LUẬN VĂN:
Hoạch định chính sách công trong quá
trình xây dựng mô hình nông thôn mới
trên địa bàn Quảng Nam
MỞ ĐẦU
trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Như, Chương trình định canh
định cư và xây dựng vùng kinh tế mới (năm 1968); Chương tình mục tiêu quốc gia xóa
đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001-2005; Chương trình phủ xanh đất trống đồi
núi trọc (327/CT) và Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; Chương trình mục tiêu quốc gia
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình phát triển kinh tế- xã hội các
xã đặc biệt khó khăn ở vùng sâu vùng xa. Chủ trương chính sách xem nông nghiệp là
mặt trận hàng đầu, ba chương trình: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất
khẩu; CNH và HDH nông nghiệp, nông thôn; xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư,
Một trong số chương trình lớn có sự phối hợp, tài trợ của các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài, Chương trình 135 về giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn; các chương
trình quốc gia lớn nhằm nâng cao thu nhập cho nông dân đã thu hút trên 13,07 triệu
hộ với trên 58,41triệu lượt người ở nông thôn tham gia; các chính sách lớn của
Đảng và Nhà nước ta về đất đai, sản xuất nông sản hàng hoá, kinh tế hợp tác, kinh
tế trang trại,… đã và đang đưa nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá- tập trung - quan
liêu - bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy vậy, nhìn chung, các chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông
thôn chưa thực sự hiệu quả, thiếu bền vững, ở nhiều mặt có thể nói chưa đáp ứng
yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, chưa đưa sản xuất nông nghiệp ở nông
thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là chưa định hướng rõ mô hình phát
triển, thể hiện ở việc nhận thức chưa thấu đáo các vấn đề như: Tầm nhìn (mục tiêu),
mô hình phát triển và các nguồn lực và thiếu sự xác định lợi ích thực tế của các bên
liên quan trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Vì vậy dẫn đến tình trạng thiếu cụ
thể, thiếu tính khoa học trong quy trình hoạch định và triển khai chính sách; có
nhiều chính sách, nhưng hiệu quả kinh tế, hiệu ứng xã hội của các chính sách không
tương xứng với nguồn lực đầu tư, hoặc thiếu bền vững.
Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đưa Nghị quyết của
Đảng về nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH
nông nghiệp nông thôn, việc cần làm trong giai đoạn hiện nay là xây dựng cho được
các mô hình nông thôn mới đủ đáp ứng yêu cầu phát huy nội lực của nông dân,
chí của mô hình này…Nhưng vẫn chưa có một chính sách cụ thể. Đối với một địa
phương như Quảng Nam, chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới có ý nghĩa
đặc biệt quan trong trong thực hiện các nhiệm vụ mang tính chiến lược của tỉnh nhà. Với tất cả những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề "Hoạch định
chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn
Quảng Nam" làm luận văn thạc sĩ chính trị học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết
vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan
lãnh đạo, quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng
như ở nước ta.
Trên thế giới, trước hết phải kể đến công trình: “Chính sách nông nghiệp
trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nhà xuất bản nông
nghiệp ấn hành năm 1994. Trong tác phẩm này, tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ
bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển thông qua việc nghiên
cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước Châu á, Châu Phi và Châu Mỹ La
Tinh. Cuốn sách đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách
hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản,
những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá.
Điều đặc biệt cần lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của
các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn liền với
thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình thành
công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề
nông dân.
Công trình: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các nước
và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và
Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành năm 2000. Trong công
trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế
Nông nghiệp ấn hành năm 1995. Trong công trình này các tác giả đã đi sâu phân
tích quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp của Thái Lan
từng thời kỳ. Trong đó một số nội dung được các tác giả đề cập có giá trị tham khảo
rất tốt cho Việt Nam như chính sách phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, chính
sách xuất khẩu nông sản, chính sách tín dụng và đặc biệt là những chính sách liên
quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp.
Những công trình liên quan đến chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân
ở nước ta có khối lượng rất đồ sộ, cách thức tiếp cận cũng rất đa dạng.
