mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, Đảng Cộng sản Việt Nam
đã xác định vai trò, tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội. ở Việt Nam hiện nay trong điều kiện dân số đông, các
ngành công nghiệp, dịch vụ cha phát triển, ngoài các vai trò chung, nông
nghiệp còn có vai trò rất quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, kinh
tế - xã hội, tạo nền tảng để từng bớc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nớc.
Nông nghiệp Việt Nam đang ở vào thời kỳ thay đổi có tính chất bớc ngoặt.
Đó là sự chuyển biến cơ bản từ một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu sang sản xuất hàng
hóa lớn, hiện đại và hớng mạnh ra xuất khẩu. Trong quá trình đó, xây dựng và
thực hiện các chơng trình phát triển nông nghiệp theo hớng hình thành các vùng
tập trung, chuyên môn hóa cao, sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế
biến là yêu cầu khách quan và đang đợc Đảng và Chính phủ quan tâm [18], [70].
Một trong những chơng trình lớn đầu tiên đã đợc xây dựng và triển khai thực
hiện từ năm 1995 là Chơng trình phát triển mía đờng.
Trên thực tế từ sau khi thống nhất đất nớc, Việt Nam đã xây dựng và
triển khai một số chơng trình phát triển cây công nghiệp nh cà phê, cao su,
chè, cây có dầu Tuy nhiên, các ch ơng trình này đợc thực hiện trong cơ chế
quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung và trong khuôn khổ hợp tác giữa Việt
Nam và các nớc Xã hội Chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô (cũ). Các chơng
trình này đợc thực hiện thông qua việc tiếp nhận vật t, kỹ thuật của các nớc và
trả nợ bằng sản phẩm theo hiệp định giữa các chính phủ. Do đó, có rất nhiều
thuận lợi trong việc giải quyết các yếu tố đầu vào cho sản xuất cũng nh đầu ra
cho sản phẩm. Trong khi đó, Chơng trình phát triển mía đờng đợc thực hiện
1
trong cơ chế quản lý mới, vốn đầu t chủ yếu dựa vào các nguồn vay tín dụng
trong và ngoài nớc, việc tiêu thụ sản phẩm mía và đờng do ngời sản xuất tự
chịu trách nhiệm.
Quá trình triển khai thực hiện Chơng trình phát triển mía đờng đã thu đợc
suất, hạ giá thành mía, bảo đảm hiệu quả của sản xuất mía nguyên liệu gồm:
Thứ nhất về giống mía: Dựa trên sự phát triển của công nghệ sinh học,
nghiên cứu về giống ở Trung quốc, Đài Loan, Mỹ, Ôxtrâylia, ấn độ, Thái
Lan , đang đi theo hớng tạo ra các giống mía năng suất cao, chữ đờng ổn
định, rải vụ và có khả năng kháng sâu bệnh cao.
Thứ hai là kỹ thuật canh tác: Hớng u tiên của các nghiên cứu về kỹ thuật
canh tác là cơ giới hóa toàn bộ các khâu của quá trình canh tác mía, đặc biệt là
công đoạn thu hoạch. Một loạt các nghiên cứu về kỹ thuật tới phun và tới nhỏ
giọt cho mía theo đúng yêu cầu về nớc của cây mía trong từng giai đoạn đã đ-
ợc thực hiện ở Đài Loan, Trung Quốc. Kỹ thuật canh tác nhằm hạn chế sự
phát triển của sâu bệnh và các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp cũng đợc
nghiên cứu và áp dụng tại nhiều nớc sản xuất mía lớn.
Thứ ba là nghiên cứu chính sách và thị trờng: Có thể nhận thấy, đây là vấn
đề đang đợc quan tâm nhất trong các nghiên cứu về mía đờng trên thế giới. Thị
trờng đờng quốc tế luôn ở tình trạng cung vợt quá cầu và chính sách bảo hộ
nông nghiệp của các nớc phát triển, giá đờng trên thị trờng thế giới nhiều thời
kỳ thấp hơn giá thành sản xuất. Để duy trì ngành sản xuất mía đờng trong nớc,
giữ ổn định kinh tế và chính trị, tất cả các nớc đều nghiên cứu để có chính sách
về ngành mía đờng phù hợp với sự biến động của thị trờng thế giới. Căn cứ vào
đặc điểm tình hình riêng, mỗi nớc có các chính sách khác nhau, nhng đều quan
tâm đến các vấn đề về xác định giá mía nguyên liệu tối thiểu, mức trợ cấp cho
mía hoặc đờng, chính sách thuế, hạn ngạch tiêu thụ trong nớc, trợ giá xuất
khẩu, hạn chế nhập khẩu thông qua hạn ngạch hoặc thuế nhập khẩu [53], [89],
3
[90], [92].
