đúng thực trạng và nguyên nhân nghèo đói, đề xuất những giải pháp chủ yếu XĐGN
trên địa bàn Quảng Trị MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi lịch sử phát triển của xã hội loài người có sự phân chia gia cấp, vấn
đề phân biệt giàu nghèo đã xuất hiện và cho đến nay vẫn đang tồn tại như một thách
thức lớn đối với sự phát triển bền vững của từng Quốc gia, từng khu vực và toàn bộ
nền văn minh hiện đại của nhân loại. Mục tiêu xoá đói giảm nghèo (XĐGN) luôn
được đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội không chỉ ở nước ta mà còn ở
nhiều nước trên thế giới. Vì vậy, những năm gần đây nhiều quốc gia và tổ chức
quốc tế rất quan tâm tìm các giải pháp hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảng cách
phân hoá giàu, nghèo trên phạm vi toàn thế giới.
Ở nước ta, xóa đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong quá
trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản trong hoạt động của mình là giải phóng dân
tộc, xây dựng chế độ mới để đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân, mọi gia
đình Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, Đảng và Nhà nước phải tạo điều
kiện "Làm cho người nghèo đủ ăn. Người đủ ăn thì khá. Người khá, giàu thì giàu
thêm" [13, tr 303].
Vấn đề xóa đói giảm nghèo đã được đưa vào mục tiêu, kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm (1996-2000). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996)
đã khẳng định:"Thực hiện tốt chương trình XĐGN, nhất là đối với vùng căn cứ
quân sự cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số". Đại hội IX (năm 2001) tiếp
tục khẳng định hướng đi đó và nhấn mạnh: "Việc tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với
xóa đói giảm nghèo ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình Công nghiệp
hóa-Hiện đại hóa đất nước. Phấn đấu đến năm 2010, về cơ bản không còn hộ
nghèo" [14]. Công cuộc đổi mới của đất nước đã đạt được những thành tựu vượt
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
- Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hòa, “Phân hóa giàu - nghèo ở một số Quốc gia
khu vực Châu Á-Thái Bình Dương”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.
- Ngô Quang Minh, “Tác động kinh tế của nhà nước góp phần XĐGN trong
quá trình Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999.
- Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo "XĐGN
vùng dân tộc thiểu số: Phương pháp tiếp cận", năm 2001. - Trần Thị Hằng, "Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay", Nxb Thống kê, năm 2001.
- Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, “Nghèo đói và XĐGN ở Việt Nam”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Hội thảo nghiên cứu giảm nghèo ở nông thôn từ cách tiếp cận vi mô. Chương
trình nghiên cứu Việt Nam, Hà Lan (VNRP), Đà Nẵng năm 2002.
- Ngân hàng Thế giới “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam” năm 2004
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều khía cạnh của
vấn đề XĐGN. Đây là những tư liệu khoa học quý sẽ được tiếp thu có chọn lọc
trong quá trình viết Luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Nghiên cứu, khảo sát để đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân
nghèo đói, đề xuất những giải pháp chủ yếu XĐGN trên địa bàn Quảng Trị, làm cơ
sở cho việc xây dựng, chỉ đạo điều hành kế hoạch phát triển KT-XH của tỉnh có
hiệu quả.
Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về nghèo đói và XĐGN.
+ Phân tích thực trạng nghèo đói và hoạt động XĐGN ở tỉnh hiện nay, chỉ rõ
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nghèo đói và những vấn đề đặt ra cho công tác
XĐGN trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
điểm mới sau đây:
- Chỉ ra diễn biến nghèo đói và hoạt động XĐGN ở tỉnh Quảng Trị và những
vấn đề đặt ra cần phải giải quyết.
- Đưa ra một số giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm từng bước XĐGN ở
Quảng Trị trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn có 3 chương, 8 tiết. Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHÈO ĐÓI
1.1. QUAN NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH CHUẨN NGHÈO
1.1.1. Quan niệm về nghèo đói
Vấn đề nghèo đói đã được đề cập trong chính sách của nhiều quốc gia và
trong một số thập kỷ qua ở nhiều nước đã có bước tăng trưởng đáng kể về kinh tế
và đời sống. Do vậy, chống nghèo đói là một trong những chính sách ưu tiên của
Liên Hợp Quốc nhằm cải thiện đời sống cho khoảng trên 1,2 tỷ người đang sống
trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối.
