nghiên cứu xây dựng mô hình nông thôn mới ở huyện võ nhai, thái nguyên giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020 - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LƢƠNG THÀNH CÔNG NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN VÕ NHAI, THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 – 2015.
ĐỊNH HƢỚNG ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC


Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60 31 0501

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Vũ Nhƣ Vân

Thái Nguyên, năm 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

i
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Vũ Như Vân.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là: trung thực, chưa hề
được công bố hoặc sử dụng để bảo vệ một học hàm nào.
Các thông tin đã trích dẫn trong luận văn, được ghi rõ nguồn gốc đã
trích dẫn.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Thái nguyên, tháng 5 năm 2013
Học viên Lƣơng Thành Công

gia đình đã giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iii
MỤC LỤC
Mục lục iii
Danh mục bảng iv
Danh mục hình v
MỞ ĐÂU 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 9
1.1. Cơ sở lí luận 9
1.1.1. Nhận thức chung về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững 9
1.1.2. Lý luận về xây dựng nông thôn mới 22
1.1.3. Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới 25
1.2. Cơ sở thực tiễn về xây dựng mô hình nông thôn mới 28
1.2.1. Kinh nghiệm trên thế giới 28
1.2.2. Trong nước 31

3.1.2. Điều kiện tự nhiên 76
3.1.3. Dân cư – lao động 79
3.1.4. Kinh tế 79
3.2. Kết quả lãnh đạo thực hiện Chương trình xây dựng NTM của xã La
Hiên – Võ Nhai 82
3.2.1. Công tác chỉ đạo, tuyên truyền 82
3.2.2. Kết quả rà soát và ban hành văn bản thực hiện xây dựng NTM 83
3.2.3. Tiến độ thực hiện và kết quả của Chương trình 84
3.2.4. Tiêu chí xây dựng NTM xã La Hiên – Võ Nhai 87
3.3 Định hướng xây dựng NTM xã La Hiên hướng tới 2015 - 2020 91
3.3.1. Quan điểm và cách tiếp cận chung 91
3.3.2. Mục tiêu cụ thể 91
3.3.3. Yêu cầu chung của không gian tổng thể toàn xã 93
3.3.4. Dự báo tiềm năng 94

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3.4. Những nhiệm vụ cần làm trong thời gian tới 99
3.5. Giải pháp thúc đẩy quá trình xây dựng NTM ở huyện Võ Nhai 103
3.5.1. Căn cứ đề xuất giải pháp 103
3.5.2. Nội dung các giải pháp 103
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv


1
MỞ ĐÂU
1. Lí do chọn đề tài
Xây dựng NTM là một trong những chương trình lớn của Đảng và
Nhà nước có tầm quan trọng hàng đầu, nhằm tạo sự chuyển biến trong sản
xuât nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 về
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, sau 22 năm đổi mới, nông nghiệp,
nông thôn nước ta đã có những thay đổi lớn lao, đời sống nông dân đã
được cải thiện một bước quan trọng.
Tuy nhiên, so với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới thì
nông nghiệp, nông thôn nước ta nói chung, đặc biệt là khu vực nông thôn ở
vùng cao nói riêng vẫn còn nhiều yếu kém. Nông thôn phát triển thiếu quy
hoạch, về cơ bản vẫn là tự phát; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tuy có những
biến đổi tích cực về điện, đường, trường, trạm song vẫn lạc hậu; mức sống
vật chất, văn hoá, y tế, giáo dục của cư dân nông thôn được cải thiện một
bước nhưng còn ở mức thấp và đặc biệt ngày càng có khoảng cách xa so với
đô thị; mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng; chất lượng hệ thống chính
trị ở cơ sở (xã, thôn, xóm, bản…), nhất là năng lực quản lý điều hành của cán
bộ còn nhiều hạn chế. Tước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đặt ra nhiệm
vụ cấp bách là đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở thúc đẩy công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp trên khắp các vùng miền cả nước.
Trong lộ trình chung đó, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đang nỗ lực
triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, đem lại kết quả ban đầu, góp
phần cải thiện môi trường kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân
các dân tộc nhìn chung còn thấp, phong tục, tập quán canh tác còn lạc hậu,
việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất chưa nhiều. Từ đó,
vấn đề đặt ra là cần phải có những chiến lược cụ thể về xây dựng nông thôn

