ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
LỜI NÓI ĐẦU
I. ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.
1 Khoa học và công nghệ và vai trò của khoa học và công nghệ
1.1 Khoa học công nghệ là gì?
1.1.1 Khoa học là gì?
1.1.2 Công nghệ là gì?
1.1.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ.
1.2 Vai trò của khoa học và công nghệ trong các Nghị quyết của các Đại
hội Đảng.
1.2.1 Hồ Chí Minh với khoa học và công nghệ.
1.2.2 Các Nghị quyết của các Đại Hội Đảng nói về vai trò của khoa học
và công nghệ.
2. Ứng dụng khoa học và công nghệ và sự cần thiết phải ứng dụng khoa
học và công nghệ.
2.1 Ứng dụng khoa học công nghệ là gì?
2.2 Sự cần thiết phải ứng dụng khoa học và công nghệ.
II THỰC TRẠNG CỦA ỨNG DỤNG KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ VÀO TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN.
1. Những mặt hạn chế trong ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản
1.1 Cơ chế quản lý của nhà nước trong hoạt động khoa học và công nghệ
của nước ta hiện nay gặp nhiều bất cập.
1.1.1 Việc xác định và thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa
thực sự xuất phát từ nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội.
1.1.2 Vai trò quản lý nhà nước đối với các tổ chức khoa học và công nghệ
chưa phù hợp.
1.1.3 Cơ chế chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi
và sự tự chủ cao cho cá nhân tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ.
1.1.4 Vai trò quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để
1 Tạo lập và phát triển thị trường khoa học và công nghệ
2. Chính sách đối với cán bộ khoa học và công nghệ.
3. Phát động phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học phát
huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật
4. Tăng đẩu tư cho phát triển khoa học và công nghệ từ nhiều
nguồn.
5. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cơ sở chế biến hợp tác quốc
tế về khoa học và công nghệ.
6. Tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản
phẩm đối với doanh nghiệp và cơ sở chế biến.
7. Đổi mới hệ thống quản lý hoạt động khoa học và công nghệ.
8. Đẩy mạnh các hoạt động thông ti, tuyên truyền, phổ cập kiến thức
khoa học và công nghệ.
IV KẾT LUẬN.
2
Lời nói đầu
Ngày 11 tháng 07 năm 2006 chiếc búa đã được gõ xuống quyết định cho
Việt Nam ra nhập thị trường chung thế giới (WTO). Tiếng búa này báo hiệu cho
nền kinh tế Việt nam sẽ có những thuận lợi lớn : Được tiếp cận thị trường hàng
hóa và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên, môi trường kinh doanh của nước ta
sẽ ngày càng được cải thiện, có vị thế bình đẳng như các thành viên khác trong
việc hoạch định chính sách thương mại toàn cầu, thúc đẩy tiến trình cải cách
trong nước, bảo đảm cho tiến trình cải cách đồng bộ và hiệu quả hơn, nâng cao
vị thế của nước ta trên trường quốc tế . Đồng thời tiếng búa đó cũng báo hiệu
cho nền kinh tế Việt nam sẽ phải đứng trước những thử thách lớn như : Cạnh
tranh gay gắt với nhiều đối thủ trên bình diện rộng hơn, sâu hơn; sự phân phối
lợi ích của toàn cầu hóa không đều và có thiệt đối với các nước đang phát triển
trong đó có Việt nam; tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia sẽ tăng và đặt ra
những vấn đề mới trong bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản
sắc dân tộc.
em. Em xin kính mong quý thầy cô giúp đỡ em để em có thể hòan thành tốt đề
án của mình. Em xin chân thành cám ơn.
4
I. ỨNG DỤNG THÀNH TỰU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.
1.Khoa học công nghệ và vai trò của khoa học công nghệ.
1.1 Khoa học công nghệ là gì?
1.1.1Khoa học là gì?
Trong lịch sử tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm khác nhau
về khoa học. Một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội mặt khác
phụ thuộc vào trình độ nhận thứ.
Xét về phương diện xã hội : Khoa học là một hiện tượng xã hội có nhiều
mặt, trong đ ó biểu hiện thống nhất giữa các yếu tố vật chất và những yếu tố tinh
thần.
Về phương diện triết học : Khoa học là một hình thái ý thức xã hội đặc
biệt. Đặc biệt bởi vì khoa học không chỉ phản ánh tồn tại xã hội, phụ thuộc vào
xã hội. Những chân lý của nó được thưc tiễn xã hội kiểm nghiệm
Về phương diện nhận thức luận : Khoa học là giai đoạn cao của nhận thức
giai đoạn nhận thức luận.
Ngày nay thì khoa học được quan niệm một cách phổ biến như sau:
Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người và
về tư duy của con người. Nó nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại,
bản chất của các sự vật hiện tượng, quá trình từ đó chỉ ra những quy luật khách
quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên xã hội tư duy.
Những hệ thống tri thức khoa học không chỉ là sự phản ánh thế giới hiện
thực mà còn được kiểm nghiệm qua thực tế, hệ thống tri thức khoa học được coi
là tri thức khoa học phải đảm bảo tính đúng đắn và tính chân thực. Khoa học đó
là hệ thống chi thức chân thực về tự nhiên xã hội và tư duy. Khoa học là sự tìm
tòi tổng hợp những gì về bản chất của thông tin và của nguyên lý đã được con
người khám phá ra.
1.1.2 Công nghệ là gì?
được các nhà khoa học được cung cấp các phương tiện các công cụ để thực hiện
những công trình nghiên cứu của mình, những phát minh khoa học mở rộng
trong cuộc cách mạng công nghiệp đã được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ.
