TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bộ môn Sinh học Động vật.
❁
Lê Mạnh Dũng
Bài giảng
ĐỘNG VẬT HỌC HẠI NÔNG NGHIỆP
=Hà Nội =
Phần thứ nhất
ĐỘNG VẬT HỌC ĐẠI CƯƠNG
Khái quát chung
1. Đặc điểm cơ bản của động vật:
Phương thức dinh dưỡng: Dị dưỡng
Cấu trúc cơ thể: tế bào không có màng xenluloz và diệp lục (khác thực vật)
Phương thức vận chuyển: Tích cực – có cơ quan chuyên hoá ( lưu ý giải thích
ở các mức độ tổ chức )
2. Vai trò của động vật :
Với sự sống trên hành tinh
Vị trí quan trọng trong Quần xã và Hệ sinh thái (giải thích luôn hai thuật ngữ)
Vị trí đối với con người (lưu ý nhiều đến khía cạnh nông nghiệp )
3. Hệ thống phân loại :
Phân loại: nghiên cứu những dấu hiệu giữa các loài (giống và khác nhau) để
xây dựng hệ thống các bậc phân loại và xác lập mối quan hệ giữa chúng với nhau.
Phân biệt với định loại: Từ những mẫu vật + khoá định loại - xếp chúng vào các vị
trí.
Thứ hạng cơ bản: Loài (có nhiều định nghĩa khác nhau) là nhóm cá thể có
những đặc điểm cấu trúc và chức năng giống nhau, có cùng tổ tiên; ở điều kiện tự
nhiên chúng giao phối được với nhau và cho thế hệ con có khả năng sinh sản .
Các thứ hạng: loài → chi → họ → bộ →lớp → nghành
Danh pháp phân loại: 2 chữ bằng tiếng latinh
Phân loại động vật: có nhiều cách phân chia khác nhau → số lượng ngành
khác nhau .
2.2 Hoạt động tiêu hoá :
Hình thức tiêu hoá nội bào, được thực hiện nhờ các không bào tiêu hoá, nằm
trong tế bào chất. Số lượng khác nhau tuỳ loài, vị trí hình thành có thể cố định (Trùng
cỏ ) hoặc bất kỳ (Chân giả). Chất cặn bã sau quá trình tiêu hoá được thải ra ngoài
bằng cách vỡ thành cơ thể ở vị trí nào đó.
2.3. Hoạt động hô hấp và bài tiết :
Được thực hiện nhờ các không bào co bóp - có dạng túi có lượng nước khác
nhau ở từng thời kỳ; khi đầy bị bóp lại và tống nước ra khỏi cơ thể. Số lượng không
bào co bóp khác nhau ở từng loài.
Ví dụ: ở Trùng cỏ có hai hệ thống, mỗi hệ thống gồm một không bào trung
tâm và nhiều không bào ngoại vi (các rãnh).
Chức năng chủ yếu:
+ điều hoà áp suất thẩm thấu của dịch tế bào → chỉ có ở động vật nguyên sinh
sống tự do trong nước ngọt (giải thích)
+ Thải chất cặn bã ra ngoài (bài tiết)
+ Cung cấp O
2
cho cơ thể (hô hấp)
Quá trình điều hoà hoạt động được thực hiện chủ yếu nhờ tính hướng động
(dương hoặc âm); có mặt các yếu tố thần kinh (các sợi tơ thần kinh liên kết thể nền ở
trùng cỏ). Cơ quan tử cảm thụ ánh sáng chỉ có ở Trùng roi (điểm mắt) và được coi là
cơ quan tử thị giác nguyên thuỷ nhất (gồm các hạt sắc tố đỏ)
III. Đặc điểm sinh sản :
Ở động vật nguyên sinh chưa có cấu trúc riêng thực hiện chức năng này.
Có hai phương thức :
a. Sinh sản vô tính : Là sự sinh sản không có sự hình thành sản phẩm sinh dục và do
một cơ thể thực hiện.
Có thể bằng nhiều cách :
+ Phân đôi: cơ thể tách đôi hình thành hai cá thể mới . Sự phân đôi theo chiều
dọc ( trùng roi ) hoặc ngang ( trùng cỏ )
- Khoảng 8000 loài sống trong nước và đất ẩm, kí sinh .
Đặc điểm:
-Cơ thể có hình dạng ổn định nhờ có màng phim (pellicula) - do ngoại chất
đặc. Một số có lớp vỏ che ngoài hoặc lớp xenluloz như tế bào thực vật.