Công trình: “Phát triển nông thôn" do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên) Nxb
Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về
phát triển nông thôn. Trong công trình này, tác giả đã phân tích khá sâu sắc một số
Comment [U1]:
nội dung về phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta như dân số, lao động, việc
làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; vấn đề sử dụng và quản lý nguồn lực tài nguyên
thiên nhiên; vấn đề phân tầng xã hội và xoá đói giảm nghèo… Trong lúc phân tích
những thành tựu, yếu kém và thách thức đặt ra trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn nước ta, các tác giả đã chỉ ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống chính sách và cách
thức chỉ đạo của Nhà nước trong quá trình vận động của nông thôn.
Về mô hình nông nghiệp, nông thôn trong lịch sử dân tộc là vấn đề rất được
nhiều nhà khoa học quan tâm. Đây cũng là vấn đề không thể thiếu vắng khi xác
định mô hình nông thôn mới hiện nay.
Công trình: “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử”
do GS. Phan Đại Doãn và PGS. Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, Nxb Chính trị
Quốc gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong
phát triển nông thôn nước ta. Sau khi nêu lên sự quan tâm của Nhà nước trong các
thời kỳ về quản lý làng xã và xây dựng thiết chế chính trị - xã hội nông thôn nước
ta, các tác giả đã trình bày khá toàn diện về quản lý nông thôn nước ta trong lịch sử
do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1996 với tiêu đề: “Chính sách kinh tế và vai
trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã luận giải nhiều nội
dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về chính sách, các nội dung của
chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10
năm đổi mới và những tác động của chúng.
Công trình nghiên cứu: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết
X của Bộ Chính trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng chủ biên do Nxb Chính trị Quốc
gia ấn hành năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chủ đề
nghiên cứu như phân tích quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dưới sự tác
động của hệ thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể như chính
sách đất đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta.
Về những mô hình hợp tác xã nông nghiệp nước ta, được coi là một mô hình
phát triển nông nghiệp nông thôn trong quan niệm xây dựng chủ nghĩa xã hội kiểu
Xô viết, cũng được một tập thể các nhà khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh nghiên cứu khá sâu sắc trong Đề tài tổng kết thực tiễn "Mô hình hợp tác
xã nông nghiệp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta" (2003) do
GS,TS Lưu Văn Sùng làm chủ nhiệm
Đặc biệt công trình nghiên cứu do PGS. TS. Vũ Trọng Khải chủ trì được
Nxb nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô
hình phát triển của nông thôn Việt Nam. Công trình nghiên cứu này được xuất bản
trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước do tác giả làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Tổng kết và
xây dựng mô hình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống
làng xã với văn minh thời đại”. Việc hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp Việt Nam cũng đã bước đầu
được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Một số tác giả như GS,TS Bùi Xuân
Lưu; GS,TS Nguyễn Điền, TS. Nguyễn Từ; Th.s Nguyễn Thu Hằng
Công trình nghiên cứu: “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế” do GS,TS Bùi Xuân Lưu, Nxb Thống kê ấn hành
Sơn và Th.S Lưu Văn Quảng đã trực tiếp bàn về chính sách, hơn nữa lại là chính
sách liên quan đến nông nghiệp nông thôn và chính sách dân tộc trong cuốn "Những
vấn đề cơ bản về chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay" (Nxb LLCT. H. 2005)…
Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất
quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải
quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta. Tuy nhiên, các công trình ấy không
đi sâu nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách công về nông nghiệp, nông thôn nói
chung và mô hình nông thôn mới của một tỉnh (Quảng Nam) của Việt Nam. Những kết
quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu
và sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên
cứu của mình về sau.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
- Thông qua nghiên cứu, đánh giá quá trình hoạch định chính sách công trong
phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam từ khi đổi mới đến nay nói chung, và
Quảng nam nói riêng, luận văn nghiên cứu quá trình hoạch định chính sách công
trong xây dựng nông thôn mới ở Quảng Nam, đề xuất các khuyến nghị mang tính
giải pháp làm cơ sở để các cơ quan, ban, ngành thực hiện tốt hơn các chu trình
hoạch định chính sách công trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở địa phương,
xây dựng thành công nông thôn mới.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách công và việc hoạch định chính sách
công.