(1) Các văn bản pháp lí về quy hoạch xây dựng NTM gồm: Nghị quyết
26/MQ-TW ngày 5/8/2008 của BCTW Đảng (Khoá X) về Nông nghiệp, nông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
dân, nông thôn; Quyết định số 193/QGG-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng
Chính phủ v/v Phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng NTM;
Quyết định 491/2009/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ v/v Ban hành Bộ
tiêu chí quốc gia NTM; Thông tư 54/TT-Bộ NN&PTNN ngày 21/8/2009 v/v
“Hướng dẫn thi hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; Quyết định số 800/Đ-TTg
ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ v/v Phê duyệt Chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dưng NTM giai đoạn 2010 – 2020; Thông tư số 09/2010
/TT-BD ngày 04/8/2010 của Bộ Xây dựng v/v Qui định lập nhiệm vụ, đồ án
qui hoạch và quản lí qui hoạch xây dựng NTM;
(2) Về Xây dựng NTM tỉnh Thái Nguyên có các văn bản cơ bản: Đó là
Thông báo kết luận của BCH Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên số 164 /TB-TU
ngày 9/5/2011 v/v Thông qua một số Chương trình, đề án phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2015; Quyết định
số 112/Đ-SD ngày 04/8/2011 của Sở Xây dựng Thái Nguyên v/v Ban hành
hướng dẫn tổ chức lập qui hoạch xây dựng NTM trên địa bàn Thái Nguyên;
Quyết định số 253/Đ-STNMT ngày 9/8/2011 của Sở TN&MT Thái Nguyên
v/v Hướng dẫn lập, thẩm định qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến
cấp xã; Quyết định số 2412/SNN&PTNN-KHTC ngày 9/8/2011 của Sở
NN&PTNN Thái Nguyên v/v Quy hoạch sản xuất nông nghiệp cấp xã theo
Bộ Tiêu chí quốc gia về NTM tỉnh Thái Nguyên; Hướng dẫn lập, thẩm
định, phê duyệt nhiệm vụ đồ án qui hoạch chung xây dưng NTM các xã
trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
(3) Về xây dựng NTM huyện Võ Nhai có một số văn bản quan trọng:
Nghị quyết số 85/QĐ/HU ngày 5/11/2010 của ban thường vụ huyện uỷ Võ

- Phân tích, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng xây dựng nông
thôn mới ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
- Thông qua nghiên cứu thiết kế mô hình không gian tổng thể nông thôn
mới xã La Hiên – Võ Nhai góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới cho
huyện Võ Nhai – Thái Nguyên.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Về nội dung, đề tài tập trung nghiên cứu về nội dung lý luận cũng như
thực tiễn xây dựng NTM nói chung, tập trung vào xã La Hiên - một trong 3 xã
thí điểm xây dựng nông thôn mới của huyện Võ Nhai.
Về lãnh Thổ: nghiên cứu xây dựng nông thôn mới huyện Võ Nhai, tập
trung vào địa bàn xã La Hiên. .
Về thời gian, nghiên cứu tình hình xây dựng NTM ở huyện Võ Nhai giai
đoạn 2011 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020.
5. Quan điểm nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống: Huyện vùng cao Võ Nhai – Thái Nguyên được
xem là một hệ thống lãnh thổ kinh tế- xã hội. Trong đó, cộng đồng các dân
tộc, tính bản địa, đặc điểm địa hình và tài nguyên rừng có mối quan hệ thống
nhất biện chứng với nhau. Các bộ phận lãnh thổ hành chính của huyện (xã,
bản, tiểu vùng) là các hệ thống cấp thấp hơn tác động qua lại với nhau trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội.
- Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Các yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên
nhiên đã được phân tích gắn với những đặc thù của huyện về các mặt vị trí địa
lý, lịch sử phát triển, truyền thống phong tục tập quán của từng dân tộc và
định hướng phát triển. Trên cơ sở đó, thấy được mức độ tác động khác nhau
của vấn đề phát triển NTM đến bộ mặt nông thôn và đời sống của người dân ở