Các nghiên cứu thị trờng của các tổ chức quốc tế nh Tổ chức Đờng
quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các công ty t vấn thị trờng cũng thờng xuyên
đa ra các kết quả về diễn biến thị trờng, giá cả và dự báo cung cầu trong ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn [44], [85], [87].
2.2. Tổng quan nghiên cứu về mía nguyên liệu trong nớc
vùng Bắc Trung Bộ. Trọng tâm của nghiên cứu tập trung vào tình hình sản
xuất của các nhà máy đờng ở Việt Nam và điều phối thị trờng đờng. Chính vì
vậy, nghiên nghiên cứu này còn thiếu những phân tích và đề xuất về chính
sách và giải pháp cụ thể phát triển các vùng mía nguyên liệu [8]. Việc nghiên
cứu chuyên sâu về phát triển mía nguyên liệu trớc khi thực hiện Chơng trình
phát triển mía đờng, Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Đinh Quang Tuấn đã
đề cập đến vấn đề phát triển sản xuất mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp
chế biến đờng ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp chung về phát triển mía
nguyên liệu, chế biến đờng trong phạm vi cả nớc. Từ năm 1996 đến nay, trừ
các dự án khả thi xây dựng các nhà máy đờng và gắn với nó là dự án phát triển
vùng mía nguyên liệu không có một công trình nghiên cứu trong nớc nào về
các giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu tập trung.
Năm 2001, Trung tâm nghiên cứu kinh tế Quốc tế CIE có trụ sở tại
Ôxtrâylia đã hoàn thành một nghiên cứu theo đơn đặt hàng của Ngân hàng
Thế giới có tựa đề Chơng trình mía đờng Việt Nam - Tơng lai đi về đâu ?.
Nội dung của nghiên cứu đã tập trung phân tích thực trạng sản xuất của các
nhà máy đờng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Trên cơ
sở phân tích khả năng cạnh tranh của các nhà máy đờng Việt Nam, nghiên cứu
đã đề xuất một số giải pháp nh (i) cơ cấu lại ngành mía đờng, ngừng đầu t xây
dựng mới và mở rộng tăng công suất thiết kế của các nhà máy đờng hiện có;
(ii) đa dạng hóa sở hữu, cổ phần hóa, t nhân hóa các nhà máy đờng; Cải cách
5
tổ chức quản lý ngành mía đờng Việt Nam; và (iv) các chính sách đối với thị
trờng đờng Chính phủ cần quan tâm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
[84].
Gần đây nhất một nhóm nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp và PTNT đã
hoàn thành một báo cáo Nghiên cứu khả năng cạnh tranh và tác động xã hội
của ngành công nghiệp mía đờng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Báo cáo đã đánh giá tổng thể tình hình sản xuất mía đờng ở Việt Nam; thị tr-
ờng tiêu thụ đờng; hiệu quả sản xuất của hộ nông dân trồng mía và hoạt động
vùng sản xuất nguyên liệu mía phục vụ công nghiệp chế biến đờng ở Việt
Nam nói chung, vùng Bắc Trung Bộ nói riêng.
- Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển các vùng nguyên liệu mía
phục vụ cho công nghiệp chế biến đờng ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, rút ra những
thành công và tồn tại, những nguyên nhân của chúng và những vấn đề đặt ra
cần giải quyết.
- Đề xuất quan điểm, phơng hớng phát triển và các giải pháp nhằm phát
triển nhanh và bền vững vùng mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến
đờng ở các tỉnh Bắc Trung Bộ.
4- Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận án là các vấn đề kinh tế của phát triển vùng
nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến mía đờng ở các tỉnh vùng Bắc
Trung Bộ. Luận án nghiên cứu các vấn đề đó trong mối quan hệ với các vấn đề
kỹ thuật của sản xuất mía đờng, của các nhân tố ảnh hởng đến sự hình thành
và phát triển các vùng mía nguyên liệu tập trung.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tập trung nghiên cứu ở các vùng mía nguyên liệu khu
vực Bắc Trung Bộ, gồm các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa.
7
Vấn đề nghiên cứu đợc đặt trong sự phát triển của ngành mía đờng cả nớc,
cũng nh phát triển nông nghiệp của các tỉnh Bắc Trung Bộ.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu cả quá trình hình thành và phát triển
vùng mía nguyên liệu ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ, tập trung trong thời kỳ từ
năm 1995 đến nay.
5- Phơng pháp nghiên cứu
Các phơng pháp nghiên cứu đợc sử dụng bao gồm:
5.1. Phơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Luận án đã vận dụng các học thuyết của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử để xem xét, phân tích các vấn đề hình thành và phát triển vùng
dung chủ yếu của phơng pháp chuyên khảo và đã đợc tác giả luận án sử dụng
trong quá trình nghiên cứu.
5.4. Phơng pháp chuyên gia
Tổ chức các buổi thảo luận nhằm trao đổi sâu với một số chuyên gia có
kinh nghiệm về sản xuất và thị trờng nông sản nguyên liệu nói chung, mía
nguyên liệu nói riêng. Tham khảo ý kiến một số chuyên gia, giám đốc các cơ
sở chế biến về các vấn đề chính sách liên quan đến phát triển vùng mía
nguyên liệu tập trung trong khu vực.
5.5. Phơng pháp phân tích tổng hợp
Luận án đã sử dụng phơng pháp này để đánh giá thực trạng phát triển
mía nguyên liệu toàn vùng Bắc Trung Bộ, sử dụng phơng pháp phân tích ảnh
hởng của từng nhân tố đến cung, cầu và diễn biến thị trờng để thấy rõ những
kết quả đạt đợc và những vấn đề cần giải quyết.
Từ nhiều phân tích khác nhau, tổng hợp lại những vấn đề chung, có tính
phổ biến, lặp đi lặp lại để rút ra những vấn đề có tính quy luật khi đề xuất các
9
giải pháp phát triển vùng mía nguyên liệu tập trung chuyên canh có năng suất,
chất lợng cao trong vùng.
5.6. Các phơng pháp nguyên cứu khác
- Phơng pháp cây vấn đề
Đây là phơng pháp áp dụng để phân tích những nguyên nhân của một vấn
đề hiện đang tồn tại, mặt khác nó cũng đợc sử dụng để đa ra những đề xuất
nhằm giải quyết một vấn đề. Phơng pháp này đã đợc sử dụng trong nghiên cứu
của luận án. Ví dụ, khi xác định đợc vấn đề là chi phí mía nguyên liệu đa vào
chế biến đờng quá cao luận án đã sử dụng phơng pháp này, đặc biệt là khi tổ
chức thảo luận tác giả đã tìm ra đợc rất nhiều nguyên nhân trong quá trình tổ
chức sản xuất, thu mua, vận chuyển dẫn đến chi phí nguyên liệu cao. Trong
mỗi nguyên nhân chính lại bao gồm nhiều nguyên nhân nhánh tạo nên một sơ
đồ hình cây về các nguyên nhân.
- Phơng pháp phân tích nguyên nhân theo mô hình xơng cá
mía nguyên liệu theo hớng tập trung chuyên canh, gắn với chế biến trong bối cảnh
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của Nhà nớc.
Sự vận
động của
sự vật,
hiện t?
ợng
Thế mạnh Thách
thức
Điểm
yếu
Thời cơ
11
- Với việc nghiên cứu kinh nghiệm về phát triển mía nguyên liệu, đặc
biệt là chính sách giá mía nguyên liệu và thị trờng đờng của các nớc trên thế
giới và trong khu vực, luận án đã rút ra những bài học có thể vận dụng vào
thực tế của Việt Nam nh xác định giá sàn mía nguyên liệu, xây dựng Quỹ phát
triển mía đờng, chính sách bảo hiểm rủi ro, chính sách điều phối thị trờng đ-
ờng trong nớc của Hiệp hội mía đờng Việt Nam để có thể hỗ trợ xuất khẩu và
bình ổn thị trờng đờng.
