i
MỤC LỤC
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined.
Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined.
Mục lục i
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các biểu viii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
2.1. Mục tiêu chung 2
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Đối tượng nghiên cứu 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu 2
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5. Bố cục của luận văn 3
Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SẢN XUẤT VÀ PHÁT TRIỂN SẢN
XUẤT CÂY ĂN QUẢ; PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. Vị trí, vai trò của cây ăn quả trong sự phát triển kinh tế 4
1.1.1. Ý nghĩa của việc phát triển cây ăn quả 4
1.1.2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả 5
1.1.3. Đặc điểm của sản xuất cây ăn quả 8
1.1.3.1. Đặc điểm kinh tế 8
1.1.3.2. Đặc điểm kỹ thuật 9
1.2. Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả một số nước
trên thế giới và ở Việt Nam 10
1.2.1. Tình hình phát triển sản xuất cây ăn quả trên thế giới 10
2.1.6. Cơ chế chính sách 46
2.1.7. Đánh giá thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và phát
triển sản xuất cây ăn quả của huyện 46
2.1.7.1. Thuận lợi 46
2.1.7.2. Khó khăn 47
iii
2.2. Tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện
Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 48
2.2.1. Thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại
huyện Phù Ninh 48
2.2.2. Tình hình tiêu thụ sản phẩm quả của huyện Phù Ninh 61
2.2.3. Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất và phát triển sản xuất
cây ăn quả huyện Phù Ninh 61
2.2.3.1. Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của huyện 61
2.2.2.2. Kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của các
nhóm hộ trong huyện 71
2.2.3.3. Hiệu quả xã hội và môi trường từ sản xuất cây ăn quả
của huyện 74
2.3. Đánh giá chung về tình hình sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn
quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 75
2.3.1. Những mặt đạt được 75
2.3.2. Những mặt còn hạn chế 75
Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ TẠI
HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ 77
3.1. Những căn cứ, định hướng, mục tiêu nhằm phát triển sản xuất cây
ăn quả tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 77
3.1.1. Những căn cứ chủ yếu để phát triển sản xuất cây ăn quả của huyện 77
3.1.2. Định hướng phát triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh 78
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Chữ viết tắt sử dụng
A
BQ
CĂQ
C.cấu
DT
Đ
GO
HQ
HQKT
Giá trị gia tăng
Uỷ ban nhân dân
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các điểm
nghiên cứu
18
Bảng 1.2. Nguồn thông tin số liệu
20
Bảng 1.3. Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu của huyện
năm 2010 21
Bảng 2.1. Tình hình đất đai của huyện năm 2010 29
Bảng 2.2. Tình hình đất đai và sử dụng đất đai của huyện Phù Ninh
năm 2008 - 2010 31
Bảng 2.3. Tình hình lao động và sử dụng lao động huyện Phù Ninh
năm 2008 - 2010 34
Bảng 2.4. Dân số và mật độ dân số các xã , thị trấ n trong huyện Phù
Ninh năm 2010 36
Bảng 2.5. Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện Phù Ninh năm 2010 38
Bảng 2.6. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện năm 2008 - 2010 41
Bảng 2.7. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp của huyện Phù Ninh năm
2008 - 2010 44
Bảng 2.8. Diện tích cây ăn quả của huyện Phù Ninh qua các năm 49
Bảng 2.9. Chi phí sản xuất cho 1 ha cây hồng KTCB của huyện năm 2010
51
Bảng 2.10. Chi phí sản xuất cho 1 ha cây vải KTCB của huyện năm 2010
54
Đồ thị 2.1. Cơ cấu đất đai của huyện năm 2008 - 2010 32
Đồ thị 2.3. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2008 42
Đồ thị 2.4. Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện năm 2010 42
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sản xuất cây ăn quả cũng như bất kỳ ngành sản xuất nào, muốn tồn tại
và phát triển, đứng vững trên thị trường thì vấn đề phát triển sản xuất, hiệu
quả kinh tế phải được đặt lên hàng đầu. Qua mỗi thời kỳ sản xuất kinh doanh
phải phân tích tìm ra những ưu, nhược điểm tồn tại, có phương hướng và giải
pháp tổ chức và phát triển sản xuất.