- Vận chuyển bằng roi, do hoạt động xoáy → roi tập trung thức ăn đến gốc roi
→ không bào tiêu hoá hình thành
- Dinh dưỡng hoại dưỡng và tự dưỡng.
- Một số có khả năng sinh sản hữu tính. Nhiều đại diện sống tập đoàn.
Vai trò :
- Trùng roi thực vật → sinh vật sản xuất
- Kí sinh gây bệnh cho người, động vật: Trypanosona, Lieskmania.
- Cộng sinh ở ruột mối – tiêu hoá xenlluloz (bộ Hypermastgina)
3. Động vật nguyên sinh có bào tử.
Các ngành: Sporozoa; Microsporozoa; Cnidosporozoa
Đặc điểm:
-Sporozoa
-Bao gồm những đại điện sống kí sinh trong tế bào người và động vật
-Đặc trưng: trong vòng đời có giai đoạn sinh bào tử, có xen kẽ thế hệ
Microsporozoa
-Nói chung ít di động – có thể bằng vi cơ hoặc tiết dòng dịch ra phía sau.
-Vai trò: gây bệnh – Ví dụ: Eimera, Plasmodium
Cnidosporozoa
Đặc điểm: bào tử có cấu tạo riêng gồm nhiều tế bào có vỏ bao ngoài, có tế bào
chính có thể phóng ra ngoài thành gai.
Vai trò: Gây bệnh ở cá.
Trước đây được coi là một nhóm của trùng bào tử gai. Nay tách riêng do đặc
điểm bào tử chỉ là một tế bào, có cỡ bé thường 4-6µm
Đa số ký sinh ở chân khớp: Nosema hombycis gây bệnh tằm gai; Nosema apis
gây bệnh lị ở ong.
Hiên nay tìm cách gây nhiễm trùng vi bào tử của côn trùng có hại để diệt
Từ Động vật đơn bào, theo con đường hình thành tập đoàn động vật đơn bào
(như đã thấy ở trùng roi ).
Quá trình hình thành động vật đa bào là quá trình toàn bộ hóa, thống nhất mối
quan hệ giữa các tế bào trong tập đoàn với nhau để tạo một cá thể đa bào.
Phân loại
Được phân thành nhiều ngành ( có tác giả phân thành trên 20 ngành)
Theo mức độ ổn định về vị trí và xu hướng phân hoá của các lá phôi chia hai
nhóm:
+ Parazoa : Thân lỗ – vị trí và xu hướng phân hoá các lá phôi không ổn định.
+ Eumetazoa : các ngành còn lạiRadiata
Cơ thẻ đối xứng toả tròn; Quá
trình phát triển phôi qua giai
đoạn hai lá phôi.
Ngành Ruột túi và Sứa lược.
Bilateria
Cơ thể đối xứng 2 bên. Quá
trình phát triển phôi qua giai
đoạn 3 lá phôi.
Acoelomata
Cơ thể không có hoặc chỉ có
xoang nguyên sinh; cơ thể
chưa phân đốt.
Ngành Giun dẹp, Giun tròn
và Giun vòi
Ceolomata
Có xoang cơ thể thứ sinh; cơ
thể phân đốt.
trung giao bằng chất keo tạo nên khối lượng chính của cơ thể.
Ruột túi có nhiều xúc tu với các thích ti bào (dùng bắt mồi)
Sứa lược có hai xúc tu và trên cơ thể có 8 tấm lược (với nhiều hàng tơ) –
không có bao thích ti
Cả hai ngành đều có năng lực tái sinh mạnh: từ một mảnh nhỏ của cơ thể
(1/4) có thể phát triển thành con vật hoàn toàn. Mặt khác chúng có khả năng xắp xếp
lại tổ chức cơ thể bị rối loạn trở lại trạng thái bình thường.
Ruột khoang bao gồm 10.000 loài xếp trong 3 lớp: Thuỷ tức – sứa – san hô;
sứa lược gồm khoảng 100 loài.
Chủng loại phát sinh.
Được coi là đã tiến hoá từ gốc chung với các động vật bậc cao do có kiểu đối
xứng cơ thể xác định; có sự phân hoá và ổn định của các lá phôi, tuy ở mức độ thấp
nhưng đã có những đặc điểm cơ bản của động vật đa bào hoàn thiện.
