hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn quảng nam - Pdf 10

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta hiện vẫn là một nước nông nghiệp, nông dân đang chiếm gần 74%
dân số và chiếm đến 60,7% lao động xã hội. “Thu nhập hộ nông dân hịên chỉ
bằng 1/3 so với dân cư khu vực thành thị, ở vùng núi có tỉ lệ mù chữ trên 22,6%,
hiện còn 2,25 triệu hộ nghèo (90% ở nông thôn), 300.000 hộ thường xuyên thiếu
đói, 400.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống du canh” [44, tr.248]. Trong khi
đó nông nghiệp nông thôn đóng góp lớn cho nền kinh tế quốc dân với 20%
GDP, trên 25% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù vậy, các chính sách phát
triển nông nghiệp trước đây thường thiên về thúc đẩy phát triển ngành, có
phần xem nhẹ vai trò, lợi ích của chủ thể chính, động lực chính của phát triển
nông nghiệp là nông dân. Phần lớn các chính sách hầu như chưa quan tâm xử
lý tổng thể và hợp lý mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong ngành,
giữa nông thôn và thành thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để mối quan hệ
giữa các yếu tố chính của mô hình phát triển nông nghiệp nông thôn … Đây
là nguyên nhân chủ yếu, khiến cho sau nhiều thập kỷ chuyển đổi nền nông
nghiệp sang thị trường, đến nay về cơ bản nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
vẫn mang tính khép kín, tự cấp tự túc.
Khi nước ta gia nhập WTO, tham gia vào các diễn đàn hợp tác kinh tế
lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển ngày một lớn,
đặt ra yêu cầu rất cao đối với nền kinh tế nước ta, trong đó lĩnh vực nông
nghiệp là lĩnh vực phải đối mặt với nhiều thách thức nhất. Trước yêu cầu phát
triển và hội nhập hiện nay, thực hiện mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, đã đến lúc đòi hỏi phải có nhiều chính sách đột phá và
đồng bộ nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá nông
1
thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa
chiến lược đối với sự ổn định và phát triển đất nước.
Ở nước ta thời gian qua, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các
tổ chức xã hội trong nước đã có nhiều nỗ lực nhằm xoá đói giảm nghèo, cải thiện
môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn. Như, Chương trình

Đảng về nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanh tốc độ CNH-
HĐH nông nghiệp nông thôn, việc cần làm trong giai đoạn hiện nay là xây
dựng cho được các mô hình nông thôn mới đủ đáp ứng yêu cầu phát huy nội
lực của nông dân, nông nghiệp và nông thôn, đủ điều kiện hội nhập nền kinh
tế thế giới.
Để thực hiện các mục tiêu trên, cần có nhiều chính sách phát triển nông
nghiệp nông thôn mang tính đồng bộ, nhưng trong đó chính sách có ý nghĩa
quyết định là chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới.
Đây là chính sách về một mô hình phát triển của nông nghiệp và nông
thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải
quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời phải giải quyết các mối quan hệ với các
chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng
thể, khắc phục được tình trạng tuỳ tiện, rời rạc, ngẫu hứng hoặc duy ý chí
trong các chính sách nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp nông
thôn ở nước ta nói riêng từ trước đến nay.
Quảng Nam là một tỉnh nghèo, không nhiều thuận lợi về tài nguyên thiên
nhiên và điều kiện khí hậu, lại vừa mới chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng (được 10 năm), cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn chung còn thiếu hụt, trình
độ phát triển hiện còn thấp so với bình quân cả nước; cơ sở hạ tầng điện,
đường, trường, trạm và các dịch vụ công cộng thiếu và yếu; số lượng gia đình
chính sách xã hội tương đối đông…Để có bước phát triển nhanh, bền vững,
hiện nay tỉnh đang cố gắng hoạch định và thực thi nhiều chính sách kinh tế xã
hội mang tính bứt phá. Trong nông nghiệp và nông thôn, là một tỉnh nông
nghiệp, các cơ quan hoạch định chính sách đang tìm tòi mô hình phát triển
nông thôn thật sự phù hợp, có khả năng đảm bảo ổn định chính trị, kinh tế xã
3
hội, phát huy được các truyền thống lịch sử văn hoá, thích ứng nhanh với
những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đáp ứng được
yêu cầu CNH, HĐH đất nước và nông nghiệp nông thôn…Mô hình nông thôn
như vậy, thể hiện trong ý tưởng của TƯ Đảng, Chính phủ và Bộ NN & PTNT,

