LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Tác giả luận văn:
Hoàng Thị Hà
i
Lời cảm ơn
Để hoàn thành Luận văn thực tập tốt nghiệp này, trớc hết Tôi xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & phát
triển nông thôn, trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Những ngòi đã
trang bị cho Tôi hành trang kiến thức trên giảng đờng đại học và giúp
Tôi khi gặp khó khăn trong quá trình học tập.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo
- ThS. Nguyễn Văn Mác, ngòi đã tận tình chỉ bảo, hớng dẫn và động
viên Tôi trong suốt thời gian thực tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của cán bộ Viện Quy
Hoạch & Thiết kế nông nghiệp, cán bộ UBND xã Đôn Nhân - huyện
Lập Thạch - Vĩnh Phúc; các cán bộ và bà con thôn Hạ đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt nội dung đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt
nghiệp của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2008
Ngời cảm ơn Hoàng Thị Hà
2.1.1 Khái niệm về nông thôn 4
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới 4
2.1.3 Điều kiện cần có để xây dựng thành công mô hình nông thôn mới 5
2.1.4 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới 6
2.1.5 Cấp xã là đơn vị cơ sở của mô hình nông thôn mới 9
2.1.6 Các nhân tố chính tham gia vào mô hình nông thôn mới 10
2.1.7 Đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới 11
2.1.8 Nội dung xây dựng mô hình 11
2.1.9 Phát triển nông thôn dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ 14
2.2 Cơ sở thực tiễn 17
iii
2.2.1 Xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới 17
2.2.2 Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam 22
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ 26
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 26
3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 29
3.2 Phương pháp nghiên cứu 38
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
3.2.2 Điều tra thu thập số liệu 38
3.2.3 Tổng hợp và xử lý tài liệu 39
3.2.4 Phương pháp phân tích 39
3.3 Các chỉ tiêu đánh giá 40
3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế 40
3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội 41
3.3.4 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo đảm vệ sinh môi trường 41
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 42
4.1 Thực trạng xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực ở Thôn
Hạ - Đôn Nhân - Lập Thạch - Vĩnh phúc 42
4.7.4 Phương châm xây dựng nông thôn mới phải là “lấy sức dân lo cuộc
sống cho dân” 91
4.7.5 Xây dựng nông thôn mới thực chất là xây dựng một xã hội có kinh
tế - xã hội phát triển, quốc phòng - an ninh vững mạnh 91
4.8 Những biện pháp cơ bản trong xây dựng nông thôn mới 91
4.8.1 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cấp xã 91
4.8.2 Xác định phát triển những ngành kinh tế mũi nhọn để sản xuất hàng
hoá 92
4.8.3 Sự đầu tư của Nhà nước gắn liền sự tham gia của người dân trong
đề xuất và thực hiện các công trình xây dựng nông thôn mới 92
4.8.4 Gắn chương trình xây dựng nông thôn mới với phong trào xây dựng
làng văn hoá, xã văn hóa 93
4.8.5 Xây dựng nông thôn mới gắn với bảo vệ môi trường, tăng cường
năng lực cộng đồng 93
PHẦN V: KẾT LUẬN 94
5.1 Kết luận 94
5.2 Kiến nghị 95
1.1 Thông tin về người được phỏng vấn 99
1. Họ tên chủ hộ:………………………………………………………… 99
1.2 Thông tin về hộ gia đình 99
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007
28
Bảng 3.2: Tình hình dân số, lao động xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-
2007 30
Bảng 3.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã qua 3 năm 32
Bảng 3.4: kết quả kinh tế xã hội xã Đôn Nhân qua 3 năm 2005-2007
35
Bảng 4.1: Các hoạt động ưu tiên cho mục tiêu phát triển giai đoạng
Bảng 4.20: Một số hoạt động của phụ nữ sau một năm xây dựng mô
hình nông thôn mới 79
Bảng 4.21: Mức chênh lệch giàu nghèo của xã và thôn qua 2 năm
2006-2007 80
Bảng 4.22: Đánh giá của người dân về tác động của dự án đến tính
tự lập của cộng đồng 81
Bảng 4.23: Một số hoạt động từ nguồn kinh phí của người dân đóng