ĐỘNG VẬT ĐA BÀO CHÍNH THỨC
Ngành Giun dẹp ( Plathelminthes )
Đặc điểm :
Là ngành động vật ở mức độ tổ chức thấp trong động vật có đối xứng hai bên,
3 lá phôi và chưa có thể xoang. Cơ thể đã có sự phân hoá và di chuyển có định
hướng.
Cơ thể có dạng hai túi lồng vào nhau, có chung 1 lỗ miệng .
Tế bào cơ xếp thành bao kín gồm 3 lớp: vòng – dọc – xiên → kiểu bao cơ đặc
trưng cho các ngành giun → cấu trúc thành cơ thể kiểu bao biểu mô cơ.
Tế bào cơ trong lớp cơ vòng và dọc hoạt động đối nhau → làn sóng từ trước ra
sau → cơ chế di chuyển uốn sóng của giun dẹp ( ở sán tơ sống tự do: có sự phối hợp
với hoạt động của tơ - tuy chỉ là thứ yếu)
Quá trình hô hấp thực hiện bằng khuếch tán, cơ quan tiêu hoá cũng chỉ mói ở
dạng túi như của ruột khoang.
Xuất hiện nhiều hệ cơ quan với mức độ tổ chức cao hơn: Hệ thần kinh tập
trung thành não phía trước với nhiều đôi dây thân kinh chạy dọc; có thêm hệ bài tiết
là nguyên đơn thận; hệ sinh dục với các tuyến phụ sinh dục, ống dẫn và ở một số có
thay đổi vật chủ.
Chủng loại phát sinh
Quan điểm phổ biến hiện nay cho Giun dẹp có nguồn gốc từ ruột túi cổ (giải
thích quan điểm về nguồn gốc từ Sứa lược)
Theo A. Lang: Giun dẹp có nguồn gốc từ Sứa lược do có sự tương đồng về
ruột; sự tập trung của miệng và cơ quan đối miệng ở phía trước; tính đối xứng hai
bên và mầm của lá phôi thứ 3.
Theo L. Graff: Giun dẹp có nguốn gốc từ Ruột túi thấp, gần với tổ tiên dạng
Planula và được gọi là Tổ tiên động vật 3 lá phôi. Do đặc điểm cấu trúc cơ thể đã
giải thích được sự hình thành lỗ miệng ở phía sau của Sán tơ.
Trong Giun dẹp: Sán tơ ruột thẳng với cấu trúc ruột đơn giản, một đôi nguyên
đơn thận, tuyến sinh dục kép; 2-6 đôi dây thần kinh xuất phát từ não (cách xếp phóng
xạ) là sơ đồ tổng quát của Giun dẹp.
Dạng trưởng
thành
Trứng
Ấu trùng tơ
Miracidium
TB mầm
Redi Noãn nang (Sporocyte)
Ấu trùng
đuôi
Cercaria
Ấu trùng nang
Metacercaria
Có thể nghĩ rằng từ tổ tiên chung, Giun dẹp đã tiến hoá theo 3 hướng :
1. Cho ruột thẳng hiện sống
2. Từ kí sinh ngoài → kí sinh trong: Phát triển qua biến thái nhưng không có
sự xen kẽ thế hệ ( sán đơn chủ – sán dây )
3. Từ hội sinh trong xoang áo của ốc → kí sinh trong cơ thể rồi chuyển giai
Ngành có trên 5000 loài; sống ở đáy nước ngọt – mặn, trong đất ẩm Nhiều
loài sống kí sinh ở động vật và thực vật.
Lớp cuticun bao ngoài cơ thể giúp chúng có thể sống trong các môi trường
khác nhau. Nhu cầu O
2
không cao → chuyển sang sống kí sinh dễ dàng.
Bọn sống tự do ít có ý nghĩa kinh tế – bọn sống kí sinh (Trên 3000 loài ) gây
nhiều bệnh trầm trọng ở động vật và thực vật. Vòng đời của nhóm sống kí sinh có thể
qua vật chủ trung gian hoặc không. Không có xen kẽ thế hệ và phát triển có biến thái.
Căn cứ vào đặc điểm sinh học của quá trình phát triển, chúng được chia hai
kiểu :
Giun tròn có chu kỳ phát triển qua đất: giun đũa ; giun móc
Giun tròn có chu kỳ phát triển qua sinh vật: giun xoắn ; giun dạ dày
Có nhiều loại kí sinh gây hại thực vật: Aphelenchoides orizae hại lúa; Dytylenchus
angustus ( chuối ); Meloidogyaue ( cây họ đậu, lạc, đay. . . ) Rotylenchus ( chuối ).