và giải quyết vấn đề nông dân.
Công trình: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân nông thôn ở các
nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott
Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành
năm 2000. Trong công trình này, các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc
điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những
kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam. Những
điểm đáng chú ý của công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết
những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như,
tương lai của các trang trại nhỏ; nông dân với khoa học; hệ tư tưởng của nông
dân ở thế giới thứ ba; các hình thức sở hữu đất đai; những mô hình tiến hoá
nông thôn ở các nước nông nghiệp trồng lúa Đặc biệt lưu ý là những kết quả
nghiên cứu của công trình về làng truyền thống ở Việt Nam; quan hệ làng xóm
- Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Ở trong nước, có hàng loạt công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh
nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài. Theo hướng này,
một số nhà nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn ở nước ta như PGS,TS. Chu Hữu
Quý; GS,TS. Nguyễn Thế Nhã; GS,TS. Phạm Thị Mỹ Dung, GS. Đoàn Trọng
Truyến, PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc đã có những công trình nghiên cứu
công phu và có giá trị.
Điểm chung nhất của các nghiên cứu này và sau khi phân tích thực tiễn
giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính
sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài, các tác giả đều cố gắng
gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng cho giải quyết những
vấn đề thực tiễn của Việt Nam.
Tác phẩm: “Gia nhập WTO, Trung Quốc làm gì? được gì?” do TS.
Nguyễn Kim Bảo chủ biên, xuất bản năm 2004. Những phân tích, đánh giá
5
của công trình này về những việc đã làm của Trung Quốc, những kết quả
bước đầu cũng như những vấn đề đặt ra cần được giải quyết về phát triển kinh

Công trình: “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong
lịch sử” do GS. Phan Đại Doãn và PGS. Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên,
Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những
vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta. Sau khi nêu lên sự quan tâm
của Nhà nước trong các thời kỳ về quản lý làng xã và xây dựng thiết chế
chính trị - xã hội nông thôn nước ta, các tác giả đã trình bày khá toàn diện về
quản lý nông thôn nước ta trong lịch sử như vấn đề Nhà nước quản lý nông
thôn trong các thế kỷ XVI - XVIII; nhà Nguyễn đối với vấn đề nông thôn
trong thế kỷ XIX; phát triển nông thôn trong thời kỳ Pháp thuộc (1945 -
1954); cơ cấu quản lý hành chính làng xã Việt Nam từ 1954 - 1975. Công
trình còn đề cập mô hình phát triển làng xã nông thôn Việt Nam ở các vùng
cụ thể ở nước ta nhất là ở Bắc bộ và Nam bộ. Công trình đã cung cấp những
sử liệu rất có gía trị về vai trò của Nhà nước, tính cộng đồng và tính bền vững
của mô hình làng xã Việt Nam; những nhân tố tác động những việc hình
thành thiết chế làng xã và mô hình hoạt động của chúng.
Những nghiên cứu chuyên sâu về chính sách phát triển kinh tế xã hội
nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng cũng
được các tác giả Việt Nam rất quan tâm. GS. Hồ Văn Thông; PGS, TS. Phạm
Chi Mai; PGS,TS. Ngô Đức Cát v.v đã trình bày những công trình có tính lý
thuyết về hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội.
Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi
mới” của PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, năm 2003. Đây là công
trình nghiên cứu dài hơi rất công phu của tác giả bởi ngoài những phân tích có
tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm,
công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp, nông thôn
nước ta như là một Niên giám thống kê nông nghiệp thu nhỏ. Công trình đã
luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn
7
nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra
trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở

Việc hội nhập kinh tế quốc tế của nông nghiệp Việt Nam cũng đã bước
đầu được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Một số tác giả như GS,TS
Bùi Xuân Lưu; GS,TS Nguyễn Điền, TS. Nguyễn Từ; Th.s Nguyễn Thu Hằng
Công trình nghiên cứu: “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do GS,TS Bùi Xuân Lưu, Nxb Thống kê
ấn hành năm 2004. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những đặc
trưng của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp; phân tích khái quát
những thành tựu cũng như hạn chế của nông nghiệp nước ta trong hội nhập
kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị về sửa đổi các chính sách và hoàn thiện
vai trò của Nhà nước để nông nghiệp, nông thôn nước ta hội nhập thành công.
Công trình nghiên cứu: “Tăng cường năng lực hội nhập kinh tế quốc tế
cho ngành nông nghiệp” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng tổ
chức Ausaid nghiên cứu đã đi sâu phân tích những quy định của WTO về
thương mại nông sản. Qua đó dự báo khả năng tương thích của hệ thống
chính sách nông nghiệp Việt Nam so với những quy định của WTO, khuyến
nghị những sửa đổi về chính sách để phát triển nông nghiệp Việt Nam khi trở
thành thành viên WTO.
Công trình nghiên cứu: “Hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó
đến phát triển nông nghiệp Việt Nam” là một dự án nghiên cứu tập thể do TS.
Nguyễn Từ phụ trách. Trong công trình này, các tác giả đã tập trung phân tích
các liên kết kinh tế quốc tế về thương mại và đầu tư trong nông nghiệp; đánh
giá chính sách phát triển nông nghiệp và khả năng cạnh tranh của nông nghiệp
Việt Nam; đồng thời khuyến nghị những giải pháp chủ yếu để phát triển nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc
biệt các tác giả đã tập trung phân tích những quy định của WTO về chính sách
nông nghiệp của các nước đang phát triển và nêu những hướng bổ sung, sửa
đổi chính sách nông nghiệp của Việt Nam để hội nhập thành công.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn không thể tách rời các nhân tố phát
triển kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và môi trường Rất nhiều tác giả quan
tâm đến khía cạnh này của vấn đề. GS,TS Hoàng Chí Bảo về "hệ thống chính

phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, xây dựng mô hình nông thôn
mới nói riêng của Đảng và Nhà nước ta từ sau đổi mới đến nay;
10
- Phân tích quá trình hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông
thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những kiến nghị mang tính giải pháp
nhằm thực hiện một cách khoa học các chu trình hoạch định chính sách công
trong xây dựng mô hình nôn thôn mới, góp phần đẩy mạnh quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh nhà.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Cỏc chớnh sỏch và chu trỡnh hoạch định chính sách công trong phát
triển nông nghiêp, nông thôn nói chung và mô hỡnh nụng thụn mới núi riờng.
4.1. Phạm vi nghiờn cứu
- Chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước
ta từ khi đổi mới; chính sách của địa phương từ khi tái lập tỉnh Quảng Nam
năm 1997 đến nay.
- Nghiên cứu việc hoạch định chính sách công theo quy định phân cấp
của chính quyền cấp tỉnh ở tỉnh Quảng Nam trong lĩnh vực phỏt triển nụng
nghiệp, nụng thôn hướng đến xõy dựng mụ hỡnh nụng thụn mới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Lý luận: Chủ nghĩa Mỏc - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng, các khung khổ lý thuyết về chớnh sỏch cụng.
Thực tiễn: Quỏ trỡnh hoạch định chính sỏch phỏt triển nụng nghiệp,
nụng thụn, xõy dựng mụ hỡnh nụng thụn mới ở nước ta và tỉnh Quảng Nam.
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử,
thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xó hội học, so sỏnh, dự bỏo, khảo sỏt văn
bản.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Trên phạm vi tỉnh Quảng Nam luận văn là công trỡnh đầu tiên được