- Phân tích quá trình hình thành và phát triển của chính sách công trong phát
triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, xây dựng mô hình nông thôn mới nói riêng
của Đảng và Nhà nước ta từ sau đổi mới đến nay;
- Phân tích quá trình hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những kiến nghị mang tính giải pháp nhằm
thực hiện một cách khoa học các chu trình hoạch định chính sách công trong xây
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2
chương, 8 tiết. Chương 1
NHỮNG CĂN CỨ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHÍNH SÁCH CễNG
VỀ Mễ HèNH NễNG THễN MỚI
1.1. các khung khổ lý thuyết về chính sách công
1.1.1. Quan niệm về chính sách công
Có nhiều định nghĩa khác nhau về “chính sách công”. Nhà kinh tế học Anh
(Frank Ellis) cho rằng: Không có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ “chính sách
công” phù hợp với tất cả mọi người. Cách hiểu thông thuờng được nói đến nhiều
nhất: Chính sách (Politique) là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phỏi
hoặc chớnh phủ trong cỏc lĩnh vực chớnh trị - kinh tế - xó hội; là sỏch lược và kế
hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định.
Tuy vậy, có rất nhiều cách cắt nghĩa. Frank Ellis cho rằng chính sách là “nghệ
thuật của Chính phủ” tạo ra các điều chỉnh và sự can thiệp cần thiết. Chớnh sỏch
cụng ngụ ý sự can thiệp của Nhà nước vào xó hội. Từ đó ông nêu ra định nghĩa:
“Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối
với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ tỡm kiếm và sự
lựa chọn cỏc phương pháp để theo đuổi mục tiêu đó” [10, tr.121].
E. Anlerson cho rằng chính quyền là cơ quan thực hiện sự uỷ quyền của dân,
thực hiện ý chớ của mọi người. Vỡ thế nú là một thể chế cụng cộng điển hỡnh nhất,
hoạt động của nó là hoạt động công cộng vỡ lợi ích công cộng. Chính quyền có khả
năng huy động nguồn lực của toàn xó hội và tác động đến các bộ phận của xó hội
với những mục đích nhất định. Những tác động này được gọi là chính sách. E.
Anlerson cho rằng hoạt động của chính quyền là chính sách công. Từ đây, ông định
nghĩa: "Chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm và không
làm" [10, tr.122].
phải là ngẫu nhiên) của Nhà nước đến đời sống nhân dân, nhằm đạt được các mục tiêu
Nhà nước đó đặt ra trong quá trỡnh quản lý xó hội.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của
đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xó hội Muốn định ra chính sách
đúng phải căn cứ vào tỡnh hỡnh thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải
vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối nhiệm vụ
chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.
Đối với Việt Nam, chính sách là các quan điểm, cách thức, biện pháp của Nhà
nước nhằm cụ thể hoá đường lối của Đảng tác động đến các lĩnh vực trong đời sống xó
hội nhằm đạt được mục tiêu trong mỗi thời kỳ khác nhau. Nhiều trường hợp chủ trương
đường lối, nghị quyết của Đảng cũng được coi là chính sách. Như vậy, chính sách công
bao hàm các vấn đề rất cơ bản như sau:
Comment [U4]:
chú thích
Comment [U5]:
chú thích Thứ nhất, chính sách công là các “chương trỡnh” bao gồm cỏc mục tiờu và biện
phỏp liờn quan với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, được luận giải khoa học. Điều đó giúp
phân biệt chính sách với các quyết định nhất thời mang tính chất tỡnh thế.
Thứ hai, “Tính định hướng đích, cụ thể” của chính sách công phân biệt được
rừ giữa định hướng, chính sách và biện pháp theo mức độ cụ thể hoá.
Thứ ba, “Tính hợp pháp” của chủ thể ra chính sách (Nhà nước) từ đó khẳng
định khả năng cưỡng chế của bộ máy quyền lực. Nó là tiêu chí chính thể hiện sự
khác biệt giữa chính sách công với các chính sách của các tổ chức trong khu vực tư
nhân hay của các đảng, đoàn thể xó hội vốn là những chủ thể không nắm quyền lực
công cộng mặc dù có ảnh hưởng nhất định đến quyền lực đó.
Thứ tư, " tính hệ thống", " tính lịch sử",các chính sách luôn luôn phụ thuộc
nhiều,chính sách liên quan, chế tài bởi các văn bản quy phạm pháp luật, các chính
phương.
Vỡ vậy, chớnh sỏch cụng (Nhà nước) của Trung ương mang tính toàn diện.