Do vấn đề nghèo đói diễn ra trên quy mô lớn nên hậu quả của nó đã tác động
xấu đến vấn đề sinh thái, môi trường và sự bất ổn về chính trị ở nhiều vùng trên thế
giới. Nó có ảnh hưởng không chỉ đối với các quốc gia nghèo mà còn có nguy cơ lan
rộng và tác động toàn cầu như tàn phá môi trường sinh thái, vấn đề di dân quốc tế ồ
ạt, tiêu cực XH lan rộng vv Vì vậy, sự nghiệp chống nghèo đói không chỉ đối với
các nước nghèo mà cả đối với các nước phát triển. Tại khóa họp đặc biệt của Đại
Hội đồng Liên Hợp Quốc về phát triển XH, tháng 6 năm 2000 tại Genever - Thụy
Sỹ, các thành viên đã thống nhất cam kết, phấn đấu giảm một nữa số người nghèo
trên thế giới. Hội nghị kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch "Tấn công
vào nghèo đói" và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện về XĐGN.
UNDP đã đưa ra những định nghĩa nghèo [3, tr 27], như sau:
- Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết
đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu.
- Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như
không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu,
những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác.
Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan), các quốc gia trong khu
vực đã thống nhất cho rằng:"nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được XH thừa
nhận, tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa
phương [2, tr 8]. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát, nên có thể coi đây là định nghĩa chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính
yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mực về
mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự khác biệt về mặt chênh lệch
giữa các điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng, miền khác
nhau. Ưu điểm của khái niệm này là: Làm rõ được bộ phận dân cư nghèo đói là: "Tùy
theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán từng địa phương"
Nghèo có 2 dạng: Nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối. Nghèo tuyệt đối là
tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối
thiểu để duy trì cuộc sống. Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về
ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nghèo tương
đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng
đồng ở một thời kỳ nhất định. Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chất
tương đối cả về không gian và thời gian.
Nghèo tuyệt đối biểu hiện chủ yếu thông qua tình trạng một bộ phận dân cư
nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.
- Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học
hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát
- Hộ nghèo: Là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ
tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch vv trình độ dân trí thấp,
tỷ lệ mù chữ cao.
- Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng, nằm ở những khu vực khó khăn
hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.
Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối. Tính chất và
đặc trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, nhân tố chính trị,
văn hóa và trình độ phát triển kinh tế-xã hội của vùng, miền, quốc gia, khu vực. Đặc
điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm
kiếm đồng bộ các giải pháp XĐGN ở nước ta, nhất là vùng dân cư nông nghiệp và
nông thôn hiện nay.
1.1.2. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo
Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây:
Tiêu chí có nghĩa là: tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại
một sự vật, một khái niệm [21, tr.990]. Như vậy, tiêu chí mang tính định tính. Chuẩn có nghĩa là: Cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó
mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường; cái được
công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen trong xã hội [21, tr.181].
Như vậy, chuẩn mang tính định lượng. Từ đó ta có thể hiểu chuẩn nghĩa là mốc giới
hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quy định về mức thu nhập mà nếu ai có thu
nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo, còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải
là người nghèo. Chuẩn là công cụ để phân biệt giữa người nghèo và người không
nghèo. Giữa chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu
lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.150calo/ngày. Với mức giá
chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1USD/người/ngày.
Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu
nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm. Với mức trên WB ước tính có
trên 1,2 tỷ người trên thế giới đang sống trong nghèo đói.
Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu
nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế-xã hội và
sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD)
cũng khác nhau ở từng quốc gia. Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được
xác định là 14USD/người/ngày. Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là
28USD/người/tháng. Srilanca là 17USD/người/tháng. Bangladet là 11USD/ người/
tháng Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người hiện nay khoảng 600 USD/ người/
năm, nên trên bình diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó, do đó không
thể lấy mức nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam.
Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay
nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo. Nhưng
cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa,
chính trị, xã hội. Trong thực tế nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo
đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển toàn diện; Tình trạng thất
nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn
còn phổ biến, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng lên, xu hướng này không chỉ
xảy ra ở những nước nghèo mà còn ở những nước khá và giàu. Qua đó có thể thấy
rằng: nghèo khổ trong xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao
mà còn là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội. Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP
còn đưa ra chỉ số con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng
biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm. Đây là chỉ tiêu
cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của
thôn và chỉ cho phép đánh giá thực trạng nghèo đói của cả nước, không thể xác định
và lập danh sách hộ nghèo cụ thể cho từng địa phương.
* Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia.
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương
trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Lúc đầu nghèo được
xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là
đã 4 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (bảng 1.1).