hỡnh nhất, hoạt động của nó là hoạt động công cộng vỡ lợi ích công cộng.
Chính quyền có khả năng huy động nguồn lực của toàn xó hội và tác động
đến các bộ phận của xó hội với những mục đích nhất định. Những tác động
này được gọi là chính sách. E. Anlerson cho rằng hoạt động của chính quyền
là chính sách công. Từ đây, ông định nghĩa: "Chính sách công là những hoạt
động mà chính quyền chọn làm và không làm" [10, tr.122].
Nhiều quan điểm cho rằng chính sách công là một chuỗi các hoạt động
nhằm trong một hệ thống với một trật tự xác định. Hệ thống này có mục tiêu
dài hạn hay ngắn hạn, được xây dựng trên cơ sở pháp lý và loại trừ cỏc yếu tố
13
ngẫu nhiờn. Như vậy chính sách công là hệ thống hoạt động có tính toán và
mục tiêu của chính quyền tác động đến cuộc sống của người dân.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, “Chính sách công
(Politique publique) là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt
những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tõm của Nhà nước. Chính
sách công cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trũ của người cha đối với cuộc
sống của nhân dân. Nó tạo thời cơ, giữ gỡn hạnh phỳc và an toàn cho mọi
người; tạo ra an toàn tài chớnh và bảo vệ an toàn Tổ quốc” [49, tr.47].
Cỏc tỏc giả tập bài giảng chớnh trị học của Viện Khoa học chớnh trị cho
rằng “chớnh sỏch là tập hợp những văn bản theo một hướng xác định được
quyết định bởi những chủ thể cầm quyền nhằm quy định quá trỡnh hành động
của những đối tượng nào đó, để giải quyết những vấn đề mà nhóm chủ thể -
đối tượng đó quan tâm theo một phương thức nhất định để phân bổ giỏ trị”
[18, tr.125]. Cỏc tỏc giả của tập bài giảng cũn cho rằng khái niệm chính sách
công xuất phát từ các vấn đề của thực tiễn như: Sử dụng các nguồn lực đúng
và hiệu quả. Chính sách chứa đựng hai mặt của vấn đề kỹ thuật và hệ giá trị.
Cỏch hiểu ngắn gọn cô đúc song tất yếu: Chính sách công là Chương
trỡnh hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể. Hay chớnh
sỏch cụng cũn được hiểu là chuỗi các văn bản, được quyết định bởi chủ thể nắm
quyền lực nhà nước, nhằm quy định mục đích và cách thức, hành động của

luật, các chính sách có thời hiệu trong một thời gian, không gian nhất định.
Thứ năm, chính sách phụ thuộc vào bộ máy, cơ chế, cán bộ nhằm hoạch
định, chỉ đạo thực hiện chính sỏch hiệu quả. Bộ mỏy gọn nhẹ, minh bạch, không
chồng chéo, cơ chế phối hợp rừ ràng, triển khai chính sách thuận lợi hơn.
Thứ sỏu, chính sách phụ thuộc vào tính đúng đắn của chính sách. sự chỉ
đạo vận dụng vào thực tiễn từng địa phương. Nhiều chớnh sỏch do chủ quan,
núng vội hoặc khụng thực tiễn, sẽ khú thực hiện.
1.1.2. Chớnh sỏch cụng ở Trung ương và địa phương
Để nghiên cứu chính sách công, chúng ta có thể phân loại chúng. Có thể
phân loại theo các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xó hội, đối ngoại, an
ninh, quốc phũng…Cũng cú thể phõn loại theo thời gian: Ngắn hạn hoặc dài
hạn; phõn loại theo hiệu quả, phõn loại theo phương pháp triển khai, như
15
chính sách phõn bổ, chính sách điều tiết, chính sách có tính cưỡng chế hay
thuyết phục, phõn loại theo chớnh sỏch toàn thể hoặc chớnh sỏch bộ phận…
Trong phân loại chính sách, tất nhiên tuỳ từng đề tài để sử dụng cách
phân loại nào là chính trong quá trỡnh nghiờn cứu. Khi nghiờn cứu chớnh
sỏch phỏt triển nông nghiệp và nông thôn ở một tỉnh như Quảng Nam mà luận
văn đó lựa chọn, thỡ cỏch phõn loại theo cấp độ của chớnh sỏch (ở trung ương
và ở địa phương) cú ý nghĩa quan trọng, mặc dự chỳng cú sự khỏc biệt rất tương
đối.
Chính sách trung ương là cấp có thẩm quyền ban hành ở trung ương và
cả nước hoặc một vài địa phương cụ thể nào đó. Cũn chớnh sỏch địa phương
là ở tính cụ thể hoá các chủ trương, chớnh sách Trung ương, của chính quyền
địa phương, hoặc là giải quyết những vấn đề của địa phương nhưng khụng
trỏi với chớnh sỏch và phỏp luật của Nhà nước Trung ương.
Chính sách của Trung ương xuất phát từ nhu cầu tổng thể của đất nước,
sử dụng nguồn lực của cả nước, giải quyết mối tương quan lợi ích của mọi
giai cấp, tầng lớp và của tất cả các địa phương. Vỡ vậy, chớnh sỏch của Nhà
nước Trung ương mang tính chi phối, quyết định quỏ trỡnh thực thi quyền lực