6.2. Về thực tiễn
Chơng trình phát triển mía đờng thời kỳ 1996-2000 đã cơ bản đạt mục
tiêu sản xuất 1 triệu tấn đờng vào năm 2000. Với việc thực hiện Chơng trình
này, ngành Mía đờng từ chỗ sản xuất quy mô nhỏ, phân tán, trang thiết bị
công nghệ lạc hậu đã trở thành một trong những ngành hàng sản xuất chính
của nông nghiệp Việt Nam. Mặc dù vậy, việc phát triển các vùng sản xuất mía
và chế biến đờng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần sớm đợc giải quyết.
Trong bối cảnh đó, đóng góp của luận án thể hiện ở một số điểm chính sau:
- Luận án đã khái quát đợc tổng quan sự phát triển của ngành mía đờng
Việt Nam trong Chơng trình mía đờng, chỉ rõ những kết quả đạt đợc về phát
nghiệp chế biến đờng ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
Chơng 3: Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển vùng mía nguyên
liệu phục vụ công nghiệp chế biến đờng ở các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ.
13
Chơng 1
Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển vùng
mía nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến
đờng
1.1. Khái niệm, đặc điểm, các chỉ tiêu đánh giá về vùng nông sản
nguyên liệu, vùng mía nguyên liệu
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Một số lý thuyết về phát triển vùng kinh tế
Năm 1883, V. Thunen [91] sáng lập ra lý thuyết phát triển các vành đai
nông nghiệp. Lý thuyết này cho rằng bất kỳ thành phố nào cũng có sức hút từ
nông nghiệp và nông thôn, vì vậy để phát triển vùng cần phân biệt rõ địa tô
chênh lệch hay chi phí tối thiểu trong sản xuất, để đạt đợc kết quả tối đa nhờ
phát triển ranh giới của vùng. Trong khi đó lý thuyết về điểm trung tâm do
nhà kinh tế học ngời Mỹ Christaller đa ra năm 1933 lại cho rằng không có
một nông thôn nào lại không chịu sự ảnh hởng của một cực hút, đó là thành
phố. Thành phố là những cực hút, hạt nhân của sự phát triển. Chúng là đối t-
ợng để đầu t có trọng điểm trên cơ sở nghiên cứu mức độ thu hút và mức độ
ảnh hởng của một trung tâm để xác định bán kính vùng tiêu thụ các sản phẩm
của trung tâm [69]. Về mặt lý thuyết và thực tiễn, lý thuyết này là cơ sở để bố
trí các điểm đô thị mới cho những vùng nông thôn. Lý thuyết về cực tăng tr-
ởng do nhà kinh tế học ngời Pháp Francoi Poeroux đa ra vào đầu những năm
1950 cho rằng một loại vùng kinh tế không thể phát triển đồng đều ở tất các
các khu vực trong lãnh thổ của nó trong cùng một thời gian, mà nó có xu hớng
phát triển nhất ở một vài nơi. Kèm theo quá trình phát triển này là việc đầu t
hình thành các vùng mũi nhọn mà theo tác giả gọi là các ngành thúc đẩy.
Chúng hợp thành các cực của phát triển mang tính khu vực, tạo sức hút quan
nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ), phân công lao động đặc thù là
phân công lao động trong nội bộ từng ngành, phân công lao động cá biệt là
phân công trong nội bộ các cơ sở sản xuất kinh doanh. Phân công lao động xã
15
hội còn đợc xem xét theo hai mặt là phân công lao động theo ngành và theo
lãnh thổ.
Nh vậy, phân công lao động xã hội nói chung, trong nông nghiệp nói
riêng có nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy, chuyên môn hoá sản xuất nông
nghiệp cũng có nhiều hình thức khác nhau. Đó là: chuyên môn hóa theo
ngành, chuyên môn hóa theo vùng, chuyên môn hóa theo các cơ sở kinh
doanh nông nghiệp và chuyên môn hóa trong nội bộ các cơ sở kinh doanh
nông nghiệp. Chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp theo vùng là việc tập
trung sản xuất một loại sản phẩm phù hợp nhất với điều kiện tự nhiên, kinh tế
xã hội của một vùng nào đó.