Bao gồm:
- Các chính sách về phát triển kinh tế, như: Chính sách về sở hữu, phát triển cơ
sở hạ tầng, thay đổi cơ cấu kinh tế, phát triển khoa học công nghệ, xây dựng các thể
chế thị trường, tạo dựng các khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh tế, các chiến
lược phát triển kinh tế…
- Chính sách phát triển văn hoá, như: Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc, phát huy truyền thống văn hoá, khai thác những di sản văn hoá
trong phát triển và hội nhập, tạo dựng những giá trị mới về văn minh vật chất và
tinh thần trong các quan hệ xó hội,…
- Chớnh sỏch chớnh trị - xó hội là những chớnh sỏch nhằm đảm bảo và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào công việc
của nhà nước và xó hội; chính sách giáo dục đào tạo, xây dựng nguồn lực con
người, trong đó đặc biệt là đội ngũ cán bộ lónh đạo, quản lý và đội ngũ những nhà
khoa học, đội ngũ lao động có trỡnh độ công nghệ cao, có khả năng tạo ra các sản
phẩm có hàm lượng trí tuệ cao; các chính sách xoá đói giảm nghốo, thực hiện cụng
bằng xó hội, chớnh sỏch bỡnh đẳng giới, bỡnh đẳng cùng phát triển đối với các dân
tộc thiểu số…
Ngoài ra, cũn nhiều chớnh sỏch liờn quan đến an ninh quốc phũng, chớnh sỏch
tụn giỏo, dõn tộc, đối ngoại, chính sách trực tiếp giải quyết những vấn đề của một
địa phương hoặc giải quyết mối quan hệ phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và
địa phương. Tuy vậy, chính sách của Trung ương không thể bao quát hết các vấn đề cụ thể,
độc đáo của từng địa phương. Chính quyền từng địa phương cần cụ thể hoá các
chính sách của Trung ương phù hợp với đặc điểm, nguồn lực và phương thức thực
hiện của địa phương mỡnh. Ngoài ra, mỗi địa phương cũn cú nhu cầu riêng không
phản ánh trong chính sách của Trung ương. Nếu không có chính sách địa phương
Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của hệ thống hoạch
định chính sách. Ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị. Trong quá
trỡnh tạo ra được một "sản phẩm đầu ra" là chính sách, hệ thống hoạch định phải
thực hiện nhiều công đoạn của một chu trỡnh. Trước hết, đó là xác định vấn đề của
chính sách. Vấn đề của chính sách nằm trong các nhu cầu về chính sách (hay cũn
gọi là nhu cầu chớnh trị). Cỏc nhu cầu này xuất phỏt từ lợi ớch của cỏ nhõn, cỏc
nhúm xó hội, cỏc đảng chính trị, thậm chí là các quốc gia cần được đáp ứng ngay.
Trong thời điểm mà những vấn đề nêu trên trở thành bức xúc, trong xó hội vẫn cũn
nhiều vấn đề bức xúc khác nữa, liên quan đến lợi ích của các nhóm dân cư, các lực
lượng chớnh trị, xó hội khỏc nhau. Vậy làm sao lựa chọn được vấn đề đúng cho một
chính sách? Điều này liên quan đến yếu tố đầu vào thứ hai là thông tin. Ai là người
có khả năng cung cấp những thông tin, diễn giải về vấn đề cho hệ thống hoạch định
chính sách? Có nhiều kênh thông tin từ truyền miệng, gây dư luận, kiến nghị bằng
văn bản qua hệ thống chính quyền, truyền thông đại chúng, các nghiên cứu khoa
học, vận động hành lang, gây áp lực và kênh thu thập thông tin chính thức của hệ
thống hoạch định chính sách…Vấn đề đặt ra ở đây là cho dù một vấn đề xó hội thực
sự bức xỳc hoặc một sỏng kiến chớnh sỏch rất tốt, nhưng nếu không có cách nào
đưa vào được nghị trỡnh chớnh sỏch thỡ sẽ khụng thể trở thành chớnh sỏch được.
Đây là quá trỡnh thực thi quyền lực chớnh trị và quyền lực Nhà nước rất phức tạp
thông qua hệ thống chính trị và hệ thống xó hội, mà kết quả phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chủ quan của các lực lượng chính trị - xó hội, của cỏc nhà hoạch định
chính sách.
Bước 2: Xây dựng và ban hành chính sách
Từ tất cả các thông tin, hệ thống hoạch định phải xác định cho được vấn đề
nào cần đặt lên chương trỡnh nghị sự. Để có kết quả đó, người hoạch định chính
sách cần sử dụng ba công cụ chủ yếu:
- Tầm nhỡn.
