TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LỚP: T01, KHOA GIÁO DỤC CƠ BẢN
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO
NHÓM 3:
Lê Thị Mỹ Dung
Châu Nảo Văn Đạt
Trần Thị Thu Hà
Hồ Thị Hương
Nguyễn Thị Trúc Linh
Trần Mạnh
Đặng Thị Anh Nga
Vũ Thị Loan Phương
Phạm Thị Thu Phương
Đặng Đình Tới
Phan Nguyễn Minh Trung
GVHD: Trần Mạnh Kiên
TP.Hồ Chí Minh, 4/2010
1. MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có
những bước biến chuyển khả quan trong việc phát triển nền kinh tế. Điều đó thể hiện ở
việc Việt Nam đã có sự tăng trưởng kinh tế vào loại cao trên thế giới.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chỉ số GDP hình thành nên tăng
trưởng kinh tế ở Viêt Nam là yếu tố XK ròng (cán cân thương mại). Sau khi gia nhập
WTO, cán cân thương mại của Việt Nam đã chuyển dịch theo hướng tích cực. Tuy nhiên,
thâm hụt thương mại ở Việt Nam vẫn còn rất cao so với trên thế giới. Vì vậy, nhóm
chúng tôi quyết định tìm hiểu về đề tài “Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại Việt
Nam sau khi gia nhập WTO” để có cái nhìn cụ thể hơn, bên cạnh đó tìm kiếm những đề
xuất hữu hiệu cho việc giảm thiểu thâm hụt thương mại ở Việt Nam ta.
2. NỘI DUNG
phát triển. Không chỉ tác động làm tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia
tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác; tạo ra khả năng mở
rộng thị trường tiêu thụ, giúp cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển; tạo điều kiện
nâng cao năng lực sản xuất trong nước.
• Nhập khẩu:
- Có vai trò quan trong việc thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn tư liệu sản xuất, và bổ sung
quỹ hàng hoá tiêu dùng, góp phần ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện các
mục tiêu cơ bản về kinh tế - xã hội của đất nước.
- Cùng với việc đẩy mạnh XK, việc NK cũng không ngừng tăng lên trong mối
quan hệ cân đối hợp lí. Kim ngạch NK của một nước tăng lên, có thể làm nảy sinh ảnh
hưởng song trùng: mở rộng NK, đáp ứng nhu cầu xây dựng, sản xuất trong nước;
nhưng kim ngạch NK tăng lên quá nhiều có thể ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế.
Vai trò của X-NK đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh X-NK.
• Xuất khẩu :
- Thông qua cạnh tranh trong XK, buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải
tiến sản xuất từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước
cũng như nước ngoài. XK tạo ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp tiêu thụ sản
phẩm ra nước ngoài.
- Tuy nhiên XK cũng mang lại những khó khăn cho các doanh nghiệp: sự cạnh
tranh không lành mạnh về giá giữa các nhà sản xuất nội với các nhà XK quốc tế khác,
sự lấn chiếm thị trường XK …
• Nhập khẩu :
- NK là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh.
- Góp phần đổi mới trang thiết bị kỹ thuật và quy trình sản xuất tiên tiến, nâng
cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trong nước.
2.1.2 Các hình thức xuất NK chủ yếu của doanh nghiệp VN
a) XK trực tiếp : là phương thức kinh doanh mà trong đó đơn vị tham gia
hoạt động XK có thể trực tiếp đàm phán ký kết hợp đồng với nước ngoài: trực tiếp giao
g) XK theo nghị định thư: là việc trao đổi hàng hóa giữa chính phủ hai
nước và thông qua các công ty chuyên doanh ngoại thương hai nước để ký kết hợp
đồng X-NK.
2.1.3 Những nhân tố tác động đến hoạt động X-NK
a) Môi trường chính trị
***Tích cực:
-Chế độ chính trị ổn định.
-An ninh xã hội được kiểm soát chặt chẽ.
***Tiêu cực:
-Nạn tham nhũng diễn ra ở mọi cấp chính phủ.
