
1997 – 1998 với giá trị là 601,4 triệu USD.
Niên vụ Xuất (tấn)
Kim ngạch (1.000
USD)
Đơn giá bình
quân (USD/MT)
1992 – 1993 116.000 92.000 793
1993 – 1994 165.000 226.000 1.369
USD, so cùng kỳ năm trước, lượng giảm 8%, kim ngạch tăng 16,7%. Xuất khẩu
quí I năm 2007 ước đạt 462 ngàn tấn, kim ngạch 668 triệu USD, so cùng kỳ năm
trước, lượng tăng hơn 1,7 lần, giá trị tăng 2,2 lần. Cà phê tiếp tục giữ vị trí số 1
về kim ngạch xuất khẩu trong các mặt hàng nông sản. Hiện giá cà phê xuất khẩu
bình quân của Việt Nam đạt khoảng 1.456 USD/tấn, cao hơn cùng kỳ năm trước
26%, Việt Nam đã góp phần chi phối thị trường cà phê thế giới trong thời gian
qua.
Chỉ trong vòng 6 tháng đầu niên vụ 2006-2007 (từ 1-10-2006 đến 31-3-
2007), nước ta đã xuất khẩu được hơn 615 ngàn tấn cà phê, đạt kim ngạch 830
triệu USD, vượt tổng kim ngạch xuất khẩu cả niên vụ trước 4 triệu USD. Từ con
số khả quan này, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa) đã khẳng định:
Kim ngạch xuất khẩu cà phê nước ta niên vụ này sẽ vượt ngưỡng 1 tỷ USD.
Trước khi vào vụ thu hoạch cà phê, Vicofa dự đoán rằng, lượng cà phê của niên
vụ này đạt từ 13,5 đến 14,5 triệu bao, tức là khoảng 810-870 ngàn tấn cà phê
nhân. Nhưng đến cuối tháng 4 vừa qua, con số đã vượt xa dự đoán mà theo giới
chuyên môn, có được điều này là do nghịch lý "được mùa – rớt giá" đã không
lặp lại
Tổng sản lượng cà phê xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2007 đạt 832.000 tấn
với tổng kim ngạch trên 1,2 tỷ USD, chiếm gần 40% tổng giá trị kim ngạch xuất
khẩu các mặt hàng nông sản. So với cùng kỳ năm trước, sản lượng cà phê xuất
khẩu tăng 64%, kim ngạch tăng 2,1 lần. Theo Hiệp Hội cà phê Việt Nam, kim
ngạch xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2007 đã cao hơn tổng kim ngạch xuất
khẩu cà phê của cả năm 2006 (năm 2006, tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê đạt
trên 1,1 tỷ USD với sản lượng xuất khẩu 897.000 tấn). Đây là kết quả của việc
giá cà phê biến động theo xu thế tăng liên tục với mức bình quân hiện nay
khoảng 1.530 USD/tấn (tăng 28-29% so với cùng kỳ năm trước)
22
Ước xuất khẩu cà phê tháng 8/2007 của Việt Nam đạt 55 ngàn tấn, kim
ngạch đạt 95 triệu USD, so cùng kỳ năm trước lượng giảm 1,5%, kim ngạch tăng
Ấn Độ (A/R) T.10-T.9 4.683 4.495 3.844 4.630
Mexico (A) T.10-T.9 4.000 4.550 3.407 4.200
Ethiopia (A) T.10-T.9 3.693 3.874 5.000 4.500
Guatemala (A/R) T.10-T.9 4.070 3.610 3.678 3.675
Peru (A) T.4-T.3 2.900 2.616 3.355 2.750
Uganda (R/A) T.10-T.9 2.900 2.510 2.750 2.750
Honduras (A) T.10-T.9 2.497 2.968 2.575 2.990
Côte d'Ivoire (R) T.10-T.9 3.145 2.689 1.750 2.500
Costa Rica (A) T.10-T.9 1.938 1.802 1.775 2.157
El Salvador (A) T.10-T.9 1.438 1.457 1.447 1.372
Ecuador (A/R) T.4-T.3 732 767 938 720
Venezuela (A) T.10-T.9 869 786 701 820
Philippines (R/A) T.7-T.6 721 433 373 500
Tổng sản lượng
121.808 103.801 112.552 106.851 A (Arabica): Cà phê chè
R (Robusta): Cà phê vối
T. : Tháng
24
A/R: Nước xuất khẩu cả hai loại cà phê, nhưng sản lượng Arabica là chủ
yếu
R/A: Nước xuất khẩu cả hai loại cà phê, nhưng sản lượng Robusta là chủ
yếu
1 bao = 60 kg
Niên vụ 2002 – 2003, cà phê Việt Nam đã xuất khẩu sang 59 nước và vùng
lãnh thổ, trong đó 10 nước dẫn đầu về nhập khẩu cà phê Việt Nam chủ yếu là các
2 Đức 70.000
3 Italia 50.000
4 Tây Ban Nha 43.000 (giảm 12.000tấn)
5 Anh 37.000 (giảm 45.000tấn)
Thị trường xuất khẩu cà phê của Việt Nam tháng 9 và 9 tháng đầu năm 2005
Thị trường Tháng 9 9 tháng
Lượng (tấn) Trị giá (ngàn
USD)
Lượng (tấn) Trị giá (ngàn
USD)
Mỹ 6.514 5.634 92.586 73.490
CHLB Đức 4.150 3.645 74.963 59.424
Tây Ban Nha 3.593 3.315 47.852 39.042
Italia 2.448 2.342 52.812 45.250
Nhật Bản 2.402 2.186 23.784 20.558
Ốxtrâylia 1.921 1.837 12.151 10.368
Pháp 1.857 1.740 23.024 18.496
Hà Lan 1.324 1.201 14.099 12.078
Philippin 1.292 1.148 18.892 14.315
Ấn Độ 949 887 16.169 11.802
Hàn Quốc 925 828 18.429 13.98