Phát triển & mở cửa hội nhập của Bưu Điện VN trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông thời gian qua - Pdf 12

lời nói đầu
1. Tính Cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong công cuộc đổi mới đất nớc, dới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, ngành Viễn
thông Việt Nam đã đạt đợc những thành tựu nhất định. Viễn thông Việt Nam đã nhanh chóng hiện
đại hoá đợc mạng lới, rút ngắn đáng kể khoảng cách về cơ sở hạ tầng Viênx thôngvới các nớc
trong khu vực cũng nh trên thế giới. Đến hết năm 1998, đã có 61/61 tỉnh thành phố, 100% số
huyện đã đợc trang bị tổng đài điện tử kỹ thuật số, gần 7000/9330 xã có máy điện thoại. Hầu
hết các tỉnh, thành phố, thị xã đã liên lạc trực tiếp khắp cả nớc và các nớc trên thế giới qua 3
tổng đài, 6 trạm vệ tinh và các tuyến cáp quang biển. Đến nay Viênx thôngViệt Nam đã hoà
nhập với mạng thông tin toàn cầu. Tuy nhiên so với thế giới, mật độ điện thoại của Việt Nam vẫn
còn rất thấp. Mật độ điện thoại năm 1997 ở nớc ta mới đạt 1,58 máy/100 dân và trong khi đó ở
Châu á trung bình 5 máy/100 dân, toàn thê giới trung bình 12 máy/100 dân, Hàn Quốc 43,04
máy/100 dân, Singapore là 55 máy/100 dân, Đài Loan là 46,62 máy/100 dân... Mục tiêu đến
năm 2020 ngành Viễn thôngViệt Nam đã phấn đấu đa mật độ điện thoại lên 30 - 35 máy/100
dân tức là gấp 10 - 15 lần hiện nay và phải tiếp tục phát triển và hiện đại hoá mang thông tin
liên lạc quốc gia, mở liên lạc điện thoại đến hầu hết các xã do đại hội VIII đảng cộng sản Việt
Nam đề ra. Để đạt đợc mục tiêu đó, trong giai đoạn từ nay đến hết năm 2020, Viễn thông Việt
Nam đòi hỏi một khối lợng vốn khổng lồ, (khoảng 25 tỷ USD) để phát triển. Bên cạnh đó, trớc
xu thế hội nhập quốc tế ngày càng đợc mở rộng: Từ sản xuất hàng hoá thuần tuý nay đã lan
sang cả lĩnh vực dịch vụ trong đó có dịch vụ Viễn thông diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên
thế giới. Đây là một vấn đề, một đòi hỏi cấp bách đối với dịch vụ Viễn thông Việt Nam khi bớc
vào thế kỷ 21. Đứng trớc những yêu cầu nh vậy, thì từ nay đến năm 2020 dịch vụ Viễn thông
Việt Nam phải có một chiến lợc phát triển phù hợp với tình hình kinh tế xã hội đất nớc, phù hợp
với hiện trạng Viễn thông Việt Nam; để có thể phát huy đợc nội lực, thu hút vốn nớc ngoài và
hội nhập quốc tế. Từ tình hình đó, đề tài Chiến l ợc tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn
thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập quốc tế mang tính cấp thiết và ý nghĩa thực tiễn quan
trọng.
1
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn:
- Khái quát tình hình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong thời gian vừa qua, các xu h-
ớng phát triển Viễn thông trên thế giới và kinh nghiệm mở cửa, hội nhập của một số quốc gia

Chơng I
Tính tất yếu khách quan của hội nhập quốc
tế và những vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực
dịch vụ Viễn thông Việt Nam
Mục đích của chơng này đi vào tìm hiểu tình hình hội nhập kinh tế quốc tế của
Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời nêu lên các xu hớng phát triển Viễn thông
trên thế giới và nghĩa vụ tự do hoá dịch vụ Viễn thông của Việt Nam khi tham gia vào
các tổ chức kinh tế quốc tế. Để rút ra đợc những kinh nghiệm và bài học cho chiến lợc
tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông của Việt Nam trong thời gian tới,
trong chơng này khái quát một số kinh nghiệm và bài học mở cửa thị trờng dịch vụ
Viễn thông của một số nớc trên thế giới. Chơng I bao gồm 4 vấn đề đợc trình bày
sau:
I. Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế
giới
II. Viễn thông Việt Nam trớc xu thế hội nhập
III. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc tự do hóa và mở cửa thị
trờng dịch vụ Viễn thông Việt Nam
IV. Kinh nghiệm và lộ trình mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông
các nớc trong khu vực và trên thế giới
I - Hội nhập quốc tế -Một xu thế tất yếu của các quốc gia
trên thế giới
Hội nhập đã trở thành một trào lu không thể đảo ngợc, và việc tham gia của các
quốc gia vào tiến trình này là tất yếu với thực tế là các thể chế chính trị, kinh tế thơng
mại toàn cầu, liên khu vực vẫn không ngừng đợc củng cố và phát triển cả về lợng và
chất
1.Tình hình hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian qua
Hai thập kỷ qua, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đã thực sự bớc sang
một giai đoạn mới -Giai đoạn toàn cầu hoá Cơn lốc hoà nhập kinh tế đã cuốn tất cả
các nớc trên thế giới từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam với tốc độ nhanh đến
chóng mặt. Các nền kinh tế trên hành tinh xâm nhập lẫn nhau, liên kết với nhau, đa

do hoá mậu dịch với biện pháp bãi bỏ hàng rào thuế quan đã giúp cho nền thơng mại
thế giới phát triển một cách ngoạn mục một sự phát triển trong cạnh tranh gay gắt,
thị trờng của các quốc gia trên thế giới đợc khai thông và mở rộng trên mọi lĩnh vực.