Bảng 1.1: Quy định về chuẩn nghèo đói (Theo chuẩn quốc gia)
Chuẩn nghèo đói qua
các giai đoạn
Phân loại người nghèo đói
Mức thu nhập
BQ/người/tháng
1993-1995(Mức thu
nhập qui ra gạo)
Đói(KV nông thôn) Dưới 8Kg
Đói(KV thành thị) Dưới 13Kg
Nghèo(KV nông thôn) Dưới 15Kg
Nghèo(KV thành thị) Dưới 20Kg
1996-2000(Mức thu
nhập qui ra gạo tương
đương với số tiền)
Đói(Tính cho mọi khu vực)
Dưới 13Kg (45.000
đồng)
Nghèo(KV nông thôn miền
núi, hải đảo)
Dưới 15Kg (55.000
định canh định cư và 15 vạn đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn cần được
hỗ trợ phát triển. Đến cuối năm năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo ở thành thị còn 6% và
nông thôn là 11,2 %. Đầu năm 2001 khi thay đổi chuẩn nghèo đói, nước ta còn
khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,11%), đến cuối năm 2005 còn khoảng 1,6 triệu
hộ nghèo, chiếm 9,5%.
Ưu điểm của phương pháp này là: Đảm bảo từng bước thỏa mãn nhu cầu của
con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hóa ). Chuẩn được điều chỉnh gắn với
tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay
đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của người dân. Mặt khác theo phương pháp này, tạo
điều kiện cho cơ sở có thể triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xác định
các hỗ trợ cần thiết.
Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này có hạn chế là chưa tính toán đầu đủ
nhu cầu tiêu dùng (chỉ chú ý một số nhu cầu lương thực, thực phẩm và một số nhu
cầu phi lương thực, thực phẩm). Độ tin cậy chưa cao do không có điều kiện điều tra
diện rộng, thu thập thông tin về thu nhập của người dân nông thôn và miền núi rất
khó chính xác.
Mặc dù có một số hạn chế nhưng cách tính chuẩn nghèo của Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội là tương đối phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay.
* Về tiêu chí xác định xã nghèo:
Năm 1998, ủy ban Dân tộc và Miền núi đã ban hành quy định xã đặc biệt
khó khăn (thuộc chương trình 135) là xã có đủ 5 tiêu chí sau:
- Các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới cách thành phố, thị xã, khu công
nghiệp, trung tâm thương mại, quốc lộ, tỉnh lộ trên 10 Km.
- Không có đường ôtô vào xã; các công trình điện, thủy lợi, nước sạch, trường
học, bệnh xá, các dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
- Môi trường XH chưa phát triển, trình độ dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ và
thất học trên 50%, bệnh tật nhiều, hủ tục lạc hậu, không có thông tin.
- Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn; số hộ không có đất và thiếu đất
sản xuất trên 20%, số hộ có người làm thuê trên 20%.
Do cách nhìn nhận và đánh giá nguồn gốc của nghèo đói khác nhau, nên
cũng có nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau. Nếu hiểu nghèo là dạng đình đốn của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu nhưng vẫn còn tồn tại thì giảm nghèo là
quá trình chuyển đổi sang phương thức sản xuất tiến bộ hơn.
Nếu hiểu nghèo là do phân phối thặng dư trong XH một cách bất công đối
với người lao động, do chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa thì giảm nghèo là quá trình
xóa bỏ chế độ sở hữu và chế độ phân phối này.
Nếu hiểu nghèo là do hậu quả của tình trạng Chủ nghĩa thực dân đế quốc kìm
hãm sự phát triển ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thì giảm nghèo là quá trình các
nước thuộc địa, phụ thuộc giành lấy độc lập để trên cơ sở đó phát triển KT-XH.
Nếu hiểu nghèo là do sự bùng nổ gia tăng dân số vượt quá tốc độ phát triển
kinh tế thì phải tìm mọi cách để giảm gia tăng dân số lại một cách hợp lý.
Còn nếu hiểu nghèo là do tình trạng thất nghiệp gia tăng hoặc rơi vào tình trạng
khủng hoảng kinh tế thì giảm nghèo chính là tạo việc làm, tạo cho XH ổn định và phát
triển. Ở Việt Nam hiện nay không phải do bốc lột như trước đây mà do nền kinh tế ta
đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển sang nền kinh tế
hiện đại. Trong nền kinh tế này tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau.