Môi trường, Cục Thống kê và phòng Thống kê của huyện. Sử dụng các
báo cáo thống kê định kỳ. Các tài liệu, số liệu từ các ấn phẩm và các
websites chuyên ngành.
5.2.2. Các phƣơng pháp tổng hợp số liệu thống kê
Bảng thống kê là hình thức biểu hiện các số liệu thống kê một cách có hệ
thống, lôgíc nhằm mô tả cụ thể, rõ ràng các đặc trưng về mặt lượng của các
hiện tượng nghiên cứu.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
5.2.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý về xây dựng NTM
hiện nay thông qua phỏng vấn sâu và trực tiếp. Phương pháp chuyên gia được
chúng tôi thực hiện có hiệu quả bằng việc trao đổi tham vấn với các vị lãnh
đạo huyện Võ Nhai, đặc biệt là lãnh đạo xã La Hiên thông qua các buổi làm
việc tư vấn với bà Chủ tịch xã Vi Thị Bích Liên về nội dung Chương trình
xây dựng NTM xã La Hiên – Võ Nhai giai đoạn 2011 – 2015 tầm nhìn 2020,
Bộ Tiêu chí xã nông thôn mới trong điều kiện miền núi khó khăn cho xã La
Hiên và Sơ đồ qui hoạch không gian tổng thể của xã hưóng tới các năm mốc
2015 và 2020.
5.2.4. Phƣơng pháp dự báo
Phương pháp dự báo được sử dụng khá rộng rãi trong nghiên cứu các
hiện tượng kinh tế - xã hội. Trong triển khai đề tài, chúng tôi quan tâm một số
phương pháp có tính công cụ như: Phương pháp quan sát xã hội học; phương
pháp phân tích và so sánh: Sau khi thu thập được tài liệu và tiến hành xử lý tài
liệu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh làm cơ sở
cho việc thu thập, xử lý phù hợp với thực tế khách quan.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được chia thành 3 chương:


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận thức chung về phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững
Trong hai thập niên gần đây, nông nghiệp bền vững đã được định nghĩa
với nhiều góc độ khác nhau, nhưng phổ biến nhất, theo Douglass G.K có thể
phân thành 3 nhóm:
Nhóm thứ 1: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía
cạnh kinh tế - kỹ thuật (technical-economic terms). Năng suất lao động tăng
và duy trì trong dài hạn, là bằng chứng cho sự tăng trưởng của nông nghiệp
theo con đường bền vững.
Nhóm thứ 2: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía
cạnh sinh thái (ecological terms). Một hệ thống nông nghiệp gây ô nhiễm môi
trường, phá vỡ cân bằng sinh thái của hệ thống tự nhiên một cách không hợp
lí thì hệ thống đó không bền vững.
Nhóm thứ 3: Nông ghiệp bền vững được nhấn mạnh vào khía cạnh con

(máy móc, vật tư nông nghiệp), việc tối ưu hoá hiệu quả sử dụng chúng phụ
thuộc vào khả năng thay thế của các nguồn lực này (ví dụ: sử dụng phân bón
để tăng sản lượng thay thế cho việc tăng sản lượng bằng diện tích) và tiến bộ
khoa học - kỹ thuật.
Các diễn giải dẫn ra ở trên cho thấy: chưa có sự đồng thuận giữa các nhà
kinh tế học về khái niệm nông nghiệp bền vững. Tuy nhiên, hầu hết các nhà
kinh tế học đều nhận định rằng, phát triển nông nghiệp bền vững là mô hình
phát triển mà trong đó có sự ràng buộc giữa tăng trưởng nông nghiệp với môi
trường tự nhiên, sự nghèo đói và môi trường con người ở nông thôn. Do đó,
để nắm được bản chất của phát triển nông nghiệp bền vững, những mối quan
hệ ràng buộc này cần được xem xét.
Trước hết, đó là tăng trưởng nông nghiệp và môi trường tự nhiên. Theo
Haen (1991), tất cả các hình thức của sản xuất nông nghiệp đều liên quan đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
sự biến đổi của hệ thống sinh thái, mong muốn rằng nên tiến hành sản xuất
nông nghiệp như trong tình trạng nguyên thủy của tự nhiên là không thực tế.
Sự thách thức ở đây là, việc can thiệp vào tự nhiên bằng cách nào đó để thực
hiện sự cân bằng có thể chấp nhận được giữa lợi ích mang lại từ việc sử dụng
các nguồn tự nhiên cho sản xuất với lợi ích do việc giữ gìn chức năng sinh
thái của nó. Nhấn mạnh vào khía cạnh cân bằng sinh thái là sự phản ánh
mong muốn của xã hội đối với việc giữ gìn môi trường tự nhiên, đồng thời đó
cũng là lợi ích dài hạn của sản xuất nông nghiệp vì sự lệ thuộc vào độ màu
mỡ của đất, chất lượng của nguồn nước và khí hậu.
Một số nước phát triển trên thế giới đang định hướng lại sản xuất
nông nghiệp theo hướng nhấn mạnh hơn về nhân tố sinh thái. Chắc chắn
rằng không phải vì nhu cầu giảm về nông sản, mà vì thực tiễn của sản
xuất nông nghiệp hiện đại đã dẫn tới sự phá hỏng môi trường sinh thái,