2. Giun cước (Gordiacea= Nematomorpha): khoảng hơn 200 loài ký sinh ở côn
trùng. Cơ thể dài mảnh ( vài cm –1,5cm )
Trong cấu tạo : ruột trước tiêu giảm hoặc mất hẳn.
Kí sinh trong thể xoang của côn trùng; lớn lên ra ngoài môi trường nước ( khi
côn trùng gặp nước ) - đẻ trứng phát triển thành ấu trùng – ấu trùng chui vào kí sinh ở
vật chủ trung gian ( thường là ấu trùng côn trùng → vật chủ chính )
3. Giun đầu gai ( Acanthocephala ): khoảng 500 loài
Sống kí sinh trong ruột động vật có xương. Ấu trùng thường gặp trong thể
xoang của các động vật chân khớp.
Cơ thể có hình trụ, phân biệt rõ với phần vòi có móc là cơ quan bám; không có
hệ tiêu hoá (bị tiêu giảm)
Phát triển gián tiếp: vật chủ chính thức ở nước (cá , lưỡng thê) → vật chủ trung
gian là giáp xác; còn với vật chủ chính ở cạn → v/c trung gian là sâu bọ.
Nguồn gốc và tiến hoá.
Với đặc điểm: có tơ ở mặt bụng (trùng bánh xe, giun tơ bụng); bài tiết bằng
Sinh sản: vô tính hoặc hữu tính. Đặc điểm thụ tinh trong, hình thành kén và
trứng phát triển trong kén cũng được coi là một đặc điểm thích nghi với đời sống trên
cạn.
Phân loại
Ngành gồm khoảng 10.000 loài chia thành 2 phân ngành; với 4 lớp quan trọng:
Giun nhiều tơ, Giun ít tơ, Giun đốt cổ xưa và Đỉa.
1.Lớp giun nhiều tơ (Polychaeta): Gồm các đại diện sống tự do ở biển, nước ngọt.
Đặc điểm: Mỗi đốt có một đôi chi bên mang một chùm tơ; phần đầu cơ thể
phân hoá rõ, hệ sinh dục phân tính – thụ tinh ngoài; hầu như tất cả các cá thể của một
loài phóng thích giao tử cùng một lúc. Ví dụ: 99% cá thể của giun Palolo ( Sống ở
phía Nam Thái bình dương ) đẻ trứng và tinh trùng trong hai giờ của một đêm mỗi
năm (đêm hạ tuần tháng 11) ; hoặc Rươi Tylorlynchus heterochetus ( 20/9 và 5/10 âm
lịch) .
2. Lớp giun ít tơ ( Oligochaeta): Gồm khoảng 2000 loài sống tự do trong nước ngọt
hoặc đất ẩm.
Đặc điểm:
Chi trên tiêu giảm; tơ mọc thành vòng quanh các đốt. Là động vật lưỡng tính.
Có vai trò lớn trong nông nghiệp vì làm thay đổi cấu tượng của đất – S.Dacuyn đã
tính: Sau 10 năm lượng đất do giun xới lộn đủ trải một lớp dày 5cm trên toàn bộ bề
mặt hành tinh. Thường gặp là các loài trong giống Pheritima.
3. Lớp đỉa (Hirudinea) : Là nhóm biến đổi thích ứng với đời sống nửa kí sinh. Phát
triển giác hút có cơ khỏe ở cả hai đầu cơ thể. Tơ và phần phụ tiêu giảm hoàn toàn, có
hàm sắc bằng Kitin và có tuyến chất chống đông máu.
Thường gặp là: vắt Haemabip sp.; đỉa trâu Hirudinaria manillensis
Chủng loại phát sinh :
1. Theo Hatschek : Giun đốt có nguồn gốc từ Giun tròn vì trong Trùng bánh xe
có loài có khả năng sinh sản vô tính hình chuỗi → đốt
2. Theo Lang-Mayer : Giun đốt có nguồn gốc từ Sán tơ vì có sự tương đồng về
hệ thần kinh, ấu trùng và tính chất phân đốt của cơ thể.