Trình độ sản xuất cũ, lạc hậu vẫn còn, trong khi đó trình độ sản xuất mới, tiên tiến lại
chưa đóng vai trò chủ đạo, thay thế trình độ sản xuất cũ. Do đó, dẫn đến có sự giàu-
nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư.
Như vậy, XĐGN ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá trình chuyển đổi
các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất mới
cao hơn.
Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo
có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ
có nhiều khả năng lựa chọn hơn giúp họ từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo.
b. Sự cần thiết XĐGN ở nước ta:
Giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau.
nay, XĐGN là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng kinh tế
bền vững; ngược lại chỉ có tăng trưởng kinh tế cao và bền vững mới có sức mạnh
vật chất để hỗ trợ và tạo cơ hội cho người nghèo vươn lên thoát khỏi đói nghèo.
c. Nội dung của XĐGN:
- Thứ nhất là tăng thu nhập cho người nghèo, vùng nghèo: Khi đánh giá vấn
đề nghèo đói, các tổ chức quốc tế cũng như các nước khác nhau lựa chọn phương
pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống nhau. Song cách xác định và mức độ cụ thể
có những khía cạnh khác nhau. Để làm căn cứ tính toán mức nghèo đói người ta đều thống nhất dựa vào hai
loại chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu chính: Thu nhập bình quân người/tháng hoặc năm và được đo
bằng chỉ tiêu giá trị hoặc hiện vật quy đổi.
+ Chỉ tiêu phụ: Dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc, y tế, giáo dục và các điều
kiện đi lại.
Như vậy, tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được quan tâm
nhất đối với công tác XĐGN.
Phần lớn người nghèo ở các nước đang phát triển phụ thuộc vào thu nhập từ
sức lao động, từ công việc trên mãnh đất của họ, từ tiền lương hay từ những hình
thức lao động khác. Tình trạng thiếu việc làm và năng suất lao động thấp dẫn đến
thu nhập của người lao động thấp là khá phổ biến đối với người nghèo. Vì vậy, để
tăng thu nhập cho người nghèo phải có giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu
sản xuất để hỗ trợ tăng năng suất lao động và tạo việc làm cho người nghèo là cơ
bản nhất.
- Thứ hai là tăng khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển đối với người
nghèo, vùng nghèo.
+ Phần lớn người nghèo tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn, nhất là vùng
miền núi, vùng sâu, vùng xa. Những nơi này thường là xa các trung tâm kinh tế và
dịch vụ xã hội. Hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu và yếu hơn so với những vùng khác.
bậc, đời sống của đa số dân cư được cải thiện; công tác XĐGN đã thu được những
thành tựu đáng kể. Tuy vậy, mức sống của người dân vẫn còn thấp, phân hóa thu
nhập có xu hướng tăng lên, một bộ phận khá lớn dân cư vẫn còn sống nghèo đói.
Trong đó có một số vùng cách mạng, vùng dân tộc ít người và nhiều hộ gia đình có
nhiều đóng góp cho cách mạng vẫn chịu nhiều thiệt thòi trong hòa nhập cộng đồng
và không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới mang lại. Những
giải pháp XĐGN tập trung cho đối tượng này vừa là yêu cầu cấp thiết đối với mục
tiêu phát triển bền vững, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.
- Thứ tư là XĐGN phải mang tính bền vững: Trong thực tiễn XĐGN có tình
trạng khá phổ biến là có rất nhiều hộ giá đình sau khi thoát nghèo một thời gian do
nhiều nguyên nhân khác nhau như: gặp rủi ro trong kinh doanh, ốm đau, do tác động
của phân hóa giàu - nghèo của quá trình phát triển v.v lại trở thành những hộ nghèo.
Vì vậy, nhiệm vụ của công tác XĐGN không chỉ hỗ trợ để người nghèo sinh
tồn và vượt qua ngưỡng cửa nghèo một cách thụ động mà phải có giải pháp tích cực để bản thân người nghèo chủ động tự vươn lên thoát nghèo vững chắc tiến tới trở
thành hộ khá, hộ giàu.
d. Lực lượng tham gia xóa đói giảm nghèo.
Xóa đói giảm nghèo trước hết là bổn phận của chính người nghèo phải tự
vươn lên và thoát nghèo. Trách nhiệm của Chính phủ và cộng đồng là trợ giúp để
người nghèo tự vươn lên thoát nghèo; hiệu quả XĐNG sẽ đạt thấp, nếu bản thân
người nghèo không tích cực và nỗ lực phấn đấu vươn lên để có mức sống cao hơn.