góp 82
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Quy trình lựa chọn điểm xây dựng mô hình nông thôn
mới 8
Hình 2.2: Tam giác phối hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp
mới 10
Hình 4.1: Mối quan hệ giữa BPTT với các đơn vị tổ chức 58
Hình 4.2: Vai trò của người dân tham gia xây dựng và phát triển
thôn 82
DANH MỤC HỘP
Hộp 4.1: Cũng nhờ có hoạt động hỗ trợ giống lạc mới… 71
Hộp 4.2: Niềm vui hân hoan! 74
vii
DANH MỤC VIẾT TẮT
BPTT : Ban phát triển thôn
Viện QH & TKNN : Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp
SVĐ : Sân vận động
XD : xây dựng
SX : Sản xuất
KHKT : Khoa học kỹ thuật
HTX : Hợp tác xã
PTNT : Phát triển nông thôn
CC : Cơ cấu
Sau một năm thực hiện, đời sống của người dân Thôn Hạ-Đôn Nhân-
Lập Thạch-Vĩnh Phúc đã được cải thiện, nâng cao. Mọi người đều được
hưởng thụ các dịch vụ phúc lợi như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục; cơ sở hạ
tầng nông thôn đã được hoàn thiện. “Nền tảng tinh thần của đời sống xã hội”
ở thôn đã ngày càng được thanh lọc và phát huy, nâng cao lên một bình diện
mới về truyền thống cộng đồng và tinh thần tự quản của thôn, tạo nên một sức
năng động xã hội mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thôn nói riêng cũng
như của toàn xã nói chung.
Tuy nhiên, đây là mô hình thí điểm nên việc xây dựng nông thôn theo
phương pháp tiếp cận mới vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Hầu hết
cán bộ tham gia chương trình đều là kiêm nhiệm nên thời gian họ dành cho
chương trình còn nhiền hạn chế. Thôn vẫn chưa quan tâm đúng mức đến phát
triển sản xuất, chưa đầu tư thỏa đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp
nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hóa – xã hội. Đội ngũ cán bộ chủ chốt
tại thôn tuy đã được tập huấn, đào tạo nhưng do nhiều nguyên nhân nên việc
tiếp cận với phương thức quản lý, giám sát, nghiệm thu… vẫn còn nhiều khó
khăn. Mặt khác, trong thôn vẫn còn một số rất ít các hộ chưa thực sự cho rằng
họ đóng vai trò chính và quan trọng, quyết định sự thành bại của mô hình phát
triển nông thôn mới. Chính những hạn chế này đã và đang tạo ra những lực
cản trong xây dựng nông thôn mới ở thôn Hạ nói riêng cũng như ở những mô
hình nông thôn mới trong cả nước nói chung.
Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Kết quả xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực tại Thôn
Hạ, xã Đôn Nhân, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh phúc”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá xây dựng mô hình nông thôn mới dựa vào nội lực ở Thôn Hạ
- Đôn Nhân - Lập Thạch - Vĩnh phúc, trên cơ sở đó đề xuất một số bài học
kinh nghiệm và những biện pháp chủ yếu cho việc xây dựng mô hình nông
thôn mới dựa vào nội lực trong cả nước.
Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị
trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn (nông thôn thấp hơn).
Lại có quan điểm cho rằng, vùng nông thôn là vùng mà dân cư ở đây
làm nông nghiệp là chủ yếu.
Khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, thay đổi theo
thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế
giới. Khái niệm nông thôn bao gồm nhiều mặt có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng khác với vùng đô thị ở chỗ là trên đó sống và làm
việc một cộng đồng trong đó chủ yếu là nông dân, có mật độ dân cư thấp, có
cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất
hàng hoá thấp hơn” (Kinh tế nông thôn, 1995).
2.1.2 Khái niệm về mô hình nông thôn mới
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông
thôn, mỗi một dự án khác nhau. Nhìn chung: mô hình nông thôn mới là mô
hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện theo định hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, dân chủ hoá và văn minh hoá.
4
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới
là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những bài học khoa
học-kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được nét đặc trưng, tính cách Việt Nam
trong cuộc sống văn hoá, tinh thần.
Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu
cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường;
đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội;
tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ
biến và vận dụng trên cả nước.
Quan niệm: Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu
trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu
mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được
bộ mặt nông thôn nhiều nơi có dáng dấp thành thị nhưng hầu như đều rất
lộn xộn, không đáp ứng nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hoá. Hệ
thống thu gom, xử lý rác chưa được xây dựng nên tình trạng vứt rác bừa
bãi trở thành hình ảnh quen thuộc của người dân nông thôn. Tình trạng
chăn nuôi nhỏ lẻ cũng là nguyên nhân tạo nên ô nhiễm ở các khu dân cư
trên địa bàn nông thôn.
Như vậy, một trong những nội dung cấp bách của xây dựng mô hình
nông thôn mới là quy hoạch và thực hiện theo quy hoạch.
2.1.4 Căn cứ xác định tiêu chí, chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Cấp tỉnh
UBND tỉnh xác định tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu cụ thể, căn cứ vào:
- Tỉnh công nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm dưới 10%.
- Tỉnh công – nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm 11-30%.
- Tỉnh nông nghiệp: GDP nông nghiệp chiếm >30%.
Ngoài các tiêu chí xác định trên, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới tỉnh
phải có 70-80% số huyện đạt tiêu chí về nông thôn mới.
6
2.1.4.2 Cấp huyện
UBND huyện tổng hợp tiêu chí và chỉ tiêu phấn đấu đạt nông thôn mới
của các xã, thông qua HĐND huyện và UBND tỉnh phê duyệt. Tiêu chí huyện
nông thôn mới phụ thuộc vào: huyện Trung du và miền núi, huyện đồng bằng
hay huyện ven biển, hải đảo.
Ngoài các tiêu chí đã xác định, để đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, phải
có 70-80% số xã đạt tiêu chí về nông thôn mới.
2.1.4.3 Cấp xã
UBND xã hướng dẫn người dân lựa chọn tiêu chí, chỉ tiêu phấn đấu
cho từng giai đoạn, thông qua HĐND xã báo cáo gửi UBND huyện. Xã nông
thôn mới phụ thuộc vào: xã ven đô, xã đồng bằng, xã miền núi hay xã ven
biển và hải đảo.
Xã nông thôn mới là xã có 90% số thôn, bản đạt thôn, bản nông thôn mới.
điểm nghèo để khi có đầu tư vào thì các điểm đó hoặc là trở thành điểm chói
sáng cho các nơi đến học tập, hoặc là sẽ thoát khỏi điều kiện nghèo nàn về cơ
Tỉnh đề nghị làm điểm mô hình Viện QH & TKNN chọn tỉnh làm
điểm mô hình
Viện QH & TKNN giới thiệu về
mô hình cho địa phương
Tỉnh giới thiệu điểm tham gia
làm mô hình
Viện QH & TKNN giới thiệu về mô
hình cho địa phương
Viện QH & TKNN cùng tỉnh kiểm tra
thực địa, thống nhất điểm lựa chọn
Tỉnh giới thiệu điểm tham gia làm
mô hình
8
sở hạ tầng. Do vậy, vấn đề quan trọng nhất trong việc lựa chọn điểm ở tất cả
các trường hợp là việc giới thiệu, giải thích nguyên tắc và nội dung mới gắn
với mô hình nông thôn mới.
Đến nay, Bộ nông nghiệp & PTNT đã thống nhất cần phải xây dựng
những tiêu chí nông thôn mới nhưng đó chỉ là những tiêu chí “động” bởi hệ
thống các chỉ tiêu, tiêu chí rất đa dạng và phức tạp, để xác định được chúng
chính xác là rất khó khăn và mang tính chất của bệnh thành tích. Vì vậy,
phương pháp chẩn đoán và lập kế hoạch phát triển cộng đồng, quy hoạch
cộng đồng là hết sức cần thiết bởi người dân được tham gia ý kiến của mình,
không bị áp đặt từ trên xuống.