Sự phát triển của lực lợng sản xuất là nhân tố chủ yếu chi phối quá trình
phân công lao động xã hội và tơng ứng với nó là quá trình chuyên môn hóa
sản xuất, trong đó có chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp với các hình thức
chuyên môn hóa từ thấp đến cao.
Sức sản xuất xã hội càng phát triển và nhu cầu về sản phẩm của xã hội
càng tăng thì phân công lao động xã hội càng chi tiết và do đó, chuyên môn hóa
sản xuất ngày càng phát triển cao. Chuyên môn hóa theo vùng, chuyên môn hóa
sâu trong từng ngành và trong nội bộ các cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng
diễn ra mạnh mẽ. Sự hình thành và phát triển của các vùng nông sản nguyên
liệu tập trung là hình thức biểu hiện của chuyên môn hóa theo vùng. Hình thành
các cơ sở chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm của vùng, hình thức chuyên môn
hóa sâu trong nội bộ vùng diễn ra nh một tất yếu khách quan và là sản phẩm
của sự phát triển của lực lợng sản xuất. Nh vậy, chuyên môn hóa sản xuất nông
nghiệp theo vùng và sâu trong nội bộ từng vùng diễn ra trong điều kiện lực lợng
sản xuất phát triển ở trình độ cao và chịu sự chi phối của sản xuất hàng hóa.
Đã có nhiều nghiên cứu về chuyên môn hóa sản xuất nói chung, chuyên
nh sau:
Vùng nông sản nguyên liệu là hình thức biểu hiện cụ thể của chuyên
môn hóa theo vùng, là kết quả của sự tập trung sản xuất một hoặc một số loại
17
nông sản phẩm trong một phạm vi không gian nhất định với các điều kiện tự
nhiên, kinh tế-xã hội thuận lợi nhất, nhằm thu đợc khối lợng sản phẩm lớn
nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí sản xuất nhỏ nhất cho đơn vị sản
phẩm làm nguyên liệu cho các hoạt động chế biến và xuất khẩu
Từ khái niệm trên, có thể thấy vùng nông sản nguyên liệu là một thực thể
khách quan có những mối liên hệ bên trong cũng nh với bên ngoài và chịu sự
tác động của nhiều yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong một phạm vi
không gian nhất định. Vùng nông sản nguyên liệu có các đặc trng và đặc điểm
nổi bật sau:
- Về không gian: Vùng nông sản nguyên liệu trớc hết là vùng sản xuất
nông nghiệp có ranh giới phụ thuộc vào vị trí địa lý, chứ không nhất thiết phân
bố theo địa giới hành chính. Đây là vùng có các yếu tố về điều kiện tự nhiên
thuận lợi nhất cho một hoặc một số ít cây trồng vật nuôi nông nghiệp so với
các vùng khác trong một tỉnh, một quốc gia hoặc rộng lớn hơn là so sánh với
các quốc gia khác.
- Về quy mô sản xuất: Đây là những vùng có diện tích lớn, đợc quy hoạch
tập trung đầu t phát triển một loại cây trồng, vật nuôi chủ lực, phù hợp nhất
với các điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác, là vùng sản xuất nông sản
nguyên liệu với khối lợng hàng hóa lớn, có năng suất, chất lợng cao và đồng
đều phục vụ theo yêu cầu và các mục tiêu chế biến công nghiệp hoặc xuất
khẩu nông sản. Mối quan hệ tơng hỗ giữa vùng nguyên liệu với công nghiệp
chế biến đợc thể hiện rõ.