cạnh khác. Ông cho rằng, ngay cả việc áp dụng các kỹ thuật sản xuất mà
đảm bảo được cân bằng sinh thái vẫn dẫn đến tình trạng nghèo đói. Do đặc
điểm của từng vùng địa lý, hiệu quả của việc ứng dụng các kỹ thuật mới
cũng khác nhau. Ứng dụng kỹ thuật mới đòi hỏi tăng đầu tư (giống mới,
phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, cải tạo mặt bằng đồng ruộng về hệ thống thuỷ
nông đồng) và cũng tăng rủi ro trong đầu tư. Phần lớn nông dân có khả năng
áp dụng KHKT vào sản xuất là những hộ nông dân giàu, được áp dụng trong
các vùng có lợi thế về tiềm năng tự nhiên và chính họ nhận được lợi ích từ
việc áp dụng các kỹ thuật mới, sau đó với sự hỗ trợ của chính phủ thông qua
trợ giá đối với các yếu tố đầu vào của sản xuất và tín dụng ưu đãi, nhiều
nông dân, kể cả nông dân trên các vùng có tiềm năng tự nhiên khác nhau, có
thể áp dụng được kỹ thuật mới.
Tuy nhiên, khi việc áp dụng KHKT mới trở nên phổ biến với đại bộ
phận nông dân, tổng sản lượng sẽ tăng nhanh, giá nông sản giảm nhanh và
hệ quả là thu nhập của nông dân sẽ bị giảm, nhất là với nông dân nghèo
trong các vùng có tiềm năng thấp, nếu quá trình này tiếp tục họ sẽ lỗ và bị
nợ nần; cuối cùng người nông dân sẽ từ bỏ việc đầu tư, trong khi dân số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
tiếp tục tăng, thất nghiệp và tình trạng nghèo đói sẽ trầm trọng. Một khi số
nông dân nghèo đói gia tăng, thì đối với họ, việc đáp ứng nhu cầu tồn tại ở
hiện tại là quan trọng nhất còn việc đáp ứng nhu cầu cho tương lai sẽ
không thật sự có ý nghĩa.
Do thu nhập thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao, chi phí của lao động sẽ thấp, họ
sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng hàng hoá với nguyên liệu chính từ tự
nhiên (gỗ, da thú ) của bộ phận dân cư có thu nhập cao bằng cách khai thác
nguồn tự nhiên để kiếm thêm thu nhập (phá rừng, săn bắn, đánh bắt mọi loài
sinh vật với bất kể kích thước). Hệ quả là môi trường tự nhiên tiếp tục suy