3. Theo Sedgwich : Giun đốt có nguồn gốc từ San hô không xương ( Hải quì );
các chức năng khác nhau trong hoạt động sống (chân bò, bơi, hàm ) - có nguồn gốc
từ chi bên của Giun đốt. Trong quá trình tiến hoá, phần phụ có thể tiêu biến ở một số
đốt hoặc một số vùng cơ thể.
Riêng ở Côn trùng: hình thành cánh → di chuyển được trên không.
Đã hình thành các bó cơ riêng biệt điều khiển hoạt động của các phần cơ thể
→ tăng cường khả năng vận động. ( Cơ là cơ vân – giải thích!)
Hệ thần kinh ở bọn nguyên thuỷ giống Giun đốt; ở bọn cao: các hạch gần nhau
thường nhập lại – ở Côn trùng hình thành não bộ phức tạp.
Xoang cơ thể lớn không phải là thể xoang thực sự (Thể xoang chỉ còn là xoang
sinh dục ) mà là xoang máu- bộ phận của hệ tuần hoàn → hệ tuần hoàn hở với tim
nằm ở mặt lưng.
Cơ quan hô hấp đa dạng: bọn ở nước là mang; ở cạn là phổi sách hoặc ống khí.
Phân loại.
Chia 4 phân ngành: Trilobitomorpha, Chelicerata, Branchiata, Tracheata
1. Phân ngành Trùng ba thuỳ (Trilobitomorpha).
Gồm những Chân khớp nguyên thuỷ sống ở nước – có râu trước miệng và
phần phụ hai nhánh. Đã bị diệt chủng từ đại Cổ sinh – chỉ còn ở dạng hoá thạch. Có
một lớp: Trùng ba thuỳ Trilobita.
Đặc điểm: Phân đốt đồng hình. Cơ thể chia hai phần: đầu (5 đốt) và thân; ở
mặt trên phần đầu liền tạo Tấm đầu.
Phần đầu: 1 đôi râu và 4 đôi phần phụ chưa phân hoá.
Phát triển qua nhiều giai đoạn biến thái
Có giá trị chỉ thị địa tầng.
2. Phân ngành có kìm (Chelicerata).
Gồm những đại diện có quan hệ chặt với Trùng ba thuỳ; phát triển mạnh vào
đầu đại Cổ sinh – có 1 nhóm sống ở nước (lớp Giáp cổ) còn 1 nhóm sống trên cạn
(Hình nhện) – tuy nhiên còn giữ nhiều liên hệ với môi trường nước (sống chỗ ẩm
hoặc sinh hoạt đêm)
Đặc trưng: Phần đầu ngực có 7 đốt với 6 đôi phần phụ (kìm, chân xúc giác và
4 đôi chân bò); phần bụng chia thành bụng trước (6 đốt) có dạng biến đổi của phần
sống trên cạn, hô hấp bằng khí quản. Tổ chức và cấu tạo cơ thể đạt mức độ tiến hoá
cao.
Cơ thể có sự phân hoá rõ rệt thành 3 phần: đầu – ngực – bụng. Phần đầu ổn
định và phân biệt rõ với phần ngực, chỉ còn 1 đôi râu (anten I) và các đôi hàm, chân 1
nhánh.
Có 2 lớp: Nhiều chân và Côn trùng.
+ Lớp nhiều chân (Myriopoda): Cơ thể kéo dài, nhiều đốt (181 đốt), các đốt thân có
cấu tạo gần giống nhau – bắt đầu có tính chất phân đốt dị hình. Các phần phụ phân
đốt và có khớp với nhau do vậy chúng khá linh hoạt; thường có móng độc ở ngay sau
đầu trên đốt thân I (Do đốt chân biến đổi thành) → giết mồi (ăn động vật, cả rắn-
chuột). Đại diện điển hình thuộc phân lớp Chân môi Chilopoda (Rết Pachimerium
fercugineum ). Các đại diện của phân lớp Chân đôi (Diplopoda) ăn thực vật - đốt
thân kép (do 2 đốt dinh lại) → mỗi đôi 2 đôi chân; ví dụ: Cuốn chiếu Schizophillum
rabulosum, sâu núi Glomeris.
+ Lớp Côn trùng (Insecta): Lớp có số loài đông và phát triển da dạng; chủ yếu sống
trên cạn. Đầu 6 đốt gắn làm 1 phân biệt rõ với ngực và bụng. Ở đầu: Phần phụ là
Anten và các phần phụ miệng. Ngực có 3 đốt với 3 đôi chân; điển hình thường có 2
đôi cánh trên 2 đốt ngực sau. Bụng gồm 11 đốt không có phần phụ. Lớp gồm 20-25
bộ thường thích nghi với mỗi ổ sinh thái hoặc môi trường nhất định.