Trung ương và không thể giải quyết đầy đủ những vấn đề của từng địa
phương. Vỡ vậy, chớnh sỏch cụng của bất kỳ nước nào cũng là tổng thể cỏc
chớnh sỏch của Nhà nước Trung ương và chính quyền địa phương.
Nước ta là một nước nông nghiệp đang trong quá trỡnh đẩy mạnh CNH,
HĐH, chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn có vị trí quan trọng
hàng đầu. Chính sách nông nghiệp và nông thôn của Trung ương trực tiếp liên
quan đến hầu hết các địa phương. Hơn bất kỳ một chớnh sỏch nào, việc thực
hiện chớnh sỏch nụng nghiệp và nụng thụn phụ thuộc nhiều vào quỏ trỡnh
triển khai, thực hiện ở cỏc địa phương và cơ sở, chúng đũi hỏi phải giải quyết
tốt mối quan hệ giữa chớnh sỏch Trung ương và chính sách địa phương.
1.1.3. Chu trỡnh chớnh sỏch cụng
Khỏi niệm
Chu trỡnh hoạch định chính sách (quy trỡnh, trỡnh tự ) là tất cả cụng
việc từ đầu đến cuối của một chính sách, kể từ khi nảy ra ý tưởng tới việc
17
định hỡnh, kiểm nghiệm, sửa đổi hoặc huỷ bỏ nó. Hoạch định chính sách
công diễn ra theo một lôgic, có trật tự và đặc biệt có tính kế thừa rất cao.
Quỏ trỡnh hoạch định và thực hiện chính sách công chính là việc lần
lượt thực hiện các bước sau: Lập nghị trỡnh hành động, lập chính sách hay ra
quyết định, triển khai thực hiện, đánh giá chương trỡnh hay phõn tớch tỏc động
và cuối cùng là những phản hồi dẫn tới việc xem xét lại hay chấm dứt chính sách
công đó. Như vậy, nú là chu trỡnh khộp kớn. Quỏ trỡnh hỡnh thành chớnh sỏch
cụng trờn thực tế là quỏ trỡnh cỏc quần thể lợi ớch đưa ra yờu cầu của mỡnh và
cỏc chủ thể chớnh sỏch căn cứ vào yêu cầu lợi ích của xó hội để điều chỉnh các
mối quan hệ lợi ích phức tạp. Một chu kỳ chính sách công gồm các bước sau:
Bước 1: Xỏc lập nghị trỡnh
Thực chất là xác định vấn đề chính sách, cỏc yếu tố đầu vào của hệ
thống hoạch định chớnh sỏch.
Một chính sách ra đời bao giờ cũng là sản phẩm đầu ra của hệ thống
hoạch định chính sách. Ở tầm vĩ mô, đó là sản phẩm của hệ thống chính trị.