-Thiếu tính minh bạch, tính chịu trách nhiệm cùng căn bệnh quan liêu của cơ
quan chức năng.
b) Chính sách trợ cấp của chính phủ
- Chính phủ hỗ trợ cho nông dân: đào tạo nghề, khuyến nông, thu hẹp sản xuất
nông nghiệp bằng cách mở rộng công nghiệp, dịch vụ và thông tin thị trường.
- VN vẫn bảo lưu quyền được hưởng trợ cấp XK nông sản dành riêng cho các
nước đang phát triển.
- Điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá linh hoạt.
- Cho phép gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Thực hiện cải cách thủ tục hành chính rườm rà, gây mất thời gian và chi phí
cho doanh nghiệp XK.
c) Các hiệp định thương mại
Những cơ hội và thách thức đối với VN khi gia nhập WTO:
*** Cơ hội khi gia nhập WTO
- Hàng hóa VN được đối xử bình đẳng do được hưởng nguyên tắc đối xử tối huệ
quốc MFN và nguyên tắc đối xử quốc gia NT. Ngoài ra, VN được hưởng ngay lập tức
và vô điều kiện thành tựu cắt giảm thuế đa phương của WTO, thúc đẩy việc thâm nhập
thị trường cho hàng hoá XK của VN.
- VN có quyền thương lượng và khiếu nại với các cường quốc công bằng hơn
khi có tranh chấp.
ngoại tệ thanh toán cũng như sử dụng các công cụ bảo hiểm tỷ giá của các ngân hàng
cho hợp đồng X-NK của mình.
g) Các chính sách thuế
• Thuế quan: thuế chính phủ đánh vào hàng hóa được chuyên chở qua biên
giới quốc gia hay lãnh thổ hải quan, gồm thuế đánh vào hàng hóa NK và XK.
- Ở các nước đang phát triển, có thuế NK và thuế XK.
- Ở các nước phát triển, chỉ có thuế NK.
- Tác động của chính sách thuế quan:
+Tích cực: làm thay đổi CCTM, điều tiết hoạt động X-NK của
quốc gia, đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
+Tiêu cực: thuế quan cao ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
hàng hóa, làm giảm lượng hàng hóa được tiêu thụ, kích thích tệ nạn buôn lậu.
• Thuế XK tăng: làm cho giá thành hàng hóa ở trong nước giữ ở mức thấp
so với quốc tế, từ đó làm giảm lượng khách nước ngoài, bên cạnh đó không khích lệ
các nhà sản xuất trong nước cải tiến kĩ thuật, nâng cao năng suất để giảm giá thành.
Nếu khả năng thay thế của hàng hóa đó là thấp thì không làm giảm nhiều khối lượng
hàng hóa XK mà vẫn mang lợi ích cho nước XK.
• Thuế NK cao: dẫn đến tăng giá hàng hóa ngoại nhập, khuyến khích các
nhà sản xuất trong nước phát triển, tăng sức cạnh tranh, giúp cải thiện thương mại nước
đánh thuế
- Chính sách thuế quan hiện nay của VN còn nhiều sơ hở như thuế X-NK,
biểu thuế suất còn phức tạp, cần tiếp tục sửa đổi; cần ban hành thêm nhiều lọai thuế
mới như thuế chống bán phá giá, thuế hạn ngạch, thuế phản kháng… Bên cạnh đó nợ
thuế còn nhiều và kéo dài, cần có biện pháp thu hồi. Trình độ nhận thức và thái độ chấp
hành của người nộp thuế X-NK còn chưa cao.
• Trợ cấp XK: chính phủ có thể áp dụng các biện pháp trợ cấp trực tiếp
hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà XK trong nước.
Ảnh hưởng :
- Lượng cung của thị trường nội địa bị giảm do mở rộng quy mô XK, giá cả thị
trường nội địa tăng lên, người tiêu dùng trong nước bị thiệt một khỏan tiền nhất định.
số liệu thống kê Hải quan VN).