Nếu nh trớc kia thơng mại thế giới chỉ tập trung vào những mặt hàng truyền thống thì
nay nó còn lan ra cả dịch vụ, bất động sản...Theo nhận xét của báo Tấm gơng
(Đức)tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới từ năm 1991 cho tới năm 1998 nhanh hơn
5
gấp đôi tốc độ tăng trởng GDP của thế giới ví dụ :Tốc độ tăng trởng GDP của thế giới
năm 1994 là 3,9% trong khi đó tốc độ tăng trởng thơng mại thế giới là 9,5%. Tơng tự
năm 1995:3,6%và 8%;năm 1996:4,1%và 7% ;năm 1997:4,1% và 9,4%. Mặc dù trong
năm 1998,bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á nhng tốc độ
tăng trởng thơng mại thế giới vẫn đạt 3,7%.
Tổ chức thơng mại thế giới - WTO và các tổ chức mậu dịch tự do khu vực nh
liên hiệp châu âu -EU, diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái bình dơng - APEC, khu
vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ-NAFTA, khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA..đã
đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tự do hoá thơng mại thế giới. Trong đó tổ
chức thơng mại thế giới WTO ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
xu hớng toàn cầu hoá thơng mại. Tại hội nghị cấp bộ trởng lần thứ nhất của WTO họp
ở xingapore với 128 nớc tham gia đã thông qua đợc hiệp định công nghệ thông tin
ITA bao gồm việc xoá bỏ hàng rào thuế quan đối với các mặt hàng bán dẫn, các sản
phẩm thông tin Viễn thông và các thiết bị máy tính, phần mềm và các thiết bị khoa
học. Tiếp nối các hiệp định ban đầu của vòng đàm phán uruguay, vòng đàm phán
Singapore càng thúc đẩy hơn nữa trong quá trình tự do hoá thơng mại toàn cầu
Nh vậy toàn cầu hoá với việc ra đời của EU, NAFTA, AFTA...và đặc biệt là
WTO đã đánh dấu thời đại của hàng rào thuế quan cao, của cách thức đóng cửa khác
nhau ở các thị trờng, của một số đặc quyền ít ỏi trong mậu dịch quốc tế dành cho các
nớc phát triển đã chấm dứt. Buôn bán quốc tế đã chuyển sang một thời đại mới, thời
đại của tự do hoá thơng mại thế giới
1.3 FDI và vai trò của các công ty đa quốc gia
Vai trò ngày càng tăng của đầu t trực tiếp nớc ngoài FDI là một nhân tố rất

âu. Sự kiện này đã khép kín cạnh thứ ba của tam giác liên kết kinh tế liên lục địa trên
thế giới, mà hai cạnh trớc đã có từ trớc là diễn đàn kinh tế châu á Thái bình dơng
APEC gắn liền với các nớc châu á và châu mỹ ở ven hai bờ Thái bình dơng, và khu
vực mậu dịch xuyên Đại Tây Dong TAFTA giữa Hoa Kỳ và Bắc Mỹ với EU và Tây
Âu
Trong những năm qua, các tổ chức liên kết tiểu khu vực và khu vực tiếp tục
phát triển. ở châu Phi, cộng đồng kinh tế các nớc Tây phi (ECOWAS) nằm trong khu
vực nghèo nhất thế giới gồm 16 nớc thành viên trong đó có Nigeria, Ghana, Mali,
Senegan...đã xúc tiến từng bớc việc thiết lập liên minh hải quan vào năm 2000 và liên
minh kinh tế toàn diện vào năm 2005. Cũng tại lục địa đen, 12 nớc thành viên Cộng
đồng phát triển phía nam Châu phi -SADC đã ký nghị định th vào năm 1996 thành lập
khu vực mậu dịch tự do với 130 triệu dân và kêu gọi cắt giảm thuế quan trong thời hạn
tối đa 8 năm
Các nớc ở Nam Mỹ đang tiến tới thiết lập khu vực buôn bán tự do châu Mỹ
khổng lồ FTAA vào năm 2005, tạo ra một khối buôn bán tự do lớn thứ t trên thế giới
7
với 250 triệu ngời tiêu dùng và có GĐP là 800 tỷ USD. Các hàng rào thuế quan giữa
các nớc này dự định sẽ huỷ bỏ vào năm 2004
Tại châu á, trong những năm qua xu hớng hợp tác tiểu khu vực phát triển