Trước xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, cùng với xu thế phát triển nông
nghiệp hàng hoá hội nhập, bên cạnh việc đầu tư cho sản xuất nông nghiệp
việc yêu cầu cấp thiết đối với nền nông nghiệp nước ta là cần phải đa dạng
các sản phẩm, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng tỷ trọng cây trồng có
hiệu quả kinh tế cao. Ngành trồng trọt không thể thiếu việc phát triển sản xuất
cây ăn quả theo thế mạnh từng vùng. Đó là nhu cầu thiết thực cần phát triển,
khai thác được lợi thế so sánh để phát triển sản xuất cây ăn quả của các huyện
miền núi nói riêng và nông thôn Việt Nam nói chung [12].
Nhìn trên tổng thể,Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để phát triển
cây ăn quả. Thực tế cho thấy những năm trước đây việc sản xuất cây ăn quả
- Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn
quả trên địa bàn huyện Phù Ninh năm 2008 - 2010.
- Đưa ra định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản
xuất cây ăn quả huyện Phù Ninh.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về sản xuất và phát triển
sản xuất cây ăn quả của huyện, các hộ, trang trại và vùng trồng cây ăn quả của
huyện Phù Ninh.
3
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian, thời gian và nội
dung nghiên cứu.
- Về không gian: Tại huyện Phù Ninh - Tỉnh Phú Thọ
- Về thời gian: Năm 2008 - 2010
- Về nội dung:
Nghiên cứu về thực trạng sản xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả tại
huyện Phù Ninh. Từ đó đề ra một số biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản
xuất cây ăn quả của huyện.
Tuy vậy, vấn đề phát triển sản xuất cây ăn quả là rất rộng lớn, vì vậy
luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết chủ yếu các cây ăn quả chính là cây
hồng, cây xoài và cây vải…
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn là tài
liệu tham khảo giúp huyện Phù Ninh xây dựng quy hoạch và kế hoạch sản
xuất và phát triển sản xuất cây ăn quả. Luận văn nghiên cứu tương đối toàn
diện và có hệ thống, và có ý nghĩa thiết thực cho quá trình sản xuất và phát
triển sản xuất cây ăn quả tại huyện Phù Ninh và đối với các địa phương có
điều kiện tương tự.
nguồn dược liệu quý có tác dụng phòng chữa bệnh cho con người.
Phát triển cây ăn quả góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự
túc sang sản xuất hàng hoá, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững [29].
Phát triển sản xuất CĂQ gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến,
đồ hộp, dịch vụ vận chuyển Góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và
xã hội, từng bước hình thành nông thôn mới văn minh hiện đại.
Phát triển sản xuất cây ăn quả góp phần cải thiện đời sống con người
dân nông thôn.
5
1.1.2. Vai trò của sản xuất cây ăn quả
Cây ăn quả là loại cây có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao.
Trong những năm gần đây, cây ăn quả góp phần tích cực vào việc chuyển đổi
cơ cấu cây trồng nông nghiệp, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tạo môi
trường sinh thái, nhất là các tỉnh trung du miền núi. Trong xu thế phát triển
kinh tế - xã hội hiện nay, khi mà vấn đề lương thực cơ bản đã được giải quyết,
đời sống nông dân được cải thiện thì nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm quả ngày
càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò
hết sức to lớn đối với con người. Cụ thể là:
- Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa
tuổi và ngành nghề khác nhau. Trong quả có loại đường dể tiêu, các axit hữu
cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất
khác có nhiều loại vitamin khác như A, B1, B2, B6,C,PP. Đặc biệt là vitamin
C rất cần thiết cho cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em. Trong
khẩu phần ăn của con người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin,
muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác để các hoạt động sinh lý
được tiến hành bình thường. Nhu cầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ,
hydrat cacbon từ động vật và thực vật, còn vitamin và các hoạt chất khác thì
chủ yếu dựa vào quả và rau [29].
và được tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm. Dịch quả được làm đặc từng
bước và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60 - 70%.
Xirô quả: Là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng
đường kính trắng) để độ đường trong Xirô đạt 60-70%. Cần phân biệt Xiro
quả với nước quả cô đặc, 2 sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm
lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không bổ sung đường còn Xiro quả
thường bổ sung đường với số lượng lớn.