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008 làm
một số nước là đối tác thương mại của VN gặp khó khăn. VN bị ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế cũng gặp khó khăn trong việc sản xuất, XK một số mặt hàng chủ lực
mang lợi nhuận lớn cho nước ta ra nước ngoài. Từ đó, VN phải NK một số hàng hóa
vốn là chủ lực của mình. Nguồn tín dụng đang dần trở nên cạn kiệt của thế giới sẽ làm
cho hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp suy giảm trên phạm vi toàn cầu, và VN
không phải là một ngoại lệ. Thêm vào đó là dòng vốn từ nước ngoài đổ vào VN ngày
càng ít đi. Hậu quả của việc đó là nhập siêu lớn hơn xuất siêu, thâm hụt thương mại
VN tăng cao so với năm 2007.
Năm 2009, mức thâm hụt thương mại giữa XK và NK của VN tính từ đầu năm
2009 đến hết tháng 10/2009 đạt 8,78 tỷ USD, giảm mạnh so với mức 16,2 tỷ USD cùng
kỳ năm 2008, nghĩa là nhập siêu trong 10 tháng đầu năm 2009 của nước ta đạt 8,78 tỷ
USD.
Mức thâm hụt trong tháng 12 năm 2009 giảm 38% xuống còn 1.3 tỷ USD so với
mức điều chỉnh so với $2.081 tỷ vào tháng trước đó, theo dữ liệu sơ bộ được công bố
từ tổng cục thống kê Hà Nội, thâm hụt mậu dịch tháng 11/2009 ở mức cao nhất kể nửa
đầu năm 2008.
Thâm hụt cả năm 2009 giảm 32% so với năm 2008 xuống còn 12.25% tỷ USD.
Nguyên nhân là do kinh tế thế giới đang dần phục hổi sau khủng hoảng tài chính, do
chính phủ VN đã kịp thời đưa ra những biện pháp cải thiện tình hình hòa cùng với sự
khôi phục của thế giới.
Tóm lại, từ sau khi VN gia nhập WTO, tình trạng thâm hụt CCTM của VN tuy
chịu nhiều ảnh hưởng của thế giới nhưng nhờ đó mà thu hẹp xuống mức cao nhất trong
1.5 năm qua, đây là một dấu hiệu tích cực cho VN.
BIỂU ĐỒ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI VN SAU KHI GIA NHẬP WTO
Đơn vị: tỷ USD
2.2.2 Thực trạng CCTM của VN với một số nước
a) VN - Trung Quốc: (ngoại thương theo hàng dọc (vertical trade))
Khái quát:
Khi VN gia nhập WTO thì phải chấp nhận cho các loại hàng hóa của
Trung Quốc và các nước khác vào cạnh tranh với thị trường trong nước, nhưng với
trình độ công nghệ và kinh nghiệm sản xuất thua kém thì VN không thể tìm ra nguồn
hàng với giá cạnh tranh như hầu hết các sản phẩm mua từ Trung Quốc. Từ đó dẫn đến
tình trạng hàng hóa Trung Quốc lấp đầy thị trường VN, gây khó khăn cho các doanh
nghiệp trong nước.
Trung Quốc chủ yếu XK hàng công nghiệp sang VN, các mặt hàng chính
như: máy móc, máy tính, hóa chất và may mặc, trong khi đó VN lại chủ yếu XK sang
Trung Quốc sản phẩm thô hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ, hàng may mặc và
các hàng tiêu dùng như đá quý, cà phê, các mặt hàng nông phẩm, dầu khí và các sản
phẩm khai khoáng . Sự khác biệt trong khả năng, cấu trúc kinh tế, cũng như trong tỷ
trọng kinh tế toàn cầu tạo nên 1 khuôn khổ quan hệ kinh tế bất đối xứng giữa hai nước
VN-Trung Quốc, mà điển hình đó là mối quan hệ kinh tế bắc-nam, còn gọi là quan hệ
ngoại thương theo hàng dọc (vertical trade), một mối quan hệ mậu dịch thường thấy
giữa một nước tiên tiến và một nước chậm phát triển.
Tầm quan trọng của thương mại đối với VN gấp đôi so với Trung Quốc.
Tỉ lệ thương mại trên GDP của VN là 150 trong khi với Trung Quốc chỉ là 71,3. Vào
năm 2008, VN xuất sang Trung Quốc 4,3 tỉ trong khi nhập từ Trung Quốc tới 15,1 tỉ
USD. NK lớn gấp 4 lần XK và nhập siêu lên tới mức bằng 3 lần kim ngạch XK. Với
tốc độ phát triển mạnh mẽ như hiện nay của Trung Quốc thì khoảng cách kinh tế giữa
VN –Trung Quốc sẽ ngày càng được nới rộng hơn, cùng với tình trạng nhập siêu như
trên thì tình trạng thâm hụt thương mại của VN có thể càng trở nên nghiêm trọng.
“Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc có thể khiến thâm
hụt thương mại giữa VN và Trung Quốc tăng hơn”. Nhận định được ông Lê Quang
Lân, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), (theo bài:
“ACFTA và nỗi lo thâm hụt thương mại Việt – Trung” Y Nhung-Vneconomy). ACFTA
hình thành cũng sẽ mang đến cho VN những thuận lợi trong lĩnh vực thương mại: đẩy
mạnh XK các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản…đồng thời cũng phải chấp nhận đối mặt
với rất nhiều thách thức:
Với việc đến năm 2015, các doanh nghiệp VN phải chuẩn bị chấp nhận
VN và Nhật Bản chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973. Từ đó đến
nay quan hệ ngoại giao VN và Nhật bản tiến triển tốt, hai bên đã trao đổi nhiều đoàn
ngoại giao cấp trung và cao, kí kết các Hiệp định kinh tế hết sức có ý nghĩa với cả hai
bên, về mặt kinh tế lẫn chính trị, đặc biệt về phía VN trong công cuộc mở cửa ra thế
giới. Trong nhiều năm qua Nhật Bản là nước viện trợ ODA lớn nhất cho VN, và luôn là
thị trường XK lớn nhất của VN, chiếm khoảng 17% đến 20% kim ngạch XK của VN,
ngược lại VN lại chiếm tỉ lệ khiêm tốn trong NK của Nhật Bản. Để thúc đẩy quan hệ
thương mại hai nước đã kí kết nhiều hiệp định với phương châm “đối tác tin cậy, ổn
định và lâu dài”, đặc biệt quan trọng là hiệp định đối tác kinh tế song phương VN Nhật
Bản EPA, hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP) (12/2008)
với mục tiêu thiết lập nên một khu vực thương mại tự do về hàng hoá giữa hai nước.
Thực trạng
Nhật Bản là một nước phát triển đứng thứ hai thế giới, hai nền kinh tế chênh
lệch nhau quá lớn nên khi thiết lập quan hệ thương mại Nhật Bản bổ sung, hỗ trợ VN
nhiều hơn là cạnh tranh.
Nhật Bản là thị trường XK chiến lược của VN, chiếm khoảng 17% đến 20% kim
ngạch XK của VN, ngược lại VN lại chiếm tỉ lệ khiêm tốn. Theo số liệu năm 2007,
hàng XK của VN đạt xấp xỉ 1% tổng kim ngạch NK của Nhật Bản trong khi đó thị
phần của Trung Quốc là 20,5%, Thái Lan 2,94%, Malaysia 2,8%, Philippines 1,4%,
Singapore 1,13%. Sở dĩ như vậy là vì Nhật Bản là một thị trường rộng lớn, NK chủ yếu
từ Mĩ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Indonesia…
VN có ưu thế về mặt hàng nông nghiệp, thuỷ sản và dệt may, do đó xuất sang
Nhật Bản các sản phẩm dệt may, giầy dép, hải sản, thực phẩm chế biến như tôm, cá,
cua đông lạnh,rau củ nhiệt đới,chè, cà phê…, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm sứ và đồ gỗ
gia dụng. Theo Hiệp hội Chế biến và XK thủy sản VN, năm 2009 thị trường Nhật vẫn
đứng ở vị trí thứ hai trong tốp các thị trường NK thủy sản VN với hơn 750 triệu USD
trong đó dẫn đầu về tôm đông lạnh (chiếm 29,76% giá trị NK) gần 400triệu USD.
Hàng dệt may VN đến năm nay cũng đã có nhiều đơn đặt hàng hơn vì nền kinh tế Nhật
đang phục hồi. Tuy nhiên, theo hiệp định AJCEP ta phải tuân thủ nguyên tắc sản phẩm
dệt may phải sản xuất nguyên liệu trong nước hoặc trong khối ASEAN. Đây cũng là
các đồng tiền khác như đồng Euro, Yên…, còn VND giảm giá so với USD nên tỷ giá
VND với các ngoại tệ khác bất lợi cho ta, tác động mạnh mẽ đến thương mại quốc tế
khi ta đang nhập siêu cao.