mạnh.Việc Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc, Mông Cổ, Nga ký kết các
hiệp định thành lập khu vực phát triển kinh tế vùng sông Turmen ở Đông Bắc A hồi
tháng 12/1995 đã mang đến sinh khí mới cho hợp tác kinh tế ở vùng này. Tại hội nghị
quốc tế ở Bắc Kinh với chủ đề đẩy mạnh phát triển và hợp tác khu vực giữa các nớc
đông Bắc á trong thế kỷ 21, các học giả nhất trí cho rằng khi nền kinh tế khu vực
Thái Bình Dơng phát triển mạnh, vùng Đông Bắc á nên tăng cờng hợp tác khu vực
nhằm tạo một thị trờng có tiềm lực lớn. Tại khu vực Nam á, 7 nớc trong tổ chức
SAARC -Hiệp hội các quốc gia Nam á vì sự hợp tác khu vực trong đó có ấn Độ,
Pakistan đã đồng ý huỷ bỏ hàng rào buôn bán càng nhanh càng tốt nhằm tăng cờng
buôn bán và hợp tác khu vực trong các liên doanh, đầu t và kỹ thuật với hy vọng thành
lập đợc một khu vực buôn bán giống nh ASEAN

đơn xin gia nhập và trong hai năm 1997, 1998 Việt Nam đã chuẩn bị cho các vòng
đàm phán gia nhập WTO với tổ công tác và các nớc quan tâm.
Trong thời gian qua, tiếp theo việc bình thờng hoá quan hệ ngoại giao giữa
Việt nam và Mỹ, hai nớc đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để ký kết các hiệp định
kinh tế song phơng về các vấn đề về nợ , bản quyền, từng bớc bình thờng hoá quan hệ
kinh tế thơng mại. Song song với những việc trên, trong những năm qua Việt Nam
tích cực hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế nh WB, IMF... nhằm tận dụng một
cách có hiệu quả sự hợp tác của các tổ chức đó phục vụ tiến trình phát triển kinh tế và
hội nhập quốc tế của mình. Nhng có một điều là tất cả sự hợp tác, quan hệ trên đều
phải lấy các nguyên tác của WTO làm tiêu chuẩn.
3. Những cơ hội và thách thức với Việt Nam trong quá trình mở cửa và
hội nhập kinh tế quốc tế.
Đối với Việt Nam là một nớc đang phát triển, có nền kinh tế chuyển đổi, tham
gia hội nhập với xuất phát điểm thấp hơn nhiều so với nhiều nớc trên thế giới.Vì vậy,
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế một mặt đang mở ra nhiều cơ hội cho chúng ta, mặt
khác cũng đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức lớn lao.
3.1. Những lợi ích của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn đầu của công cuộc công nghiệp hoá
đất nớc. Việt Nam mở cửa và hội nhập vào kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho Việt
Nam thay đổi cơ cấu kinh tế thích hợp hớng công nghiệp hoá và xuất khẩu, tạo cơ hội
để phát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thơng mại và dịch vụ.
+ Việt Nam sẽ không bị phân biệt đối xử trong thơng mại quốc tế và mở rộng
đợc nhiều thị trờng xuất khẩu ra bên ngoài do việc đợc hởng quy chế tối huệ quốc
(MFN) và u đãi quốc gia (NT) của các nớc thành viên, đặc biệt là các mặt hàng xuất
khẩu mà ta có lợi thế so sánh nh gạo, cà phê, hải sản, may mặc, dày dép...
9
Ví dụ: Việc Việt Nam tham gia vào APEC sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam hợp
tác về thơng mại với các nớc khu vực châu á - Thái Bình dơng. Thơng mại giữa Việt
Nam và các nớc trong khu vực châu á - Thái Bình Dơng chiếm hơn 80% tổng lợng th-
ơng mại quốc tế của Việt Nam. Tham gia vào APEC sẽ giúp Việt Nam khai thác đợc

10
quan đến đầu t nớc ngoài nh yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, phần trăm hàng xuất khẩu
trong các dự án đầu t.