Chủng loại phát sinh.
Nguồn gốc Chân khớp khá rõ: Xuất phát từ nhóm nhiều đốt của lớp Giun
nhiều tơ nguyên thuỷ. Quá trình tiến hoá từ Giun nhiều tơ thành Chân khớp là quá
trình phức tạp hoá cấu tạo (biến tầng cuticun → bộ xương ngoài; bao biểu mô cơ →
bó cơ chân bên → phần phụ phân đốt; mạch máu lưng → tim ), xuất hiện thể xoang
hỗn hợp và quá trình đầu hoá.
Chân khớp đã sớm phân hoá theo các hướng khác nhau (ở mức độ đầu hoá, sự
phân chia các phần cơ thể):
Nhánh 1: Trùng ba thuỳ với 1 đôi râu, phần phụ phân hoá chưa rõ; chỉ tồn tại ở
Cổ sinh. Từ đại diện của chúng sau biến đổi hình thành Có kìm; xu hướng tiến hoá
của chúng theo hướng tiêu giảm số đốt, ít có sự phân hoá các phần cơ thể cũng như
Sơ đồ cấu tạo cơ thể trưởng thành rất đa dạng – không đồng nhất trong toàn
ngành và cũng khác hẳn các nhóm động vật khác.
Tuy nhiên do đặc điểm những Thân mềm nguyên thuỷ có ấu trùng bánh xe
(Trochophora) điển hình giống ấu trùng Giun đốt ở biển chứng tỏ chúng có chung tổ
tiên; phát triển theo sơ đồ thân thống nhất không có sự phân đốt.
Trong toàn ngành có những đặc điểm thường gặp:
+ Cơ thể đối xứng hai bên – riêng ở nhóm ốc hiện tượng mất đối xứng phát triển →
kiểu đối xứng hai bên ban đầu hầu như bị mất.
+ Cơ thể không có hiện tượng phân đốt rõ ràng – chỉ một số nhóm có một số cơ quan
sắp xếp kiểu phân đốt.
+ Xoang cơ thể thứ sinh không phát triển (còn xoang bao tim và xoang sinh dục) .
Giữa các cơ quan là mô liên kết.
+ Nhìn chung cơ thể thường chia 3 phần: đầu – thân – chân
Chân là tấm cơ phẳng – rộng →chân bò
Thân gồm khối nội tạng nằm bên trên chân, chứa phần lớn các cơ quan của cơ thể .
Phủ ngoài thân là lớp áo (có thể là nếp mô bọc khối thân và giăng ngang so với mép
chân). Bên ngoài là lớp vỏ đá vôi (do áo tiết ra) có chức năng bảo vệ cơ thể.
+ Hệ tuần hoàn khá phát triển: tim, hệ mạch phân nhánh và các khoảng trống chứa
nội quan. Tim được chia: tâm thất và tâm nhĩ (1 hoặc 2) – Riêng ở Mực: vòng tuần
hoàn kín.
+ Thần kinh: dạng hạch không phân đốt. Các hạch đầu nối với nhau bằng vòng mô
thần kinh quanh hầu → não. Thường có 4 khối: não - áo – thân – phủ tạng (từng đôi
và có các cầu nối)
+ Đơn – lưỡng tính: phát triển qua giai đoạn ấu trùng. Ở lớp Chân bụng trong quá
trình phát triển có hiện tượng thân vặn xoắn đột ngột → hậu môn lộn ngược lại và
nằm ở phía trên đầu → sự sinh trưởng ở phía lưng và theo hình xoắn ốc. Do xoắn ốc
→ hạn chế khoảng không gian trong cơ thể → mang, thận và tuyến sinh dục thiếu hẳn
ở một bên .
Căn cứ vào sự sai khác thể hiện các hướng pháp triển khác nhau, phân chia
ngành Thân mềm thành 2 phân ngành: Amphineura và Conchifera
những biến đổi thứ sinh theo hướng tiêu giảm một số cơ quan: chân, áo, vỏ. . .