Nước quả lên men: Được chế biến bằng cách cho nước quả lên men
rượu. sau thời gian lên men từ 24 - 36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 -
5% và sau đó sản phẩm được triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ
nhanh. Nước quả lên men có hương vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa
nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá tốt.
7
Bột quả giải khát: Bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hoà tan và
dạng cấp thấp hơn là dạng bột quả không hoà tan. Bột quả hoà tan được chế
biến từ nước quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột, có thêm
một số phụ gia thực phẩm để tăng thêm màu sắc hương vị và độ hoà tan cho
sản phẩm. Bột quả giải khát không hoà tan thì được chế biến từ quả nghiền
mịn (cả thịt lẫn với phần xơ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy
kiểu trục cán để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2 - 5%. Sau
đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hoà tan.
Nước quả giải khát: Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10 - 50%
(tuỳ theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực
phẩm, chất màu thực phẩm và hương liệu. Sản phẩm có thể được nạp CO2
hoặc không nạp CO2.
Trong các chủng loại sản phẩm nói trên, sản phẩm nước quả giải khát
luôn được coi là một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến
rau quả.
Công nghiệp chế biến rượu vang mới phát triển trong những năm gần
hậu, tính đất đai khác nhau, hình thành lên các vùng chuyên sản xuất cây ăn
quả đặc sản có hương vị đặc trưng riêng [18].
Các yếu tố đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, và các
hiện tượng đặc biệt của thời tiết như giông bão, sương muối, mưa đá ảnh
hưởng lớn đến năng suất, sản lượng và phẩm chất quả thu hoạch được. Sự
khác nhau về yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời
tiết đặc trưng và cũng hình thành nên các vùng trồng cây ăn quả đặc trưng
rất thích hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng
đặc thù đem lại giá trị kinh tế cao (đầu tư chi phí ít mà năng suất, sản lượng,
chất lượng quả thu được cao, bán được giá vì được thị trường ưa thích).
Chính vì vậy, cây ăn quả được đánh giá cao, giữ vai trò quan trọng
trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng hiện nay ở nước ta.
9
1.1.3.2. Đặc điểm kỹ thuật
Cây ăn quả là loại cây trồng cạn, có tính chịu hạn cao, không kén đất,
với khả năng này nó tận dụng được đất đai không thể trồng được cây lương
thực, với kỹ thuật canh tác trên đất dốc, cây ăn quả có thể trụ lại và phát triển
bình thường, sau thời kỳ kiến thiết cơ bản (thường từ 3 - 4 năm) đến thời kỳ
sản xuất kinh doanh, thời kì này kéo dài, điểm này rất thuận lợi cho việc sản
xuất. Tuy nhiên, do đặc điểm về kỹ thuật trong sản xuất dẫn đến tính thời vụ
cao nếu chuyên môn hoá quá sâu. Để giảm bớt tính thời vụ trong việc phát
triển sản xuất cây ăn quả cần lưu ý mấy vấn đề sau:
- Thực hiện chuyên môn hoá sản xuất kết hợp với phát triển tổng hợp
bằng cách kết hợp cơ cấu cây ăn quả hợp lý, kết hợp cây ăn quả với các loại
cây trồng và vật nuôi khác. Bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý để sử dụng tối đa
lực lượng lao động sử dụng hợp lý các loại vật tư kỹ thuật.
- Tạo ra các giống cây cho sản phẩm không trùng nhau trong một năm
(cây trái vụ) để hạn chế tính thời vụ.
Một đặc điểm nữa là cây ăn quả thường được trồng trên các sườn đồi
Tây Ban Nha 11,02 triệu tấn, Thổ Nhĩ Kì 8,8 triệu tấn.
Theo Fao năm 2006 sản lượng một số loại quả trên thế giới, chuối
68.340.740 tấn trồng chủ yếu ở Ấn độ (chiếm 24%), Ecuador (chiếm 9%),
Brasil chiếm (9%), philippines chiếm (8%) sản lượng chuối toàn cầu, nho
66.887.170 tấn trồng chủ yếu ở vùng Địa Trung Hải, pháp và các nước trung
tâm Châu Âu, Hoa Kỳ, hồng 47.545.740 tấn trồng chủ yếu ở các nước Trung
Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Myanamr thích hợp vùng ôn đới và cận nhiệt đới,
xoài 29.491.430 tấn hiện được trồng chủ yếu ở 6 nước theo thứ tự sản lượng
Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, philippines và Việt Nam.