- Về kỹ thuật và công nghệ sản xuất: Đây là vùng sản xuất có trình độ
khoa học, công nghệ cao, sản xuất theo hớng chuyên canh, với các loại giống
tốt đợc tuyển chọn phù hợp với yêu cầu của thị trờng về số lợng, chất lợng,
thời gian cung cấp, là vùng sản xuất đợc đầu t thực hiện các biện pháp thâm
Vùng nông sản nguyên liệu có thể phân thành các vùng khác nhau tuỳ
theo các tiêu thức khác nhau. Phân theo loại cây trồng, vật nuôi, có các vùng
chè, vùng cà phê, vùng mía, vùng dứa nguyên liệu. Các vùng theo phân loại
19
trên vừa có đặc trng chung của vùng nông sản nguyên liệu, vừa mang đặc trng
riêng của cây trồng, vật nuôi của vùng đó. Theo đặc điểm riêng, vùng mía
nguyên liệu là vùng nông sản nguyên liệu với sản phẩm là cây mía phục vụ
cho chế biến đờng. Vì vậy, có thể đa ra khái niệm về vùng mía nguyên liệu
nh sau: Vùng mía nguyên liệu là biểu hiện cụ thể của vùng nông sản nguyên
liệu, là vùng có những điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội phù hợp với sự
phát triển của cây mía. Vùng đợc quy hoạch và tập trung đầu t phát triển sản
xuất mía nhằm đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho một hoặc một cụm các cơ
sở chế biến đờng từ mía.
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của mía nguyên liệu và vùng mía nguyên
liệu tập trung
1.1.2.1. Đặc điểm sinh học của cây mía và mía nguyên liệu
- Đặc điểm sinh học của cây mía: Mía là cây hàng năm, có khả năng tái
sinh mầm, chu kỳ sản xuất có thể kéo dài 3 năm (một vụ mía tơ và 2 vụ mía
gốc). Thời gian sinh trởng phát triển đến lúc cho thu hoạch tùy theo từng loại
giống mía, nhng trung bình là 12 tháng. Quá trình phát triển và tích lũy đờng
của cây mía diễn ra từ thấp đến điểm cao nhất, rồi giảm dần đến mức không
còn đờng để thu hồi nữa. Mía là cây a ẩm và cần nhiều nớc để sinh trởng và
phát triển. Theo các tài liệu kỹ thuật, để có đợc một kg mía cần 80-210 lít nớc
tùy thuộc vào loại giống, mức nớc, độ ẩm không khí, gió và kỹ thuật canh tác
[73, tr 45]. Mía là loại cây có bộ rễ chùm và đợc phân bố trên lớp đất mặt
khoảng 50-60%, loại rễ này dùng để hút chất dinh dỡng cho cây. Số rễ còn lại
có khả năng phát triển sâu tới trên 60 cm, cá biệt có cây rễ sâu tới 1,2-1,5m để
hút nớc chống hạn và chống đổ cho cây. Năng suất và chất lợng mía phụ thuộc
rất nhiều vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, giống, khả năng tới tiêu cũng
nh trình độ kỹ thuật thâm canh Năng suất của một loại giống mía nh nhau
và một phòng thí nghiệm phân tích các mẫu mía. Việc lấy mẫu và phân tích có
thể đợc tự động hóa với sự trợ giúp của máy tính, hoặc bằng thủ công theo ph-
ơng pháp phân tích truyền thống.
Một đặc điểm quan trọng của mía nguyên liệu là tỷ lệ sản phẩm trên
21
nguyên liệu rất thấp, trung bình khoảng 10% (khoảng 10 tấn mía nguyên liệu
để sản xuất 1 tấn đờng). Do khối lợng nguyên liệu mía đa vào chế biến lớn,
chi phí vận chuyển nguyên liệu từ nơi sản xuất đến cơ sở chế biến chiếm tỷ
trọng lớn trong cơ cấu giá thành. Chính vì vậy, các vùng mía nguyên liệu tập
trung chuyên canh phải đợc xây dựng gần cơ sở chế biến đờng công nghiệp,
thờng khoảng cách xa nhất phải dới 30-40 km. Ngoài ra, đặc điểm này cũng
yêu cầu hệ thống giao thông vận chuyển mía và giao thông nội đồng của vùng
mía đáp ứng yêu cầu vận chuyển khối lợng lớn và kịp thời của mía nguyên
liệu.