+ Việt Nam phải tiếp tục cải cách hệ thống thơng mại và kinh tế của mình phù
hợp với các qui định của các tổ chức kinh tế quốc tế. Các khu vực cần phải cải cách
hơn nữa gồm hệ thống giá, chế độ xuất nhập khẩu, hệ thống thuế và tài chính, các
hoạt động thơng mại của khu vực doanh nghiệp Nhà nớc và bảo hộ quyền tác giả. Các
nghĩa vụ khác Việt Nam sẽ phải thực hiện bao gồm: Minh bạch hoá chế độ thơng mại,
áp dụng thống nhất chính sách thơng mại trên phạm vi cả nớc; và có thời gian biểu
cho quá trình cải cách kinh tế.
3.2.2. Những thách thức:
+ Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều yếu kém. Việc mở cửa và hội nhập kinh tế
quốc tế có nhiều nội dung liên quan đến tự do hoá thơng mại và đầu t, và điều này
trong thời gian đầu sẽ gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định. Cùng với những
khía cạnh tích cực của tự do cạnh tranh, thì mặt tiêu cực cũng sẽ ảnh hởng rất lớn nếu
nh cải cách trong nớc không đợc thực hiện kịp thời và đúng lợng.
+ Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp vả lại
đang trong quá trình chuyển đổi. Vì vậy việc hoạch định một chính sách kinh tế thơng
mại sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tạo đợc những điều kiện hợp lý để tăng
cờng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vẫn là một điều nan giải khó có thể giải
quyết đợc trong thời gian ngắn.
+ Một điều tất yếu là trong quá trình hội nhập Việt Nam sẽ phải giảm thuế xuất
nhập khẩu. Việc giảm thuế sẽ ảnh hởng trực tiếp đến nguồn thu ngân sách vốn thu đã
không đủ chi.
+ Hội nhập kinh tế quốc tế là một lĩnh vực hoàn toàn mới lạ đối với Việt Nam.
Trong khi đó đội ngũ cán bộ của Việt Nam còn khá yếu kém cả về kiến thức chung,
cũng nh kiến thức chuyên ngành có liên quan đến vấn đề hội nhập.
+ Một thực tế cho chấy, hiện nay hầu hết các ngành kinh tế Việt Nam từ sản
xuất đến dịch vụ cha chuẩn bị hay cha xây dựng một chiến lợc thống nhất về hội nhập
để tăng cờng sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam, biểu tợng Việt Nam trên thơng

các dịch vụ cơ bản đóng vai trò quan trọng hơn xét từ góc độ kinh tế, kỹ thuật cũng
nh chủ quyền an ninh quốc gia. Nói chung trong thời gian tới việc tự do hoá, mở cửa
thị trờng Viễn thông ở các quốc gia, các tổ chức khu vực đều dựa trên nguyên tắc của
WTO về dịch vụ Viễn thông trong hiệp định chung về thơng mại dịch vụ.
12
Phân loại dịch vụ Viễn thông trong WTO/ GATS
I. Các dịch vụ Viễn thông cơ bản:
1. Các dịch vụ thoại.
2. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch gói.
3. Các dịch vụ truyền số liệu chuyển mạch kênh.
4. Các dịch vụ TELEX.
5. Các dịch vụ Telegraph.
6. Các dịch vụ Facsimile.
7. Các dịch vụ cho thuê kênh riêng.
8. Các dịch vụ nhắn tin.
9. Các dịch vụ di động tế bào số/analogue.
10. Các dịch vụ thông tin vệ tinh.
11. Các dịch vụ thông tin các nhân (PCS)
12. Các dịch vụ dữ liệu di động.
13. Các dịch vụ khác.
II. Các dịch vụ giá trị gia tăng.
1. Dịch vụ th điện tử (E mail)
2. Dịch vụ th thoại.
3. Dịch vụ khôi phục thông tin và cơ sở dữ liệu trực tuyến (on line)
4. Dịch vụ trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
5. Dịch vụ Facsimile gia tăng giá trị/cải tiến tính năng (gồm cả dịch vụ lu trữ
và tự động chuyển, la trữ và khôi phục).
6. Dịch vụ chuyển đổi mã và giao thức.
7. Dịch vụ xử lý thông tin và / hoặc số liệu trực tuyến (kể cả dịch vụ xử lý các
giao dịch kinh doanh).

thị trờng dịch vụ Viễn thông sẽ đem đến nhiều bất lợi nhng trớc xu thế toàn cầu hoá
tất cả các lĩnh vực kinh tế đồng thời trớc sức ép của các nớc phát triển, các nớc này
cũng đã cam kết sẽ tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông từ nay đến năm
2020.
Hiện tại giá trị doanh thu từ Viễn thông quốc tế chỉ chiếm khoảng trên 10%
trong tổng số 670 tỷ USD của thị trờng Viễn thông toàn cầu. Tuy nhiên, với kết quả
đạt đợc của GBT trong WTO, với xu thế toàn cầu hoá ngày càng tăng, sự thay đổi
nhanh chóng của công nghệ và xu thế cạnh tranh ngày càng tăng, tỷ lệ trên có thể tăng
lên 15-20% vào đầu thế kỷ tới.