Giải pháp
Thúc đẩy XK: vấn đề nằm ở chỗ doanh nghiệp VN chưa nắm bắt hết khả năng
thương mại với Nhật Bản. XK rau quả vào Nhật khởi sắc từ cuối năm 2009 khi có
nhiều doanh nghiệp Nhật đến nhờ Hiệp hội Rau quả VN tìm đối tác mua nông sản VN
với đơn hàng lên tới hàng ngàn tấn mỗi tháng, nhưng tiếc rằng các doanh nghiệp trong
nước chỉ mới đáp ứng 40-50% nhu cầu.
Yếu kém tiếp theo là sự thiếu hiểu biết về văn hoá kinh doanh về doanh nghiệp
Nhật Bản, rào cản từ quy định chất lượng sản phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, khác
biệt về tiêu chuẩn kĩ thuật công nghệ. Những vấn đề này doanh nghiệp phải tự tìm hiểu
kĩ càng để có thể tận dụng tốt cơ hội thâm nhập vào thị trường Nhật Bản tránh những
sai sót không đáng có trong kinh doanh. Hiện nay, Nhật Bản hỗ trợ VN phát triển nhân
lực y tá, công nhân kĩ thuật, phát triển công nghiệp phụ trợ để giúp VN nâng cao năng
lực sản xuất.
Về NK : Việt Nam NK chủ yếu từ Nhật Bản nguyên liệu đầu vào và máy móc.
Thế nên việc hạn chế NK là dường như không thể, tuy nhiên nếu tiếp tục thì có khả
năng VN đang tiếp cận với công nghệ kĩ thuật lỗi thời của nền kinh tế đang phát triển
rất cao.
Hạn chế tối đa NK như không NK những hàng hoá trong nước đã sản xuất được.
Điều này phụ thuộc mạnh mẽ vào sự quản lí có hiệu quả hay không của cơ quan có
thẩm quyền.
Nhà nước cần thúc đẩy khuyến khích sử dụng hàng nội địa của người tiêu dùng,
đó là nhân tố mạnh mẽ giúp doanh nghiệp tự tin sản xuất từ nguyên vật liệu trong nước.
T óm lại : Cả XK và NK đều có những lợi thế và khó khăn nhất định. Việc cân
bằng CCTM là ổn định kinh tế vĩ mô lâu dài nên Nhà nước cần có chính sách kinh tế
phù hợp, sao cho chính sách ngắn hạn thống nhất trong dài hạn mà điều cốt lõi là cần
phát triển nội lực của nền kinh tế nước nhà.
c) VN – EU
=> Nhận xét: EU là thị trường XK lớn của VN trong những năm gần đây. Từ năm 2005
đến năm 2008 kim ngạch X-NK VN sang thị trường EU đều tăng. Về XK năm 2006
tăng 28.56%, năm 2007 tăng 28.22%, năm 2008 tăng 36.32%. Về NK: năm 2006 tăng
21.23%, năm 2007 tăng 64.33%, năm 2008 tăng 68,8%. Nhưng đến năm 2009 kim
ngạch X-NK giảm mạnh: XK giảm 24.67% NK giảm 56.57 %. Nguyên nhân của sự sụt
giảm này là do cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009.
Khó khăn
- Các quy định, rào cản của EU như luật thuế chống bán phá giá đối với giày da,
các rào cản thương mại, quy định Reach về hóa chất, luật ngăn chặn đánh bắt cá bất
hợp pháp… đang đánh vào những mặt hàng XK chủ yếu của VN vào thị trường EU
một mặt nhằm làm giảm giá trị XK một mặt nhằm bảo hộ hàng hóa trong nước của họ.
- Yêu cầu kỹ thuật, chất lượng đối với hàng hóa XK vào EU đòi hỏi phải có chất
lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy cần phải có máy móc hiện đại, các chuyên
gia, công nhân có tay nghề cao, điều đó sẽ làm cho gía của các sản phẩm XK cao hơn
làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Sự thiếu hiểu biết của các doanh nghiệp VN về các điều luật thương mại quốc
tế sẽ dẫn đến những vụ tranh chấp thương mại vừa bị mất thời gian vừa tốn kém, ảnh
hưởng đến uy tín của doanh nghiệp .