2.1.5 Cấp xã là đơn vị cơ sở của mô hình nông thôn mới
Có nhiều ý kiến cho rằng, quy mô cấp xã là khá lớn nên không thể
hoàn thiện hết các hạng mục công trình thiết yếu trong điều kiện nền kinh
tế còn khó khăn.
Xây dựng nông thôn mới có thể tiến hành ở cấp thôn trong xã. Nhưng
Sự tương tác qua lại của những nhân tố này đã tạo nên một tam giác
phối kết hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp mới. Mọi tác động của Nhà
nước, chính quyền địa phương ở mối liên kết này đều phải tác động đến người
dân mới thể hiện hiệu quả. Sự ủng hỗ trợ từ bên ngoài của các nhà tư vấn có
vai trò là cầu nối trong mối liên kết này. Người dân là nhân tố bên trong quyết
định nhưng sự hỗ trợ bên ngoài là tác nhân bên ngoài rất quan trọng.
Hình 2.2: Tam giác phối hợp 3 nguồn lực trong phát triển thôn ấp mới
Ủng hộ của Nhà nước và
chính quyền địa phương
Sự thúc đẩy và hỗ trợ
(có thể có) từ bên ngoài
Động lực của cộng đồng
thôn, ấp
10
2.1.7 Đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới
Mô hình nông thôn mới mang những đặc điểm đặc trưng sau:
+ Được xây dựng trên cơ sở cộng đồng theo đơn vị địa lý cấp thôn.
+ Vai trò của người dân được nâng cao, người dân và cộng đồng địa
phương tự tin làm chủ quá trình phát triển của chính họ, thay vì cán bộ
chính quyền, cán bộ chuyên môn từ ngoài cộng đồng vào chỉ đạo như
thông thường.
+ Đổi mới việc lập kế hoạch, thay vì việc phát triển tự phát, cộng đồng
địa phương với sự tham gia đầy đủ của các thành viên cộng đồng sẽ chủ động
xây dựng kế hoạch phát triển dài hạn, có động lực để kiên quyết thực hiện kế
hoạch và đạt được mục tiêu đề ra.
+ Việc thực hiện các kế hoạch phát triển được dựa trên nền tảng huy
động các nguồn lực của bản thân cộng đồng, thay vì việc dựa vào hỗ trợ từ
bên ngoài là chính như thông thường.
+ Tổ chức cộng đồng mạnh, hoạt động có hiệu quả.
+ Nguồn hỗ trợ từ bên ngoài được phân cấp hoàn toàn cho cộng đồng
trại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi …
2.1.8.3 Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ để nâng cao
thu nhập
Nội dung thực hiện:
Căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu
kinh tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
- Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật
nuôi là lợi thế, có khối lượng hàng hoá lớn và có thị trường, đồng thời đa
12
dạng hoá sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn
nước và nhân lực tại địa phương.
- Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: cung ứng vật tư,
hàng hoá, nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuật
chuyển giao tiến bộ, tín dụng…
- Hỗ trợ trang bị kiến thức và kỹ năng bố trí sản xuất, thay đổi cơ cấu
cây trồng, vật nuôi hợp lý.
- Củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất. Tư vấn hỗ trợ việc hình thành
và hoạt động của các tổ chức: Tổ hợp tác, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến
ngư… Tạo mối liên kết bốn nhà trong sản xuất, chế biến, và tiêu thụ sản phẩm.
2.1.8.4 Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc
làm phi nông nghiệp
Nội dung thực hiện:
- Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp:
Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành "cấy nghề" cho
những địa phương còn "trắng" nghề.
- Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề
cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý
môi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững.
2.1.8.5 Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
Nội dung thực hiện:
quan trọng, mang tính quyết định đến những yếu tố còn lại.
Một báo cáo của Tổ chức Care International VN (2003) về sự tham gia
của người dân vào sự phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên có nhận xét: “Bất cứ nơi nào thực hiện nghiêm túc quản lý
nguồn lực phát triển dựa trên cộng đồng tự tổ chức đều quản lý nguồn lực
hiệu quả hơn, năng suất hơn, đỡ phụ thuộc các ngoại lực, cải thiện được công
14
bằng, tăng cường sáng kiến và trách nhiệm giải trình của địa phương, và tăng
cường kỷ luật kinh tế”.