14
1.2. Xu hớng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hớng khuyến
khích cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực t nhân trong
khai thác dịch vụ Viễn thông.
Hiện nay trên thế giới đặc biệt là ở các nớc đang phát triển, thị trờng dịch vụ
Viễn thông vẫn do một hoặc hai công ty khai thác Viễn thông duy nhất thống trị về
mặt truy nhập nội hạt và lu lợng đờng dài trong nớc và quốc tế. Đồng thời các công ty
này cũng thống trị luôn trong lĩnh vực thông tin di động. Với việc độc quyền đã làm
cho giá cả thờng mất cân đối, các công ty thống trị không khuyến khích giảm chi phí
hay nâng cao hiệu quả kinh doanh. Tất nhiên vấn đề độc quyền trong Viễn thông có
liên quan đến an ninh quốc phòng. Nhng trớc xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá trong
khai thác dịch vụ Viễn thông, hầu nh Chính phủ các nớc trên thế giới đã cho phép
thêm nhiều công ty đợc tham gia vào thị trờng dịch vụ Viễn thông. Các lĩnh vực
khuyến khích các công ty tham gia khác thác thờng là các lĩnh vực hấp dẫn, có lợi
nhuận cao nh là các dịch vụ đờng dài quốc tế, di động, các thiết bị đầu cuối khách
hàng và các dịch vụ giá trị gia tăng. Việc tăng số công ty đợc tham gia khai thác dịch
vụ Viễn thông nhằm tăng cờng sự tham gia của các thành phần kinh tế trong và ngoài
nớc tham gia vào quá trình cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy Viễn thông phát triển.
Tuy nhiên việc đa cạnh tranh vào lĩnh vực dịch vụ Viễn thông không phải là một quá
trình xảy ra nhanh chóng kể cả những nớc công nghiệp phát triển nh Anh, Mỹ,
Pháp.... Thông thờng lúc đầu Chính phủ chỉ cho phép hai hoặc ba công ty cạnh tranh

các nớc phát triển và các nớc đang phát triển. Xu thế này ngày càng tăng khi mà tự do
hoá Viễn thông đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới
Tóm lại, xu hớng cải cách mạnh mẽ ngành Viễn thông theo hớng khuyến khích
cạnh tranh và khuyến khích sự tham gia của khu vực t nhân trong khai thác dịch vụ
Viễn thông ngày càng phổ biến gần nh toàn bộ các nớc trên thế giới với mục tiêu tăng
cờng hiệu quả hoạt động quản lý Nhà nớc, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ, huy động đợc nhiều nguồn vốn đầu t nhằm đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu ngày càng tăng về thông tin Viễn thông của xã hội và ngời sử
dụng
Khi xem xét hai xu hớng chủ yếu về Viễn thông kể trên phải kể đến vai trò của
các công ty đa quốc gia - MNCs trong lĩnh vực khai thác dịch vụ Viễn thông. Chính
các công ty này là chất xúc tác cho quá trình toàn cầu hoá, tự do hoá Viễn thông. Các
MNCs đã xây dựng một mạng lới thông tin có tính toàn cầu từ đầu này đến đầu kia,
không chia cắt, phục vụ thông tin quá "tất cả một cửa". Khi các hiệp ớc, hiệp định về
tự do hoá thơng mại dịch vụ Viễn thông giữa các nớc đợc thực hiện thì các MNCs th-
ờng thờng hay liên minh với các công ty khai thác nhà nớc ở nớc sở tại để xâm nhập
vào thị trờng các nớc này. Hiện tại, các MNCs trong Viễn thông chủ yếu tập trung ở
các nớc phát triển Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Với lợi thế về vốn, công nghệ, thị tr-
ờng các MNCs ngày càng xâm nhập sâu vào tất cả các loại hình dịch vụ Viễn thông,
từ dịch vụ giá trị gia tăng cho đến dịch vụ cơ bản.
16
1.3. Xu hớng hội tụ công nghệ Viễn thông - Tin học - Phát thanh
truyền hình và đa phơng tiện.
Bớc vào thập kỷ 90, đi đôi với sự tiến bộ và hoà nhập vào nhau của kỹ thuật
Viễn thông và kỹ thuật tin học, đi đôi với việc thúc đẩy tin học hoá toàn cầu và dần
dần nới lỏng việc quản chế thị trờng Viễn thông, ngành Viễn thông, ngành tin học và
phát thanh truyền hình trên thế giới đã hoà quyện, xâm nhập, chồng lấn nghiệp vụ lẫn
nhau, ranh giới phân cách giữa các ngành nghề trớc kia ngày càng không rõ ràng. Sự
hoà nhập về kỹ thuật thúc đẩy sự hoà nhập về mạng lới, hoà nhập về nghiệp vụ và hoà
nhập về thị trờng. Xu hớng này đợc chứng minh bởi sự sáp nhập và liên hợp ngày

của "Xã hội thông tin".