1.1.2.2. Vùng sản xuất tập trung chuyên canh mía nguyên liệu thờng
có diện tích tơng đối lớn
Đặc điểm này của vùng mía nguyên liệu bắt nguồn từ đặc điểm sinh học
của cây mía và tính chất của hoạt động chế biến. Mía là cây công nghiệp phục
vụ cho công nghiệp chế biến đờng, vì vậy hoạt động chế biến mía cho sản
phẩm đờng là chủ yếu. Hàm lợng đờng trong mía chỉ chiếm khoảng 10%, tức
là cứ 10 kg mía mới cho 1 kg đờng. Một cơ sở chế biến đờng trung bình, công
suất 2.500 tấn mía/ngày cần có diện tích mía khoảng 6.000-7.000 ha, với mức
năng suất trung bình khoảng 60 tấn mía/ha. Đặc điểm sinh học của mía yêu
cầu phải đa vào chế biến ngay sau khi thu hoạch, khối lợng mía nguyên liệu
cần vận chuyển lớn, nếu trồng mía phân tán chi phí vận chuyển sẽ lớn. Tất cả
những yêu cầu đó tạo nên đặc điểm về quy mô diện tích lớn và sự đồng bộ của
hệ thống phục vụ của vùng nguyên liệu mía cho chế biến công nghiệp.
1.1.2.3. Tính đa dạng trong hệ thống sản xuất tại vùng mía nguyên liệu
Vùng mía nguyên liệu là hình thức sản xuất chuyên môn hóa. Trong
nông nghiệp, do những đặc điểm của ngành chi phối nên chuyên môn hóa có
trừ sâu bệnh lại đòi hỏi ngời lao động phải đợc đào tạo trang bị kiến thức và
các kỹ năng cần thiết mới đảm bảo sản xuất có hiệu quả. Chính vì vậy, yêu
cầu về nguồn nhân lực tại các vùng mía ngày càng đòi hỏi cao cả về số lợng
và chất lợng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của cơ giới hóa trong canh tác
mía, đặc biệt là cơ giới hóa thu hoạch mía thì yêu cầu về số lợng lao động t-
ơng đối có xu hớng giảm dần, còn yêu cầu về chất lợng lao động có xu hớng
23
tăng nhanh.
1.1.2.5. Trình độ phát triển khoa học công nghệ ở vùng mía nguyên liệu
Do sản xuất mang tính chuyên môn hóa khá cao, dẫn đến yêu cầu ứng
dụng khoa học công nghệ mới ở các vùng nguyên liệu mía tập trung ngày
càng phát triển. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quy trình canh
tác mía ngày càng phức tạp nhằm làm cho sản xuất mía có hiệu quả hơn, đứng
vững đợc trong bối cảnh có sự cạnh tranh gay gắt giữa các loại cây trồng, vật
nuôi. Các lĩnh vực khoa học, công nghệ chủ yếu cần tập trung đầu t nghiên
cứu ứng dụng trong sản xuất mía bao gồm: nghiên cứu đa bộ giống mía mới
phù hợp với từng vùng vào sản xuất; kỹ thuật tới tiêu chủ động; cơ cấu hợp lý
của các loại phân bón trong từng thời kỳ sinh trởng của mía; nghiên cứu và áp
dụng các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp, phối hợp giữa trồng mía với
chăn nuôi. Trong khi đó, chất lợng nguồn lao động vùng mía nguyên liệu th-
ờng thấp. Để không ngừng nâng cao trình độ khoa học công nghệ của vùng
mía nguyên liệu, việc hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực khoa học kỹ
thuật và kinh tế tại chỗ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và các ngành
dịch vụ khác là một trong những vấn đề cần đợc lu ý.
1.1.2.6. Tính thời vụ ở vùng mía nguyên liệu
Sự giới hạn về thời gian trong các khâu trồng, chăm sóc, đặc biệt là thu
hoạch mía đã làm gay gắt thêm tính thời vụ ở các vùng nguyên liệu mía tập
trung. Thời gian thu hoạch mía từ khi mía chín chỉ đợc phép dới một tháng,
trong khi đó có rất nhiều yếu tố tác động đến việc có thu hoạch mía kịp thời
vụ hay không phụ thuộc vào khả năng của nguồn lao động, đờng giao thông
Riêng đối với vùng mía nguyên liệu, sự phụ thuộc này là rất chặt chẽ và có
quan hệ hữu cơ với nhau, bởi các lý do chủ yếu sau:
- Do khối lợng sản phẩm cần vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao nên
thông thờng mỗi vùng mía nguyên liệu chỉ có thể bán mía cho một hoặc một
số cơ sở chế biến cố định. Việc xây dựng các cơ sở chế biến công nghiệp hoặc
25