Vì vậy, XĐGN phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng đồng
nghèo, bởi vì sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điều kiện
cần cho sự thành công của mục tiêu chống nghèo đói ở các nước.
Nhà nước thực hiện nhiệm vụ trợ giúp người nghèo biết cách thoát nghèo và
tránh tái nghèo khi gặp rủi ro. Bên cạnh thực hiện một số chính sách hỗ trợ cụ thể
về xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất, trợ cấp khi cần thiết thì tạo
việc làm cho người nghèo bằng cách hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh
khó khăn. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao ở
các vùng, địa phương ở vào vị trí địa lý này. Do điều kiện địa lý như vậy, họ dễ rơi
vào thế cô lập với bên ngoài, khó tiếp cận được với các nguồn lực của phát triển
như: tín dụng, KHKT, công nghệ, thị trường vv nên việc phát triển cơ sở hạ tầng,
nhất là phát triển hệ thống giao thông có ý nghĩa to lớn đối với việc XĐGN.
- Đất canh tác ít, đất cằn cỗi, khó canh tác, năng suất cây trồng, vật nuôi đều
thấp. Đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất trong nông nghiệp gặp nhiều khó khăn,
nhất là đối với những vùng thuần nông. Thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến khả năng
bảo đảm lương thực của người nghèo và khả năng đa dạng hóa sản xuất để hướng
tới những loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, dẫn đến thu nhập của người nông dân
thấp, việc tích lũy và tái sản xuất mở rộng bị hạn chế hoặc không có. Bởi thế người
nghèo lại tiếp tục nghèo.
- Địa hình phức tạp, bị chia cắt nhiều bởi sông suối và núi đá, đất dốc
Những vùng có địa hình như vậy việc tổ chức sản xuất sẽ gặp nhiều khó khăn, đất
bị xói mòn, dễ bị khô hạn, chi phí sản xuất cao, hiệu quả sản xuất rất thấp. Hay ở
những khu vực ven biển bãi ngang của miền Trung thường chủ yếu cồn cát và bãi
cát trắng, tổ chức sản xuất rất khó khăn, đời sống của người dân đa phần là khổ cực,
hoạt động XĐGN cũng gặp nhiều trở ngại. - Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hay gặp thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, mưa
bão, nạn cát bay, cát lấp vv Những vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiên
tai thường xuyên xảy ra như khu vực miền Trung, một số tỉnh miền núi phía Bắc,
làm cho việc XĐGN thiếu cơ sở bền vững. Nhiều vùng đang trù phú nhưng chỉ sau
một trận thiên tai lũ lụt, bão thì hàng triệu người rơi vào cảnh thiếu đói, nhiều công
trình hạ tầng công cộng và cơ sở sản xuất bị phá hỏng. Điển hình như cơn bão số 6
xảy ra đầu tháng 10 năm 2006 đổ bộ vào Thành phố Đà Nẵng và 4 tỉnh miền Trung
gây thiệt hại to lớn về người và tài sản; ước thiệt hại về tài sản lên đến hàng chục
ngàn tỷ đồng và rất nhiều hộ gia đình lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Thực tiễn đó
đòi hỏi việc tìm kiếm những giải pháp giảm nhẹ thiệt hại thiên tai là một phần quan
ổn định và phát triển cho giai đoạn tiếp theo.