Nhờ áp dụng phát minh khoa học thời gian nghiên cứu triển khai đã rút ngắn.
1.2 Vai trò của khoa học & công nghệ trong các nghị quyết của các Đại
hội Đảng:
1.2.1 Hồ Chí Minh với khoa học & công nghệ:
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôc qua tâm đến lĩnh vực khoa học &
công nghệ. Người cho rằng, khoa học và kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Người không ngừng
chăm lo bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ khoa học và kỹ thuật để phục vụ cho nước
nhà. Có thể khẳng định, hiểu và đánh giá đúng về vai trò, sức mạnh của khoa
học và công nghệ và biết cách phát huy tối đa sức mạnh đó cho sự nghiệp cách
mạng chính là cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Khoa học phải từ sản xuất mà ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của
Hội phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt nam. Bác Hồ cho rằng: “Khoa học phải
từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhăm
nâng cao năng suất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân,
bảo đảm cho CNXH thắng lợi”. (Hồ Chí Minh toàn tập T11 trang 78). Theo
người muốn công tác phổ biến khoa học kỹ thuật thành phong trào mạnh mẽ,
phải dựa vào lực lượng to lớn của các tổ chức quần chúng như thanh niên, phụ
nữ, công đoàn… đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với các nghành chuyên môn
và các tổ chức khoa học khác. Người đề cao nhiệm vụ dạy bảo các cháu thiếu
niên về khoa học kỹ thuật làm cho các cháu ngay từ nhỏ đã biết yêu khoa học,
để mai sau các cháu trở thành những người có thói quen sinh hoạt và làm việc
một cách khoa học.
1.2.2 Các nghị quyết của Đại hội Đảng nói về vai trò của khoa học &
công nghệ:
Ngay từ khi bắt đầu quá trình Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
hoàn thiện và đổi mới quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực
nước ta là một nước đang phát triển nhiều mặt còn lạc hậu làm sao để rút ngắn
khoảng cách giữa các nước khác một trong những biện pháp là ứng dụng khoa
học công nghệ vào trong sản xuất vì khoa học và công nghệ có vai trò lớn trong
việc thúc đẩy sự phân công lại lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
khoa học và công nghệ cho phép mở rộng khả năng khai thác và nâng cao hiệu
quả sử dụng các nguồn lực của đất nước, góp phần thúc đẩy quá trình hình thành
và chuyển dich cơ cấu kinh tế.
Khoa học công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã
xác định vai trò quan trọng của khoa học công nghệ, có thể nói khoa học và
công nghệ ở mức độ nào đó đóng vai trò vừa như là một giải pháp có tính động
lực thúc đẩy, vừa như một yếu tố tác động trực tiếp vào quá trình phát triển góp
phần làm tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vì vậy việc ứng dụng khoa
học và công nghệ vào trong sản xuất là rất cần thiết đối với tất cả các quốc gia
7
trên thế giới hiện nay đặc biệt là đối với Việt nam năng suất lao động còn thấp,
chất lượng kém, năng lực cạnh tranh yếu thì vấn đề ứng dụng khoa học công
nghệ trở thành một yêu cầu tất yếu để có thể thành công trong nền kinh tế toàn
cầu hóa.
II. THỰC TRẠNG CỦA ỨNG DỤNG KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
VÀO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG, LÂM, THỦY SẢN.
1. Những mặt hạn chế trong việc ứng dụng khoa học công nghệ vào
công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
Hiện nay nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi để phát triển công
nghiệp chế biến, nhưng giá trị sản xuất công nghiệp chế biến so với tiềm năng
sẵn có của từng địa phương còn thấp các cơ sở chế biến từ các sản phẩm nông,
lâm, thủy sản có quy mô còn rất “khiêm tốn” hầu hết là các cơ sở chế biến nhỏ,
chế biến bằng thủ công, vốn, sản lượng hàng hóa ít, chất lượng sản phẩm thấp
chưa tương xứng với thế mạnh tiềm năng của từng vùng. Việc phát triển công
nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản phụ thuộc khá nhiều vào khả năng cung cấp
quốc tế.
1.1.2 Vai trò quảnlý của Nhà nước đối với các tổ chức khoa học và
công nghệ chưa phù hợp.
Vai trò quản lý của Nhà nước đối với các tổ chức khoa hoa học và công
nghệ chưa phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và kinh tế tị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và công nghệ
đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng
điểm và nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức khoa học của Nhà nước
chưa được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch tài chính, nhân lực và hợp
tác quốc tế phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên cứu đào tạo
và sản xuất, kinh doanh, chưa xâ dựng được các tiêu chí cụ thể đánh giá chất
lượng và hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ.
1.1.3 Cơ chế chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện
thuận lợi và sự tự chủ cao cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công
nghệ.
Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho khoa học và công nghệ còn dàn trải,
thiếu tập trung cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm. Thiếu biện pháp hữu
hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho khoa học và
công nghệ. Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích nguyên cứu
ứng dụng khoa học và công nghệ vào trong sản xuất kinh doanh.
1.1.4 Vai trò quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực
để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ:
Chậm chuyển đổi từ cán bộ công chức sang cán bộ viên chức và hợp đồng,
chưa tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu chuyển và đổi mới cán bộ. Thiếu cơ
chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học
và công nghệ đầu nghành và các tập thể khoa học và công nghệ mạnh. Chế độ
tiền lương còn bất hợp lý chưa khuyến khích cán bộ toàn tâm với sự nghiệp
khoa học và công nghệ. Chưa có chính sách cụ thể khuyến khích mạnh lực
lượng khoa học và công nghệ ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát
triển đất nước.