11
Trên thế giới năm 2008 sản xuất khoảng 65 triệu tấn khóm, xoài, bơ, đu
đủ, trong đó Châu Á trên 38 triệu tấn, Nam Mỹ 9,5 triệu tấn, Trung Mỹ và vịnh
cairbean 8,9 triệu tấn và Châu Phi 7,4 triệu tấn. Những trái cây có sản lượng nhỏ
hơn như ổi, vải, nhãn, sầu riêng, chôm chôm chiếm 17,8 triệu tấn [32].
Châu Á chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xuất khẩu, đa số tiêu thụ trong nước.
Chỉ 10% trái cây đi vào thị trường thế giới, chủ yếu tiêu thụ dạng tươi. Các
nước Châu Mỹ La Tinh và vùng vịnh caribean dẫn đầu thế giới trong xuất
khẩu trái cây suốt thập niên vừa qua, chủ yếu xuất khẩu sang các nước Bắc
Mỹ và Châu Âu. Hai khu vực này nhập khẩu 75% lượng khóm, xoài đu đủ và
trái bơ trên thê giới trong năm 2008. Giá trị giao dịch trái cây nhiệt đới tươi
toàn cầu lên đến 4,5 tỷ USD trong năm 2008 so với giá trị chuối 7,5 tỷ USD,
táo 6,2 tỷ USD, cam 3,3 tỷ USD và lê 2.2 tỷ USD.
Giá trị giao dịch trái cây nhiệt đới chế biến trên thế giới lên đến 1,9 tỷ
USD năm 2008. Châu Á xuất khẩu 918.000 tấn trái cây tươi, Nam Mỹ, Trung
Mỹ, và vùng vịnh caribean xuất khẩu 3 triệu tấn. Philippines là nước xuất
khẩu trái cây lớn nhất với sản lượng 317.000 tấn.
Để phát triển diện tích và tăng sản lượng cây ăn quả, trên thế giới đã
chú trọng những vấn đề như: Chọn giống mới, nghiên cứu kỹ thuật trồng và
quản lý, chăm sóc cây ăn quả ; tưới nước giữ độ ẩm, chống xói mòn đất cho
(Tây Bắc, Đông Bắc)
Qui mô vườn quả của các nông hộ sản xuất ở các vùng tập trung tuỳ
thuộc vào đặc điểm đất đai từng vùng. Vùng đồng bằng Sông Hồng dưới 200
m
2
; miền Nam, miền núi Trung Du Phía Bắc Phổ biến từ 1000-2000m
2
. Đã có
những điển hình tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại cây ăn quả cả vùng đồng
bằng và vùng đất đồi núi. Những vùng cây ăn quả thâm canh và có hiệu quả
kinh tế cao thường gắn việc trồng cây ăn quả trong kinh tế sinh thái VAC vừa
nuôi trồng thuỷ sản, phát triển chăn nuôi công nghiệp [11].
13
Với điều kiện đất đai, khí hậu nhiệt đới có pha trộn tính ôn đới rất thuật
tiện cho nhiều loại cây ăn quả ở nước ta phát triển. Hiện nay tập đoàn cây ăn
quả ở nước ta rất phong phú trong đó có nhiều loại cây ăn quả quí không chỉ
có ý nghĩa tiêu dùng trong nước, mà còn có ý nghĩa xuất khẩu có giá thị như
cam, nhãn, vải, dứa, sầu riêng, xoài.
Diện tích cây ăn quả của Việt Nam tăng từ 346 nghìn ha năm 1995 đến
767 nghìn ha năm 2006, đến 775 nghìn ha năm 2007 và sản lượng đạt 7 triệu
tấn. Năm 2007 xuất khẩu rau quả đạt 300 triệu USD, trong đó chuối khoảng
100 nghìn ha sản lượng đạt 1,2 triệu tấn, cam quýt có diện tích gần 80 nghìn
ha sản lượng 523 nghìn tấn, xoài có diện tích 75 nghìn ha sản lượng 337
nghìn tấn ngoài các quả nhiệt đới một số loại quả cận nhiệt đới cũng được
phát triển ở các tỉnh phía Bắc như vải, hồng, mận, táo lê.