Phát triển nông thôn dựa vào nội lực của cộng đồng và do cộng đồng
làm chủ được thực hiện theo những định hướng sau:
2.1.9.1 Người dân làm chủ quá trình phát triển cộng đồng thôn
Trong xây dựng nông thôn mới, người nông dân mới thực sự là chủ
thể. Sự nỗ lực của người dân tại cộng đồng thôn ấp là nhân tố bên trong
mang tính quyết định.
Người dân của thôn cần đổi mới tư duy từ nhận thức và cách nghĩ rằng
các ý tưởng, các hoạt động khởi xướng và bắt đầu từ bên ngoài, do người
ngoài làm hộ, làm thay sang nhận thức và cách nghĩ chủ động, tự chủ hơn
rằng mọi hoạt động cụ thể ở địa phương do chính người dân của thôn tự đề
xuất và thiết kế trên cơ sở bàn bạc dân chủ, công khai thông qua cộng đồng
quyết định. Chính quyền các cấp chỉ đóng vai trò hướng dẫn kỹ thuật; tổng
hợp các đề xuất, kiến nghị, phê duyệt kế hoạch phát triển và tạo điều kiện
thuận lợi cho người dân thực hiện.
2.1.9.2 Cách tiếp cận phát triển nông thôn dựa vào nội lực và do cộng đồng
làm chủ
Cách tiếp cận dựa vào nhu cầu sẽ làm cho mọi người nghĩ rằng họ không
thể xây dựng cuộc sống của chính họ, của cộng đồng mà không có sự hỗ trợ từ
bên ngoài. Vì vậy, sự tham gia của họ không được hăng hái, nhiệt tình.
Cách tiếp cận phát triển dựa vào nội lực sẽ khuyến khích nông dân
tham gia vào đầy đủ vào mọi hoạt động do thôn, ấp tổ chức. Nó tạo nên sự tự
- Tham gia bởi nghĩa vụ hay bị bắt buộc: Người dân cho rằng đây là
nghĩa vụ họ bắt buộc phải đóng góp. Các hoạt động thường do các tổ chức
quần chúng, cán bộ dự án khởi xướng, định hướng và hướng dẫn.
16
- Tham gia bởi định hướng từ bên ngoài: Người dân tự nguyện tham gia
vào các tổ, nhóm do dự án hoặc các chương trình khởi xướng. Bên ngoài hỗ
trợ và người dân tự chịu trách nhiệm trong việc ra quyết định.
- Tự nguyện: Người dân tự khởi xướng về việc xác định, lập kế hoạch,
thực hiện và đánh giá các hoạt động phát triển không có sự định hướng từ
bên ngoài.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
Để nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển mạnh mẽ trong một bối
cảnh cảnh khu vực và thế giới, kinh tế phát triển như vũ bão thì việc tham khảo
học tập kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của các nước trên thế
giới có ít nhiều thành công và thất bại nhưng đó cũng là vấn đề rất cần thiết.
2.2.1.1 Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Bài học của Hàn Quốc về phát triển nông thôn đáng để nhiều nước
quan tâm và suy ngẫm. Cùng với nhiều biện pháp quan trọng khác, Hàn Quốc
đã đặt mục tiêu là làm thay đổi suy nghĩ thụ động và tư tưởng ỷ lại của phần
lớn người dân nông thôn. Từ đó sẽ làm cho nông dân có niềm tin và tích cực
với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính
cộng đồng cao. Trọng tâm của cuộc vận động phát triển nông thôn này là
phong trào xây dựng "làng mới" (Saemoul Undong).
Ý tưởng xây dựng mô hình này xuất phát từ 2 lợi thế của kinh tế lúc đó
là: giá lao động nông nghiệp và giá đất nông nghiệp rất rẻ; giá vật tư xây
dựng như sắt thép, xi măng cũng rất rẻ và sản xuất thừa.
Trong chương trình làng Mới, một hệ thống tổ chức phát triển nông
thôn được thành lập chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở. Mỗi làng bầu ra "Uỷ
ban Phát triển Làng mới" gồm từ 5 đến 10 người để vạch kế hoạch và tiến