2. Tự do hoá dịch vụ Viễn thông - nghĩa vụ của Việt Nam khi tham gia
các tổ chức kinh tế quốc tế.
Năm 1995, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN đã mở
ra một thời kỳ mới cho kinh tế đối ngoại đó là thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Đến
tháng 8 năm 1998, Việt Nam đợc kết nạp vào tổ chức kinh tế châu á - Thái Bình D-
ơng - APEC. Và trong thời gian tới Việt Nam đang nỗ lực đàm phán, thơng lợng để đ-
ợc gia nhập vào Tổ chức thơng mại thế giới WTO, và cũng đang tiến hành thơng lợng
với Hoa Kỳ để đi đến ký hiệp định thơng mại giữa hai nớc. Tuy nhiên để hội nhập đầy
đủ vào các tổ chức này thì Việt Nam phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà các tổ
chức kinh tế quốc tế yêu cầu trong đó có nghĩa vụ tự do hoá thơng mại dịch vụ. Trớc
xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông trên thế giới,
thì vấn đề tự do hoá Viễn thông là một yêu cầu, một nghĩa vụ cấp bách đối với Việt
Nam khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt để đợc gia nhập vào WTO cũng
nh ký đợc hiệp định thơng mại Việt Mỹ thì tự do hoá dịch vụ Viễn thông là một trong
những vấn đề luôn đợc đặt lên hàng đầu.
2.1. Trong tổ chức thơng mại thế giới - WTO.
Sau vòng đàm phán Uruguay, quá trình tự do hoá thơng mại đợc mở rộng ra đối
với cả thơng mại dịch vụ. Hiệp định chung về thơng mại dịch vụ GATS là nỗ lực đầu tiên
để đa lĩnh vực thơng mại dịch vụ theo những nguyên tắc điều tiết của thơng mại đa biên.
GATS đa ra một số quy định về nghĩa vụ chung và những yêu cầu cụ thể trong thơng mại
dịch vụ. GATS đề cập đến một số khái niệm, nguyên tắc và quy định cho phép các nớc
đang phát triển linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quá trình tự do hoá thơng mại dịch vụ.
Trong vòng đàm phán Uruguay về thơng mại đa biên, 11 ngành dịch vụ đã đợc đa ra đàm
phán trong đó có lĩnh vực dịch vụ Viễn thông.
Hiện tại, thị trờng dịch vụ Viễn thông ở Việt Nam vẫn đợc chính phủ bảo hộ ở
mức khá cao. Chỉ có 3 công ty đợc phép khai thác dịch vụ Viễn thông đó là: Tổng
công ty Bu chính - Viễn thông Việt Nam - VNPT; Công ty Viễn thông quân đội -
VIETTEL; Công ty cổ phần Viễn thông Sài Gòn - SPT. Còn đối với các công ty nớc
ngoài chỉ đợc khai thác dịch vụ Viễn thông dới dạng hợp đồng hợp tác kinh doanh -

gì lớn về mở cửa thị trờng.
2.3. Trong tổ chức kinh tế châu á - Thái bình dơng (APEC).
Về tiến trình tự do hoá các hoạt động Viễn thông trong APEC đều nhằm vào
mục tiêu nh đã đặt ra trong hội nghị cấp cao không chính thức AELM lần 2 (Bogor,
1994) và AELM lần 3 (Osaka, 1995), tức là thực hiện liên tục giảm những hạn chế,
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho thơng mại dịch vụ, dành cho nhau u đãi
tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia đi theo tiến trình của hiệp định đàm phán Uruquay
về thơng mại dịch vụ GATS của tổ chức thơng mại thế giới WTO.
19
APEC hoạt động trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện thể hiện ở hai điểm:Thứ
nhất, APEC chỉ là một diễn đàn t vấn kinh tế liên chính phủ nhằm xúc tiến sự hợp
tác, tăng trởng và phát triển của khu vực. Thứ hai, APEC chỉ là một diễn đàn t vấn
kinh tế nên nó không đa ra những chỉ thị, nguyên tắc có tính chất bắt buộc đối với các
thành viên, mọi hoạt động hợp tác đều dựa trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với lợi ích
của các bên. Do vậy trong quá trình hợp tác, Việt Nam có thể tham gia ở lĩnh vực và
mức độ nào đó mà Việt Nam đủ khả năng. APEC đa ra chơng trình tự do hoá mậu
dịch đối với cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng là năm 2010 với các nớc phát triển và
năm 2020 với các nớc thành viên đang phát triển. Mỗi nớc thành viên đợc tuỳ ý, căn
cứ vào thực tiễn đất nớc mình mà đa ra một kế hoạch hành động trong đó vạch rõ lộ
trình cắt giảm thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác gây cản trở thơng mại và
đầu t. Vì vậy trớc mắt Viễn thông Việt Nam sẽ không gặp nhiều khó khăn khi tham
gia APEC vì Việt Nam có thể tạm thời dùng những cam kết của Việt Nam với
ASEAN và trong hiệp định thơng mại Việt-Mỹ để áp dụng với APEC. Ngoài ra một
lợi thế khác là Việt Nam cha gia nhập WTO.