- VN chủ yếu nhập các mặt hàng linh kiện điện tử, sắt thép, dược phẩm, máy
móc thiết bị. Trong đó máy móc thiết bị phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm XK.
Giải pháp
- Chính phủ cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp XK như: giảm thuế
các mặt hàng XK, giảm thuế đối với nguyên liệu đầu vào NK từ nước ngoài, hỗ trợ về
vốn, kỹ thuật, chuyên gia, tìm kiếm thị trường.
- Tăng cường hợp tác với các nước trong EU trên mọi lĩnh vực.
- Doanh nghiệp cần phải có cơ cấu phù hợp, chú trọng đến việc đào tạo công
nhân có tay nghề cao, nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng tính cạnh tranh trên thị
trường.
- Các doanh nghiệp không nên chạy theo lợi nhuận mà vi phạm các điều luật,
quy định.
WTO thì CCTM giữa hai nước ngày càng được đẩy mạnh.
Thuận lợi:
Từ sau hiệp định thương mại song phương với việc Mỹ cắt giảm thuế hàng loạt
các mặt hàng theo cam kết đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc XK các mặt hàng
trong nước.
Ở chiều ngược lại, với việc VN gia nhập WTO thì những hàng rào thuế quan
phần nào được giảm bớt làm cho quá trình XK của Mỹ vào nước ta dễ dàng hơn trước.
Khó khăn:
- Chúng ta dựa chủ yếu vào hàng NK các nguyên liệu nước ngoài để làm
hàng XK điển hình là may mặc. Đối với hàng may mặc, nước ta chỉ được hưởng 5-
10%, còn 90-95% là do NK. Điều đó giải thích phần nào vì sao VN tăng mạnh XK
nhưng NK cũng tăng nhanh. CCTM thâm hụt ngày càng lớn.
- Thị phần XK của VN vào Hoa Kỳ còn rất khiêm tốn, mới chỉ là 0,5%, vì
thế XK vào Hoa Kỳ còn nhiều cơ hội. Song để biến các cơ hội này thành hiện thực
cũng không đơn giản vì hàng hóa của VN phải đối mặt với các rào cản khắt khe như
việc Mỹ ban bố một số đạo luật về bảo vệ môi trường cho người tiêu dùng Mỹ, đạo luật
cải tiến an toàn sản phẩm tiêu dùng- CPSIA của Mỹ, luật Lacey sửa đổi của Mỹ về qui
định liên quan đến nguồn gốc, xuất xứ của nguyên liệu xuất xứ đồ gỗ… ngày càng hạn
chế tình hình XK của nước ta.
- Tuy sau khi kí kết hiệp định thương mại song phương với Mỹ nói riêng
và việc nước ta gia nhập WTO nói chung đã làm tăng XK của nước ta vào Mỹ nhưng
chủ yếu là tăng sản lượng nhưng cơ cấu là không thay đổi. Việc nước ta luôn XK
những sản phẩm thô rồi NK về những sản phẩm đắt tiền đã làm cho nước ta luôn ở
trong tình trạng nhập siêu.
Giải pháp
Để đẩy mạnh XK sang thị trường Hoa Kỳ thì chúng ta cần thực hiện tốt một số
biện pháp sau:
Các doanh nghiệp cần có kế hoạch dài hơi, đủ tính chiến lược. Lựa chọn sản
phẩm phù hợp và giàu sức cạnh tranh. Đồng thời trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt
hiện nay thì các doanh nghiệp cần sử dụng chuyên gia giỏi nghiệp vụ và tiếng Anh
http://www.cand.com.vn/
http://freelecongdinh.wordpress.com/
http://www.hoinongdan-quangtri.org.vn/
http://vietbao.vn/Kinh-te/
http://vi.wikipedia.org/wiki/
Nguyễn Bá Ngọc, WTO thuận lợi và thách thức cho các doanh nghiệp VN,
NXB Lao động xã hội.