- Thu thập, phõn tớch thụng tin.
- Phỏt triển các phương án giải quyết vấn đề.
- Xõy dựng liờn minh chớnh trị.
- Đàm phán, thoả hiệp và thụng qua chớnh sỏch.
- Các vấn đề chính trị trong quá trỡnh ra quyết định chính sách.
Bước 3: Triển khai chớnh sỏch
- Nguồn lực cho chớnh sỏch.
- Chủ thể triển khai: trong và ngoài chớnh phủ, đối tượng chịu tác động
của chính sách.
- Diễn giải chính sách: Các vấn đề về cưỡng chế và khuyến khớch việc
thực thi chớnh sỏch
Bước 4: Tổng kết, đỏnh giỏ chớnh sỏch
- Đánh giá quá trỡnh triển khai, hiệu quả triển khai và cỏc tỏc động
thực tế của chính sách
- Đánh giá chính trị; đánh giá kỹ thuật; đỏnh giỏ toàn diện
19
- Chủ thể đánh giá: Phõn tích từ góc độ thông tin và quyền lực chính
trị.
- Phõn tớch chi phí lợi nhuận và những hạn chế của phương pháp này.
Chu trỡnh hoạch định chính sách công nhằm xây dựng mô hỡnh nụng
thụn mới cần tuân theo các bước của chu trỡnh chớnh sỏch mang tớnh lý
thuyết đó được trỡnh bày ở mục 1.1.3. Vấn đề đặt ra ở chỗ: Thứ nhất, mục
đích của các cơ quan hoạch định chính sách (Nhà nước Trung ương và địa
phương) đặt ra mục tiêu là cải thiện rừ rệt tỡnh trạng yếu kộm, thiếu tương
thích với các điều kiện mới của mô hỡnh nông thôn hiện có, nhằm đáp ứng
yêu cầu của một nông thôn văn minh, hiện đại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
dân chủ hoá và hội nhập quốc tế. Thứ hai, xác định cho được những cấu trúc
của mô hỡnh nụng thụn mới trờn cỏc mặt kinh tế, chớnh trị, văn hoá, xó hội,
mụi trường…bằng những tiêu chí định tính và định lượng tương đối cụ thể.
1.1.4. Khỏi niệm mụ hỡnh nụng thụn mới

“bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào
nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư
ở nông thôn”.
Tuy hiện nay chưa có định nghĩa có tính kinh điển để phân biệt nông
thôn và thành thị nhưng có thể hiểu những đặc trưng cơ bản của nông thụn so
với thành thị ở những tiờu chớ sau:
Thứ nhất, về cơ cấu kinh tế, hoạt động cơ bản - nhất là trong điều kiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoỏ nụng thụn cũn thấp thỡ nụng nghiệp là ngành
kinh tế cơ bản. Hoạt động công nghiệp, dịch vụ vừa hỡnh thành và phát triển
độc lập vừa liên quan chặt chẽ, cùng hướng tới phục vụ cho nông nghiệp và
dân cư nông thôn.
Thứ hai, cơ cấu dân cư, lao động nông nghiệp cũn chiếm đa số.
Thứ ba, thiết chế, quy chế, quy ước, hương ước gắn liền với từng làng,
từng dân tộc, từng vựng kinh tế sinh thỏi.
21
Mụ hỡnh tiờu biểu trong xõy dựng nụng thụn mới hiện nay là nụng thụn
cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoá. Do vậy, Hội nghị TW5 (khoá IX) của Đảng đề
ra mục tiêu, nội dung tổng quát và những giải pháp để đẩy nhanh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết khẳng định: CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của CNH, HĐH đất nước.
1.1.5. Vai trũ của làng xó với tư cách là đơn vị cơ bản của mụ hỡnh
nụng thụn trong lịch sử dõn tộc
Do được hỡnh thành một cỏch tự nhiờn và cú tớnh tự trị rất cao, nờn
trong lịch sử “làng”, “thụn” hay “làng xó” đó từng đóng vai trũ rất quan trọng
đối với sự phát triển đất nước, quốc gia. Trong nghỡn năm Bắc thuộc, các thế
lực phong kiến phương Bắc luôn tỡm cỏch nắm lấy và sử dụng làng Việt như
công cụ phục vụ cho mưu đồ thống trị và đồng hoá của chúng. Tuy nhiên,
làng Việt cổ truyền trở thành pháo đài, chiến luỹ nhằm đương đầu với mọi âm
mưu xâm lăng, thôn tính, đồng hoá của phong kiến phương Bắc để gỡn giữ các

chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân vỡ độc lập dõn tộc và chủ nghĩa
xó hội” [3, tr.104]. Đó cũng chính là đóng góp to lớn của nông dân, nụng
nghiệp và nụng thụn miền Bắc thời kỳ tập thể hoỏ và xõy dựng hợp tỏc xó
nụng nghiệp.
Từ đó đến nay, nhiều mô hỡnh sản xuất kinh doanh, xây dựng đời sống
văn hoá ở nông thôn thực sự là điển hỡnh trở thành phỏo đài xó hội chủ nghĩa
trong nụng nghiệp, nụng thụn như: xó Duy Sơn, nông trường Lam Sơn, nông
trường Sông Hậu,… không chỉ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho hàng triệu con
người mà cũn đóng góp cho cả nước một số bài học kinh nghiệm, chứng minh
và làm rừ hơn sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng.
Tóm lại, sau năm 1975 và 20 năm đổi mới, nụng dõn, nụng nghiệp và
nụng thụn Việt Nam đó gúp phần quan trọng vào việc đưa nước ta ra khỏi
tỡnh trạng khủng hoảng kinh tế - xó hội và nõng cao đời sống nhân dân.
Chiến lược phát triển kinh tế - xó hội 2001- 2010 thụng qua tại Đại hội IX và
đến Đại hội X vẫn tiếp tục khẳng định: Nông nghiệp, nông thôn là những vấn
23
đề có tầm chiến lược, là vấn đề trung tâm đảm bảo sự thành công của chiến
lược chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Như vậy, từ trong lịch sử cũng như hiện tại hội nhập kinh tế quốc tế, chất
lượng, trỡnh độ phát triển nông thôn là cái gốc quyết định sự phát triển bền
vững, hưng vong của một quốc gia có nền nông nghiệp lâu đời như Việt Nam;
mô hỡnh phỏt triển nụng thụn đúng đắn là nhân tố đảm bảo sự thành cụng của
chiến lược phỏt triển kinh tế - xó hội nụng thụn và phỏt triển kinh tế - xó hội
đất nước.
1.1.6. Cỏc tiờu chớ của mụ hỡnh nụng thụn mới
Sự hỡnh dung chung của cỏc nhà nghiờn cứu về mụ hỡnh nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu
khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính
cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần.
Nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: Đáp ứng yêu cầu phát

khu vực, cả nước và quốc tế.
Bốn là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất; các chủ thể
nông thôn (lao động nụng thụn, chủ trang trại, hộ nụng dõn, cỏc tổ chức
phi chớnh phủ, Nhà nước, tư nhân, ) tham gia tích cực trong mọi quá
trỡnh ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh
bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối
công bằng. Người nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống
cày và thửa ruộng của mỡnh”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
làm giàu cho mỡnh, cho quờ hương theo đúng chủ trương đường lối của
Đảng và chớnh sỏch, phỏp luật của Nhà nước.
Năm là, nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, trí tuệ được nõng
lờn, sức lao động được giải phúng, nhiệt tỡnh cỏch mạng được phát huy. Đó
chính là sức mạnh nội sinh của làng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới
hôm nay. Người dân có cuộc sống ổn định, giàu cú, trỡnh độ văn hoá, khoa
25

Trích đoạn Mụ hỡnh phỏt triển nụng thụn của Trung Quốc Mụ hỡnh phát triển nông thôn của Đài Loan Những bài học kinh nghiệm rỳt ra cho quỏ trỡnh hoạch định và thực hiện các chính sách phát triển nơng nghiệp, nơng thơn ở nước ta BỐI CẢNH HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CƠNG VỀ XÂY DỰNG MƠ HÌNH NƠNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM TỪ NĂM 1997 ĐẾN NAY Điều kiện kinh tế-xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status