Nhánh 2- Có vỏ: Bọn Monoplacophora với hiện tượng phân đốt cơ thể, còn
thể hiện ở nhiều cơ quan được coi là nguyên thuỷ hơn. Từ dạng nguyên thuỷ đó hình
thành các hướng phát triển khác nhau: mất đối xứng, tiêu giảm phần đầu, hỗn hợp .
Chân đầu được tách ra từ rát sớm, phát triển theo hướng thích ứng với đời sống di
động nhanh và ăn thịt; cấu tạo cơ thể, hệ thần kinh. . . phát triển tới mức độ cao trong
động vật không xương sống.
Nhóm ngành động vật dây sống ( Chordata)
Là nhóm ngành động vật lớn, có một số nét chung với một số ngành động vật
không xương sống (đối xứng hai bên, 3 lá phôi, sơ đồ cấu tạo cơ thể ống – lồng – ống
với thể xoang thực sự ngăn cách ruột với thành cơ thể )
Đặc điểm phân biệt với các ngành khác (đặc điểm cơ bản của ngành):
+ Có dây sống gồm 1 vỏ sợi bọc các tế bào có chứa không bào nằm dọc thân; các tế
bào này khi căng → dây vừa chắc lại vừa dẻo. Tác dụng là một trục chống đỡ cơ thể
nhưng đảm bảo thuận lợi cho hoạt động vật động .
+ Ống thần kinh nằm ở mặt lưng: là một dây đơn và rỗng.
+ Những túi hầu nằm dọc 2 bên cơ thể từ phần trước ống tiêu hoá đến thành cơ thể và
mở ra ngoài thành khe mang- khe mang có trong giai đoạn phôi của tất cả các động
vật dây sống nhưng không thấy rõ ở vật trưởng thành của động vật có xương sống.
Ngành bao gồm các lớp thích nghi với các môi trường khác nhau, có những
đặc điểm riêng biệt và có một số loài có thân mềm sống ở biển và có ý nghĩa quan
trọng trong tiến hoá của giới động vật (có thể là khâu trung gian nỗi giữa động vật
không xương và động vật có xương sống0.
Có 3 ngành: Có bao, Không sọ và Có xương sống
1. Ngành có bao (Tunicata)
Phân ngành bao gồm một số loài có dây sống sống ở biển, chuyên hoá theo lối
sống định cư.
Dạng cấu tạo cơ thể trưởng thành có hình dạng nhu cái hũ với hai lỗ thủng: Lỗ
miệng ở phía trên và lỗ huyệt ở lưng. Toàn bộ cơ thể được bọc bởi bao Tunicul (60%
là xenluloz). Dây sống tiêu giảm hoàn toàn; hệ thần kinh có cấu tạo không mang nét
; pH = 8.09-8.18. Ăn tảo và động vật
phù du. Sinh sản 3 lần trong đời thọ 3-4 tuổi. Ban ngày ở sâu – tối lên mặt nước
Tuy có bề ngoài giống cá nhưng nguyên thuỷ hơn rất nhiều → khá giống tổ
tiên nguyên thuỷ của động vật có xương sống.
Từ tổ tiên bơi lội tự do đôi xứng hai bên với số khe mang ít thông thẳng với
bên ngoài đã hình thành hai nhóm tiến hoá cho cá lưỡng tiêm hiện nay và tổ tiên của
động vật có xương sống.
3. Ngành có xương sống – có sọ (Vertebrata = Graniota)
Bao gồm những loài có dây sống hoạt động tích cực → các cơ quan phát triển
có hình dạng cơ thể rất thay đổi và phân bố rộng trong các môi trường, chúng có một
số các đặc điểm đặc trưng sau:
+ Có bộ xương trong bằng xương hay bằng sụn để tăng cường hoặc thay thế
cho dây sống. Ở các nhóm thấp và phôi của các nhóm cao: bao liên kết bọc quanh dây
sống; ở các nhóm cao: dây sống tiêu giảm và được thay thế bởi cột sống gồm nhiều
đốt sống.
Phần thân hay ngực thường mang nhiều đôi xương sườn hình thành lồng ngực
bảo vệ nội quan. Phần ngực và hông của cột sống là nơi tựa của các chi; do vậy ngoài
chức năng bảo vệ nội quan cột sống còn là nơi tựa của các chi.
Có hộp sọ (bằng xương hoặc sụn) bao bọc và che chở cho não bộ là phần mở
rộng của đầu phía trước của ống thần kinh lưng.