- Nguồn lực được sử dụng.
lượng tương đối cụ thể.
1.1.4. Khái niệm mụ hỡnh nụng thụn mới
Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn. Theo các
tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dó, ngụn ngữ đời sống
trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. Nó gợi ra môi
trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền - không gian sinh
tồn; đồng thời là không gian xó hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng
tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt.
Nhà nghiờn cứu Trần Từ cho rằng “Làng là tế bào sống của xó hội Việt cổ, là
sản phẩm tự nhiờn tiết ra từ quỏ trỡnh định cư và cộng cư của người Việt trồng
trọt”. Cùng nhận xét đó, GS,TS Hoàng Chí Bảo trong cụng trỡnh nghiờn cứu về
“Hệ thống chớnh trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cũng cho rằng làng Việt
vốn hỡnh thành một cỏch tự nhiờn, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính
quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại
trị vỡ trong lịch sử mà tờn gọi của làng cú khỏc nhau: “làng” cũn gọi là "thôn" hoặc
"làng xó", cũng cú khi làng cũng chớnh là "xó".
Theo PGS,TSKH.Phan Xuân Sơn: Trong lịch sử, đơn vị "xó", cú nơi là "làng -
xó" một đơn vị quần cư- hành chính có từ lâu đời trong kết cấu nông thôn Việt Nam
[39, tr.43].
Trong quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế - xó hội của làng- xó, những đặc điểm kinh
tế, văn hoá, xó hội của nú là những yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến sự
nghiệp dân chủ hoá cấp cơ sở nói riêng và sự phát triển nông nghiệp, nông thôn nói
chung.
Làng - xó là một cộng đồng địa vực, có ranh giới lónh thổ tự nhiờn và hành
chớnh xỏc định. Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế. Làng xó vừa có ruộng,
có nghề, có chợ tạo thành một không gian khép kín thống nhất. Làng - xó là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán văn hoá. Làng- xó cũn là một
đơn vị tự trị về chính trị.
Comment [U6]:
Chú thích: ví dụ (2.
245) Dưới thời phong kiến, làng xó là người quản lý đất công cho nhà vua và nông
dân cày ruộng đất công làng xó trở thành tỏ điền của Nhà nước. Những làng xó
tương đối tự trị trước kia trở thành một đơn vị kinh tế phụ thuộc Nhà nước, vừa
cung cấp lương thực phẩm, lao dịch, binh dịch, vừa cung cấp đất đai để Nhà nước
ban cho viên chức của mỡnh. Nếu Nhà nước phong kiến biết chấp nhận nhu cầu tự
trị của làng xó, tổ chức được nó sẽ nắm quyền quản lý và phỏt huy được sức mạnh.
Ngược lại, đẩy làng xó về phớa đối lập với mỡnh và trong thực tế khụng nắm được
quyền quản lý làng xó đó.
Thời thuộc Pháp, là nơi nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý thức dõn tộc của
nhõn dõn ta, nhiều làng xó đó trở thành những căn cứ chống Pháp, lật đổ ách
thống trị thực dân phong kiến và xác lập chế độ dân chủ cộng hoà, giành lại độc
lập chủ quyền và xây dựng chính quyền thực sự của dân, do dân làm chủ.
Trong khỏng chiến chống Mỹ và cụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội, làng
xó, nụng thụn Việt Nam phỏt huy tối đa vai trũ hậu phương, đóng góp sức người,
sức của cho sự nghiệp Cách mạng. Nông thôn từng là pháo đài chiến luỹ, quân với
dân tay súng tay cày cùng đánh giặc; khắp nông thôn miền Bắc dấy lên phong trào
“tất cả vỡ miền Nam ruột thịt”; “thúc khụng thiếu một cõn, quõn khụng thiếu một
người”. Hoà bỡnh lập lại trờn miền Bắc, phong trào hợp tỏc hoỏ nụng nghiệp với
tinh thần “hợp tỏc xó là nhà, xó viờn là chủ”, hầu như khắp các làng xó của nụng
thụn đóng góp sức người, thậm chí cả xương máu, lôi cuốn toàn bộ tinh thần và nỗ
lực của dân tộc cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam. “Không
có phong trào tập thể hoá và hợp tỏc xó nụng nghiệp, khụng cú hy sinh to lớn của cả
cộng đồng, trong đó có mấy chục triệu nông dân ở nông thôn chúng ta không thể
giành chiến thắng mà nhờ đó dân tộc ta đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong
chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân vỡ độc lập dõn tộc và chủ nghĩa xó
điểm chung có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước.