Tuy nhiên, xét về mặt lâu dài thì Việt Nam không tránh khỏi phải chịu một sức
ép ngày càng tăng đối với tiến trình tự do hoá thơng mại các dịch vụ Viễn thông, mốc
cuối cùng đối với Việt Nam là 2020 - tức là đến 2020 Việt Nam phải tự do hoá thị tr-
ờng dịch vụ Viễn thông dành cho nhau các u đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia.
Ngoài ra, do tính chất ràng buộc lẫn nhau của các nguyên tắc trong WTO, ASEAN và
APEC, việc Việt Nam tham gia các hoạt động về Viễn thông trong APEC cũng sẽ gặp

của các tổ chức thơng mại quốc tế và khu vực, có thể thấy Viễn thông Việt Nam sẽ
gặp phải một số thách thức chủ yếu khi tiến hành tự do hoá và hội nhập quốc tế về
dịch vụ Viễn thông sau:
+ Hiện tại Việt Nam vẫn cha có Luật Bu chính - Viễn thông, hệ thống luật và
văn bản pháp lý có liên quan nói chung cũng cha đợc hoàn thiện và đồng bộ. Điều này
gây khó khăn rất lớn cho Việt Nam trong việc công khai hoá thể chế chính sách của
Viễn thông Việt Nam khi tham gia đàm phán với các tổ chức kinh tế quốc tế cũng nh
quá trình xây dựng lộ trình hội nhập về dịch vụ Viễn thông. Mặt khác với thể chế
quản lý yếu kém và lạc hậu tồn tại trong một thời gian dài đã ảnh hởng không ít tới sự
phát triển của Viễn thông Việt Nam.
+ Hội nhập cũng đồng nghĩa với việc đứng trớc những áp lực về mở cửa thị tr-
ờng, dành u đãi tối huệ quốc và đãi ngộ quốc gia cho các nớc, các công ty và tổ chức
kinh doanh khai thác dịch vụ Viễn thông nớc ngoài. Trong khi đó các công ty trong n-
ớc nhất là Tổng Công ty Bu chính Viễn thông Việt Nam do hoạt động trong một môi
trờng độc quyền với một thời gian dài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do sức ép cạnh tranh
từ việc mở cửa thị trờng. Mặt khác so với các công ty khai thác dịch vụ Viễn thông
trên thế giới thì các công ty của Việt Nam còn thu kém rất nhiều mặt: Công nghệ, tài
chính, thị trờng, kinh nghiệm quản lý... và một điều quan trọng là các công ty này đợc
hoạt động trong một môi trờng cạnh tranh khá dài cho nên kinh nghiệm kinh doanh
của họ hơn hẳn các công ty Việt Nam. Do vậy trong thời gian tới, việc tự do và mở
21
cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông đồng nghĩa với việc các công ty trong nớc sẽ mất dần
thị trờng do không đủ sức cạnh tranh với các công ty nớc ngoài.
+ Việc tự do và mở cửa thị trờng dịch vụ Viễn thông dẫn đến việc thành lập
nhiều công ty trong nớc cũng nh cho phép các công ty nớc ngoài cùng tham gia vào
khai thác dịch vụ Viễn thông. Đối với các công ty, đặc biệt là các công ty nớc ngoài,
với họ lợi nhuận vẫn đặt lên hàng đầu. Do vậy các công ty khai thác dịch vụ sẽ tập
trung tranh giành thị trờng ở các vùng thành thị, khu công nghiệp và mảng thị trờng
sinh lợi cao trong khi những vùng sâu, vùng xa và các mảng thị trờng không sinh lợi,
mang tính chất công ích không ai làm, dẫn đến sự mất cân đối trong việc phát triển

Toàn cầu hoá hiểu theo nghĩa rộng là sự gia tăng trong giao lu quốc tế về kinh
tế xã hội, văn hoá và chính trị trên toàn thế giới. Về kinh tế nó có nghĩa là sự di
chuyển ngày một tăng của các loại hàng hoá, dịch vụ tài chính và các yếu tố của quá
trình sản xuất. Khi các quốc gia cùng tham gia vào tiến trình toàn cầu hoá thì các
quốc gia đó đang hội nhập với thế giới. Ngày nay quá trình toàn cầu hoá và khu vực
hoá trong quan hệ quốc tế không còn là xu hớng mà đã trở thành quy luật khách quan.