cách trực tiếp.
Trong trường hợp ứng dụng phương thức thâm canh, nhưng do thiếu
hoàn chỉnh về số lượng cũng như chất lượng của các công trình thuỷ lợi sẽ
làm suy thoái chất lượng nước, gia tăng nhiều loại côn trùng (ruồi, muỗi, )
và điều này sẽ dẫn tới sự phát triển các bệnh như sốt rét, dịch tả, bệnh
đường ruột. Do sử dụng thuốc trừ sâu không thích hợp đã gây ra ngộ độc
(Nghiên cứu của Bull (1982) cho thấy rằng có tới nghìn người chết vì ngộ
độc do thuốc trừ sâu hàng năm trong các nước đang phát triển). Trong
trường hợp áp dụng phương thức quảng canh, phá rừng để mở rộng diện
tích, sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái về nguồn nước và hệ quả là khô hạn, lũ
lụt, thay đổi về khí hậu Điều này sẽ dẫn đến tình trạng không an toàn
trong sản xuất lương thực, suy dinh dưỡng, nạn đói và hàng loạt bệnh tật
liên quan đến lũ lụt, hạn hán sẽ xuất hiện.
Thứ năm, tăng trưởng nông nghiệp và trình độ văn hoá của nông dân.
Theo Alves (1991), con đường phát triển nông nghiệp qua phương thức thâm
canh là có hiệu quả. Phương thức này đòi hỏi việc sử dụng các kỹ thuật sinh
học với giống mới, nhiều phân bón hơn, thay đổi về cơ cấu cây trồng trên đất,
kết hợp nông - lâm - thuỷ sản, các kỹ thuật hoá - sinh để chống lại sâu - dịch
bệnh. Nếu các kỹ thuật này không làm suy thoái môi trường thì tăng trưởng
nông nghiệp sẽ đảm bảo bền vững. Trình độ của nông dân thấp kém (tỷ lệ mù
chữ cao) thì rất khó khăn đối với họ để hiểu về các khái niệm bền vững, suy

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
thoái môi trường và các kỹ thuật có thể làm suy thoái môi trường, trở thành
rào cản cho việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, nhằm đem lại lợi ích cho
nông dân và giữ gìn môi trường.
Vậy, một hệ thống nông nghiệp: không đảm bảo được sự phát triển bền
vững trong cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng và trình độ văn hóa cho

gây sức ép ngày càng lớn tới sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế
và chất lượng cuộc sống.
(4) Tài nguyên giảm cấp: Các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất,
nước, rừng, thực vật bị giảm cấp nghiêm trọng và là kết quả của các nguyên
nhân nói trên. Sự giảm cấp này thể hiện ở chỗ: giảm sút về số lượng, thoái
hoá về chất lượng, giảm khả năng đáp ứng nhu cầu ương thực, thực phẩm
ngay trong ngắn hạn chứ chưa nói đến tương lai lâu dài.
(5) Sử dụng quá mức các yếu tố đầu vào có nguồn gốc hoá học: Các yếu
tố đầu vào có nguồn gốc hoá học như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hiện
đang được dùng ở mức cao. Sự lạm dụng quá đáng các loại đầu vào này đã
giảm khả năng vốn có của hệ sinh thái nông nghiệp, diệt trừ các sinh vật có
lợi và tăng nguy cơ phá hoại của sâu bệnh, gây ô nhiễm các nguồn nước,
không khí, tăng mạnh dư lượng các sản phẩm hoá học tồn đọng trong các
nông sản có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng, cần nhận thức đúng đắn về vai
trò, cách sử dụng các đầu vào có nguồn gốc hóa học trong chiến lược phát
triển nông nghiệp bền vững.
(6) Suy giảm đa dạng sinh học: Hậu quả của việc sử dụng và khai thác
quá mức tài nguyên thiên nhiên, đó là sự suy giảm đa dạng sinh học, quỹ gen
ngày một nghèo đi, do đó làm giảm khả năng phát triển bền vững của hệ sinh
thái nông nghiệp.
Qua phân tích các mối quan hệ ràng buộc nêu trên, thật khó mà có thể
đưa ra định nghĩa đủ tầm phổ quát về phát triển nông nghiệp bền vững. Thay
vì đưa ra một định nghĩa đơn trị, phát triển nông nghiệp bền vững có thể được
diễn giải như sau:

Trích đoạn Công tác chỉ đạo, tuyên truyền Kết quả rà soát và ban hành văn bản thực hiện xây dựng NTM Tiêu chí xây dựng NTM xã La Hiên – Võ Nhai Mục tiêu cụ thể Những nhiệm vụ cần làm trong thời gian tới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status