Tóm lại, mụ hỡnh nụng thụn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo
thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô
hỡnh nụng thụn cũ (truyền thống, đó cú) ở tớnh tiờn tiến về mọi mặt, được hỡnh
dung trờn những nột rất cơ bản như sau:
Một là, nụng thụn làng-xó thực sự là một cộng đồng, trong đó quản lý của Nhà
nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự
quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nuớc). Quản lý nhà nước và tự quản của nông dân được kết hợp hài hoà; các giá trị
truyền thống làng xó được phát huy tối đa, tạo ra bầu khụng khớ tõm lý xó hội tớch
cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xó hội ở nụng thụn, giữ
vững an ninh trật tự xó hội,… nhằm hỡnh thành mụi trường cho phát triển kinh tế
nông thôn.
Hai là, nông thôn đáp ứng yêu cầu đô thị hoá để chuẩn bị những điều kiện vật
chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở nên thịnh vượng ngay trên
mảnh đất mà họ đó gắn bú từ ngàn đời. Trước hết, tạo cho người dân điều kiện
chuyển đổi lối sống và canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang điều
kiện sản xuất hàng hoá, đa dạng hoá cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp,
dịch vụ, du lịch; để người nông dân “ly nông bất ly hương”.
Ba là, nụng thụn khai thỏc hợp lý và nuụi dưỡng các nguồn lực về sinh thái
cho thế hệ ngày nay và mai sau; có mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, có
môi trường sinh thái được giữ gỡn, tiềm năng du lịch được khai thác, khôi phục
làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp. Vận dụng các công nghệ
cao về quản lý, sinh học để kinh tế nông nghiệp, nông thôn đạt hiệu quả. Cơ cấu
kinh tế nông nghiệp phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, khu vực, cả nước và
quốc tế.
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất; các chủ thể nông
Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp” viết năm 1894 khi trỡnh bày
những nguyờn lý của chớnh sỏch nụng nghiệp xó hội chủ nghĩa, Ăngghen có nói:
“Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông trước hết phải hướng quyền sở hữu cá thể và
nền kinh doanh cá thể vào con đường kinh doanh hợp tác” [1, tr.9]. Ph.Ănghen cũn
cho rằng: “Chúng ta kiên quyết đứng về phía người tiểu nông, chỳng ta cố tỡm đủ
mọi cách để làm cho số phận của họ dễ chịu hơn, để cho họ chuyển sang hợp tác xó
được dễ dàng hơn, nếu họ quyết như thế” [1, tr.10]. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng
của vấn đề nông dân nông nghiệp nông thôn, Ăngghen cho rằng: “Chúng ta làm như
thế là vỡ chớnh ngay lợi ớch của Đảng”. Vỡ thế mà sau này, Lờnin tiếp tục khẳng
định: “Có công nông là có chính quyền, có tất cả” [1, tr.10].
Luận chứng về vai trũ quyết định của giai cấp nông dân rằng: “Nhân tố thắng
lợi ở chỗ không phải giai cấp công nhân, tức giai cấp vô sản chiếm ưu thế trong dân
số trên toàn quốc và ở tính tổ chức của họ mà ở chỗ giai cấp vô sản được sự ủng hộ
của giai cấp nông dân” [13, tr.6].
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đề cao vấn đề nông dân, nông nghiệp,
nông thôn trong sự nghiệp cách mạng: “Phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan
Comment [U7]:
Các chú thích? trọng. Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển
nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phỏt triển nụng nghiệp thỡ khụng cú
cơ sở để tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra” [37, tr.180].
1.2.2. Sự phát triển quan điểm và quá trình đổi mới chính sách phát triển
nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngay trong cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng ta đã khẳng định vai trò
của nông dân trong cách mạng nước ta. Qua mỗi một giai đoạn cách mạng quan
điểm, đường lối của Đảng về vấn đề này cũng được cụ thể hoá, thay đổi, phát triển
đáp ứng được những yêu cầu của thực tiễn đề ra. Sau năm 1954, trong khôi phục
kinh tế, Đảng rất quan tâm đến sản xuất nông nghiệp, sản xuất lương thực. Quan