- Thu nhập dân cư thấp và sự phân hóa thu nhập lớn là một bất lợi đối với
người nghèo và công tác XĐGN. Rất nhiều cuộc điều tra mức sống dân cư cho thấy
chênh lệch giàu - nghèo, thu nhập giữa các nhóm dân cư có xu hướng gia tăng. Năm
1993 ở vùng thành thị chiếm 24% dân số nhưng tạo ra trên 60% GDP với mức tăng
trưởng trên 10% /năm. Ở nông thôn chiếm 76% dân số chỉ tạo ra 40% GDP với
mức tăng trưởng chậm (gần 5% /năm) [2, tr 37]. Trong thực tế những năm qua tốc
độ tăng trưởng kinh tế của nước ta cơ bản đúng như nhận định trên. Theo tính toán
thì năm 2000, dân số thành thị chiếm khoản 25% và tạo ra 68% GDP. Còn 75% dân
số nông thôn chỉ tạo ra khoản 32% GDP. Chênh lệch về thu nhập giữa 20% nhóm
giàu nhất và 20% nhóm nghèo nhất từ 4,3 lần năm 1993 tăng lên 8,14 lần năm
2002; khoảng chênh lệch giữa 10% nhóm giàu nhất và 10% nhóm nghèo nhất từ
12,5 lần năm 2002 tăng lên 13,5 lần năm 2004. Thu nhập bình quân của 20% nhóm
nghèo nhất năm 2001 là 107.000đ/người/tháng. So sánh mức chi tiêu bình quân đầu
người của 20% nhóm giàu nhất và 20% nhóm nghèo nhất thì năm 1992 - 1993
nhóm giàu nhất gấp 4,58 lần năm 1997 - 1998 gấp 5,49 lần và năm 2001 - 2002 gấp
6,15 lần [2, tr 11]. Hầu hết các hộ nghèo đều ở nông thôn, năm 2002 chiếm 90,5%
tổng số hộ nghèo của cả nước. Do nguồn thu nhập thấp và bấp bênh, khả năng tích
lũy kém nên các hộ nghèo ít có khả năng tái đầu tư sản xuất mở rộng và chống chọi
với những biến cố xảy ra như: mất mùa, mất việc làm, mất sức khỏe vv mặt khác
rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, nhất là trong
điều kiện kinh tế thị trường, do họ thiếu kinh nghiệm làm ăn, trình độ tay nghề thấp, thiếu thông tin v.v Vì vậy, thu nhập của người nghèo đã thấp rồi nhưng khả năng
để tăng thu nhập của họ cũng rất khó khăn. Đây là một trở ngại lớn đối với XĐGN.
Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 của nước ta (khu vực thành thị
260.000đ/người/tháng, khu vực nông thôn 200.00đ/người/tháng) thì cuối năm 2005
cả nước có khoảng 3,9 triệu hộ nghèo chiếm 22% số hộ toàn quốc. Vùng có tỷ lệ
nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc (42%); Tây nguyên (38%); Bắc Trung Bộ (35%).
67% GNP, Thái Lan 62% GNP, Philipin 63% GNP, Hàn Quốc 31% GNP [3, tr 63].
Đây là những nước chịu hậu quả nặng nề nhất của cuộc khủng hoảng tài chính nói
trên ở các mức độ khác nhau. Giai đoạn 1997- 1998 tỷ lệ nghèo ở Inđônêxia tăng
lên 20% dân số, Thái Lan tăng lên 6,7 triệu người, Hàn Quốc tăng từ 3% năm 1997
lên 7,8% năm 1998, Malaixia tăng từ 6,8% năm 1997 lên 8% năm 1998 vv
Ở Việt Nam tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những năm vừa qua đạt khá
cao, GDP tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001 - 2005 là 7,5%/năm. GDP năm
2005 đạt khoảng 815 nghìn tỷ đồng(tương đương 51,5 tỷ USD); tỷ lệ tích lũy năm
2005 đạt khoảng 29,4% GDP và tăng bình quân hàng năm trên 10%/năm; tổng quỹ
tiêu dùng tăng bình quân hàng năm khoảng 7,6%/năm; tỷ lệ huy động vào ngân
sách Nhà nước bình quân hàng năm đạt 23,5% GDP; bội chi Nhà nước không quá
5% GDP [24, tr ]. Nhờ đảm bảo được tỷ lệ tích lũy và tỷ lệ tích lũy vào đầu tư khá
cao nên năng lực mới huy động vào nền kinh tế được tăng nhanh và cũng nhờ đó
mà thành tựu đạt được trong XĐGN khá tốt. Tổng nguồn vốn huy động để hỗ trợ
thực hiện các mục tiêu XĐGN trong 5 năm 2001-2005 của cả nước đạt khoảng 41
nghìn tỷ đồng (không kể vốn tự có của hộ nghèo và tín dụng ngân hàng thương
mại), trong đó, huy động từ cộng đồng 1.500 tỷ đồng (chiếm 3,7%); vốn tín dụng
ưu đãi 12.000 tỷ đồng (chiếm 29,3%) còn lại là vốn ngân sách Nhà nước và các dự
án tài trợ là 27,5 nghìn tỷ đồng (chiếm 67%) (Nguồn: Bộ lao động - Thương binh xã
hội - Báo cáo chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo giai đoạn 2006 -
2010). Bên cạnh đầu tư hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng nghèo, thì thành quả về
đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước, thông qua các chương trình đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn v.v đã tạo ra nhiều việc làm mới, nâng cao năng suất lao động, tăng
thu nhập cho người lao động đã góp phần tích cực cho công cuộc XĐGN đạt kết
quả tốt. Một vấn đề được quan tâm nữa trong huy động nguồn lực là tự tạo nguồn