Việc bố trí sản xuất cây ăn quả. Ngoài việc bố trí trồng rải rác trên tất
cả các vùng, các địa phương, chúng ta còn bố trí trồng tập trung quy mô cây
ăn quả ở những vùng và những địa phương có điều kiện như: Vùng cây ăn
quả tập trung Nam Bộ và miền núi phía Bắc trong đó 70% diện tích nằm ở các
so với nhiều nước khác. Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và
hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực.
1.3.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
- Lao động: Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển
của các ngành trong đó có ngành rau quả.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nước sống
ở nông thôn và trên 70% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu
vực này. Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và có
thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả.
15
Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy
được nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chọn giống rau đậu, cam, quýt, bưởi, hồng
xoài, chôm chôm, thanh long. Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống
đã thu được năng suất và lợi nhuận cao. Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì
nhiều vấn đề chưa giải quyết được, nhất là các khâu như: Giống, phòng trừ
sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch. Nhìn chung, trình độ dân trí của nước ta còn
thấp so với nhiều nước trên thế giới.
- Vốn: Là yếu tố quan trọng không những để tăng trưởng kinh tế, phát
triển sản xuất nông nghiệp, trồng CĂQ cần lượng vốn đầu tư ban đầu lớn hơn
so với các loại cây trồng khác. Hơn nữa, vốn giúp cho các hộ sản xuất CĂQ có
điều kiện thâm canh, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, trên cơ sở
đó mới có điều kiện giảm chi phí sản xuất và nâng cao HQKT. Do vậy muốn
phát triển nhanh về diện tích, quy mô trồng CĂQ đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của
Nhà nước về vốn như: Cho vay với lãi suất ưu đãi, trợ giá cây giống, phân bón.
Mặt khác cần mở ra và đẩy nhanh bảo hiểm vật nuôi, giúp đã các hộ nông dân
sản xuất CĂQ khi gặp rủi ro như thiên tai, dịch bệnh…
- Cơ sở vật chất kỹ thuật: Là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc
sản xuất cây ăn quả. Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất
của một số nước trên thế giới do vậy nước ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất
Các hình thức tổ chức sản xuất phản ánh mức độ tập trung các nguồn
lực của địa phương cho sản xuất. Trong ngành nông nghiệp ở các nước tư bản
phát triển thì hình thức tổ chức sản xuất chủ yều là trang trại, có rất nhiều
những trang trại với quy mô hàng ngàn ha, còn ở nước ta thì chủ yếu lại là hộ
gia đình, sản xuất với quy mô nhỏ bé, ruộng đất manh mún, phân tán là
nguyên nhân cản trở sản xuất hàng hoá phát triển.
Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất góp phần hoàn thiện
các phương thức sản xuất nhằm khai thác, ứng dụng hợp lý và hiệu quả hơn
các nguồn lực xã hội vào ngành trồng trọt.
17
Trong lĩnh vực trồng trọt, việc xác định cơ cấu cây trồng trước tiên phải
tìm hiểu nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước về số lượng, chất lượng,
mẫu mã, giá cả. Trên cơ sở đó mà có sự bố trí sắp xếp sản xuất hợp lý đáp
ứng nhu cầu thị trường, thúc đẩy nhanh tái sản xuất mở rộng.
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.4.1. Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
- Tại sao phải phát triển sản xuất cây ăn quả ở địa bàn nghiên cứu?
- Tình hình và thực trạng ra sao, liệu có phát triển được không?
- Có những giải pháp chủ yếu nào và giải pháp nào tốt nhất để thực hiện?
Vì sao?
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu
1.4.2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các điểm chọn nghiên cứu phải đại
diện cho các vùng sinh thái kinh tế trồng cây ăn quả trong huyện trên phương
diện về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và những đặc điểm chung ở các
tiểu vùng
- Xã Gia Thanh đại diện cho tiểu vùng thượng huyện.
- Xã Bình Bộ đại diện cho tiểu vùng ven sông lô.
- Xã Liên Hoa đại diện cho tiểu vùng hạ huyện