Tuy nhiên, để thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội nhập, phụ thuộc rất nhiều vào điều
kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi nớc, trong đó việc hoạch định chiến lợc tự do hoá và
mở cửa thị trờng đúng đắn cho mỗi ngành và các biện pháp thực hiện chiến lợc đó có
vai trò đặc biệt quan trọng. Việc đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền về kinh tế thế
giới thực sự là một thử thách to lớn, đặc biệt là ở các nớc đang phát triển với những
điều kiện không thuận lợi nh Việt Nam.
Tự do hoá và mở cửa thị trờng bắt nguồn từ quá trình phát triển về kinh tế của
các nớc có nền về kinh tế thị trờng phát triển cao. Khi các thành phần kinh doanh
trong nền về kinh tế đứng trớc những áp lực gia tăng của thị trờng do cạnh tranh gay
gắt và đòi hỏi Chính phủ phải nới lỏng những ràng buộc cứng nhắc của các luật lệ,
quy chế gây cản trở kinh doanh và bỏ dần sự can thiệp sâu. Điều này đã giúp cho các
thành phần về kinh tế phát triển với quy mô toàn cầu bất chấp sự khác biệt về thể chế
chính trị cũng nh trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia khác nhau và trở thành
chất xúc tác quan trọng cho công cuộc phát triển kinh tế thế giới trong quá trình toàn
cầu hoá. Nh vậy, tự do hoá và mở cửa thị trờng là một chiếc cầu nối để giúp cho nền
kinh tế nớc đó hội nhập một cách đầy đủ vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Quan
hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá, mở cửa thị trờng là mối quan hệ hai
chiều, nghĩa là tự do hoá và mở cửa thị trờng góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập
kinh tế quốc tế, ngợc lại hội nhập kinh tế quốc tế tác động tích cực tới việc tự do hoá
và mở cửa thị trờng. Thực tế cho thấy, nhiều quốc gia khi tham gia hội nhập kinh tế
quốc tế thì việc tự do hoá và mở cửa thị trờng là một nghĩa vụ, một yêu cầu cấp bách,
và Việt nam cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ .
2. Tính cấp thiết phải xây dựng chiến lợc:
Trong thời gian đầu quá trình tự do hoá và mở cửa thị trờng diễn ra ở lĩnh vực

Vậy chiến lợc tự do hoá và mở cửa dịch vụ viễn thông là gì?
* Xét một cách tổng thể thì chiến lợc là tập hợp những mục tiêu chiến lợc có
tính chất dài hạn và những nhiệm vụ của một doanh nghiệp, một ngành, một lĩnh vực
nào đó với hệ thống các giải pháp, chính sách, kế hoạch hành động thực hiện đồng bộ
để đạt đợc các mục tiêu đó một cách hiệu quả nhất.
Nh vậy, một chiến lợc bao giờ cũng có tính chất dài hạn thờng từ 10-20 năm,
nó luôn mang tính tổng hợp và linh hoạt cho phép khai thác một cách tối u nguồn lực
bên trong và bên ngoài để thực hiện đợc chiến lợc đó.
24
* Trong các doanh nghiệp thì chiến lợc đợc cụ thể hoá dới góc độ là chiến lợc
kinh doanh của một doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát
triển thì phải xây dựng một chiến lợc kinh doanh phù hợp với thực trạng của doanh
nghiệp đó. Chiến lợc kinh doanh là sự tập hợp một cách thống nhất các mục tiêu, các
chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh chiến lợc tổng thể
nhất định. Chiến lợc kinh doanh đợc xem xét nh một quá trình ra quyết định trong đó
các nhà quản lý, những ngời ra quyết định cần phải phân tích môi trờng kinh doanh,
đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty, xây dựng các mục tiêu và tìm
kiếm các nguồn lực, các biện pháp cần thiết để đạt đợc mục tiêu đó. Mục tiêu là sự cụ
thể hoá định hớng chiến lợc của doanh nghiệp. Mục tiêu bao giờ cũng đợc phân thành
mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, căn cứ vào đó để đề ra các nhiệm vụ thích
hợp cho mỗi giai đoạn. Muốn mục tiêu đề ra sát tình hình thực tế và có tính khả thi
phải đảm bảo các điều kiện sau:
+ Thứ nhất, các mục tiêu phải cụ thể hoá không đợc chung chung để các cấp
có thể kiểm soát việc thực hiện chúng.
+ Thứ hai, mục tiêu đề ra cần đợc giới hạn thời gian hoàn thành cụ thể. Đây
không chỉ là đặt ra cái mà Công ty phải đạt đợc mà đòi hỏi quy định thời hạn cho mỗi
mục tiêu.
+ Thứ ba, muốn nâng cao hiệu quả công tác quản lý và duy trì sự bền vững
của Công ty thì mục tiêu là cái đích có thể đạt đợc. Việc xác định mục tiêu vợt quá
khả năng (thiếu nguồn lực, không đủ điều kiện...) sẽ dẫn tới những hậu quả xấu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status