+ Hệ thần kinh trung ương phát triển cao và gồm 3 bộ phận: thần kinh trung
ương, thân kinh ngoại vi, thần kinh giao cảm.
Thần kinh trung ương là ống thần kinh gồm não bộ và tuỷ sống. Não bộ
(Cerebrum) là phần trước phình rộng của ống thần kinh. Khởi thuỷ Não bộ gồm 3
phần; sau này phần I và III phân đôi hình thành não bộ 5 phần: Não Trước - Não
Trung gian – Não Giữa- Tiểu não và Hành tuỷ.
Tuỷ sống là phần còn lại của ống thần kinh. Hai bên tuỷ có phát ra nhiều đôi
dây thần kinh tuỷ, số lượng đôi dây thần kinh tuỷ ứng với số đốt sống.
+ Giác quan phát triển hoàn chỉnh: Đáng lưu ý là cơ quan thị giác và thính
giác.
cho động vật có màng ối: Bò sát – chim – thú
+ Sinh sản phát triển:
Ở động vật có xương sống, trứng chín gồm 3 loại vỏ: 2 loại được hình thành
trong buồng trứng (màng noãn hoàng; lớp tế bào bao noãn); 1 loại là sản phẩm của
ống dẫn trứng (màng nhày của trứng cá, lưỡng thê; lòng trắng ở chim và vỏ dai hoặc
thấm đá vôi ở trứng Cá sụn, Bò sát, Chim.) các loài phát triển trong môi trường nước
chỉ có màng nhày mềm.
Khối lượng noãn hoàng trong trứng rất thay đổi và nó ảnh hưởng trực tiếp đến
cỡ lớn, cách phân cắt của trứng cũng như quá trình phôi vị hoá. Ngoài ra nó còn ảnh
hưởng tới hình dạng ngoài của phôi và sự phát triển của ấu trùng
Trứng nhiều noãn hoàng: phôi có túi noãn hoàng ở mặt bụng và phát triển
thành con. (Cá- Bò sát- Chim )
Trứng ít noãn hoàng: phôi phát triển không đầy đủ và nở thành ấu trùng; ấu
trùng qua một thời gian sống độc lập mới biến thái thành con (Cá miệng tròn, Lưỡng
thê). Tứng Thú tuy ít noãn hoàng nhưng phát triển khác quy luật trên do sự hình
thành Nhau thai.
Các động vật ở mức tiến hoá thấp (Cá, Lưỡng thê), phôi sau khi ra khỏi trứng
sẽ phát triển ở nước nhờ chất dự trữ (noãn hoàng) và thở bằng mang.
Các động vật ở mức tiến hoá cao: Do phát triển 2 cơ quan mới là màng ối và
màng túi niệu đã giúp chúng phát triển được ở trên cạn. Chính vì vậy các động vật
này đã hoàn toàn tách khỏi đời sống ở nước.
Phân loại.
Phân ngành có xương sống được phân ra 8 lớp: Cá miệng tròn, Cá móng treo,
Cá sụn, Cá xương, Lưỡng thê, Bò sát, Chim và Thú.
Về mối quan hệ: Dựa vào những dẫn liệu cổ sinh, nhiều tác giả cho rằng Cá
miệng tròn (Cyclostomata) phát sinh từ một dòng riêng thuộc nhóm không hàm
(Agnatha) phát triển mạnh ở kỷ Silua, Đêvon nhưng đại bộ phận đã bị tiêu diệt chỉ
còn một lớp tồn tại đến nay.
Các động vật có xương sống còn lại đã xuất phát từ một dòng khác: nhóm có
hàm (Gnathostoma) với đặc điểm chuyển vận tích cực nhờ vây chẵn và bắt mồi nhờ
xương sống
Câu 16. Đặc điểm cấu tạo-sinh học và sinh thái của Cá thích ứng với đời sống ở nước.
Câu 17. Đặc điểm cấu tạo-sinh học và sinh thái của Lưỡng thê thích ứng với đời sống
vừa ở nước, vừa ở cạn.
Câu 18. Đặc điểm cấu tạo-sinh học và sinh thái của Bò sát thích ứng với đì sống hoàn
toàn ở cạn.
Câu 19. Đặc điểm cấu tạo-sinh học và sinh thái của Chim thích ứng với đời sống bay
lượn
Câu 20. Đặc điểm cấu tạo-sinh học và sinh thái của Thú. Đặc điểm và đại diện của
các phân lớp trong lớp Thú.