tiểu luận tìm hiểu công ty đa quốc gia - Pdf 12

1 Tiểu luận
Tìm hiểu công ty đa quốc gia 2

Lời mở đầu
Hiện nay, quá trình toàn cầu hoá đã thúc đẩy sự phát triển và phụ thuộc lẫn
nhau của các nền kinh tế quốc gia, đồng thời dẫn đến những thay đổi sâu sắc
trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế thế giới.Các công ty đa quốc gia đã ngày
càng phát huy được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế thế giới. Nói cách
khác, trong quá trình toàn cầu hoá kinh tế, các công ty đa quốc gia đóng vai trò
then chốt.
Trong toàn cầu hoá kinh tế thế giới, công ty đa quốc gia là động lực quan
trọng cho sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá trên toàn thế giới nói chung
và cho từng quốc gia nói riêng. Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, chúng góp
phần nâng cao trình độ, phát triển kỹ thuật, làm biến đổi cơ cấu kinh tế ngành
thông qua chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ, mở rộng thị trường,
nâng cao trình độ quản lý góp phần tăng trưởng cho các nền kinh tế. Các công ty
đa quốc gia cũng có tác động tích cực đến các hoạt động thương mại, đầu tư trực
tiếp, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cũng như phát triển các nguồn
lực khác.

giảm chi phí trung gian đáp ứng nhanh nhu cầu người tiêu dung.
Cuối cùng là, các công ty đa quốc gia có thể sử dụng các công nghệ chế tạo
trực tiếp sản xuất theo bằng sáng chế (một bên là nhà cung cấp cho phép sử
dụng bằng sáng chế, một bên trả phí định kỳ cố định và gia tăng theo sản xuất),
điều này cho phép họ độc quyền sản xuất và trực tiếp bán sản phẩm ở nước
ngoài.

4

Cạnh tranh gay gắt thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật, nhiều ngành kỹ
nghệ mới ra đời như công nghệ sinh học, điện tử, người máy…đòi hỏi nhiều vốn,
nhiều kỹ thuật cao cấp, công ty một quốc gia không thể đủ sức đáp ứng cho nên sự
ra đời của công ty đa quốc gia là cần thiết.
1.2. Khái niệm công ty đa quốc gia.
- KN1: MNC (Multinational Corporation)
Là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai
quốc gia. Viết tắt là MNC, có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia.
Công ty đa quốc gia có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền
kinh tế của các quốc gia. Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng
trong quá trình toàn cầu hóa.
1

- KN2: Công ty đa quốc gia là công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh
hoặc cung cấp dịch vụ thông tin không chỉ nằm gói gọn trong lãnh thổ của một
quốc gia mà hoạt động sản xuất kinh doanh và cung cấp dịch vụ trải dài ít nhất ở
hai quốc gia và có công ty có mặt lên đến hơn trăm quốc gia khác nhau
2

- KN3: Các công ty đa quốc gia ( MNC) là các tổ chức sản xuất kinh doanh dịch
vụ và khoa học kỹ thuật được thành lập dựa trên các hiệp định Chính phủ hoặc hợp

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong công ty đa quốc gia nhằm mục tiêu
quan trọng nhất là giải quyết những khó khăn về vốn phục vụ kinh doanh. Vì
vậy sau khi thành lập công ty đa quốc gia, các công ty thành viên phát triển
nhanh hơn, tài sản có quyền sở hữu cũng tăng lên khá nhanh, từ đó tổng tài sản
cũng tăng lên đáng kể.
Các công ty đa quốc gia thường sở hữu các yếu tố có tính cốt lõi và quyết
định đối với quy trình sản xuất: vốn đầu tư, bí quyết công nghệ, các kỹ năng
quản trị và mạng lưới hoạt động toàn cầu. Do đó, tạo khả năng sinh lợi rất lớn và
mang tính tiên phong nhằm tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các đối thủ.
Về lao động, các công ty đa quốc gia thường thu hút một lượng lớn lao động
ở chính quốc và các quốc gia khác. Ví dụ, tập đoàn Air France ( Pháp) bao gồm
6

16 công ty con với 45000 lao động, tập đoàn Danone ( Pháp) có 81000 nhân
viên…
2.2.Các công ty đa quốc gia là công ty đa ngành, tức là hoạt động
trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực
Hoạt động trong nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực như tài chính, ngân hàng,
bảo hiểm, nghiên cứu ứng dụng về khoa học công nghệ…là xu hướng có tính
quy luật cùng với sự phát triển của các công ty đa quốc gia. Ví dụ, Mitsubishi
ban đầu chỉ hoạt động trong lĩnh vực cơ khí chế tạo nhưng nay đã hoạt động
trong các lĩnh vực như khai khoáng, luyện kim, hóa chất, luyện kim, ngân
hàng,…
Với sự kết hợp ngày càng chặt chẽ giữa các lĩnh vực có liên quan trong hoạt
động sản xuất kinh doanh và sự liên kết giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất
đã tăng thêm lợi thế so sánh cho các công ty đa quốc gia trong việc mở rộng địa
bàn hoạt động và gia tăng lợi nhuận.
2.3. Sự đa dạng về cơ cấu tổ chức và sở hữu vốn
Về cơ cấu tổ chức, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện và hiệp
thương. Cần nhấn mạnh, công ty đa quốc gia không phải là một doanh nghiệp,

mỗi công ty đa quốc gia: Các công ty thông qua sản xuất nhiều chủng loại sản
phầm hoặc thỏa mãn nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau để giảm bớt rủi ro, tìm
kiếm cơ hội kinh doanh mới, đối phó với tình trạng kinh tế thế giới tăng trưởng
chậm, nhu cầu thị trường giảm sút. Một số khác lại “ thu hẹp chiến tuyến”, loại
bỏ các hoạt động sản xuất “ngoại vi”, dốc toàn lực phát huy thế mạnh chuyên
môn của mình.
8

3. Vai trò của các công ty đa quốc gia
3.1.Vai trò tích cực của các công ty đa quốc gia
3.1.1. Thúc đẩy Thương mại quốc tế phát triển
Một trong những vai trò nổi bật của công ty đa quốc gia là thúc đẩy thương
mại quốc tế phát triển, thúc đẩy nhanh quá trình nhất thể hóa nền kinh tế thế giới.
Công ty đa quốc gia chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi
các kênh lưu thông xuyên quốc gia của mình. Một đặc điểm nữa là trao đổi giữa
các chi nhánh trong nội bộ công ty đa quốc gia của các nước ngày càng tăng
nhanh và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị thương mại của nhiều nước.
Trong những năm gần đây, với chiến lược đa quốc gia và tạo ra các liên kết giữa
thương mại và đầu tư giữa các nước với nhau.
Các công ty đa quốc gia mở rộng và phát triển ra nước ngoài thông qua hoạt
động FDI đã góp phần to lớn đối với thúc đẩy xuất khẩu của các nước đang phát
triển. Trong những năm gần đây các công ty đa quốc gia chiếm khoảng 40% giá
trị nhập khẩu và 60% xuất khẩu của toàn thế giới. Với các hoạt động hướng về
xuất khẩu, các công ty đa quốc gia hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị
xuất khẩu của các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á.
Chẳng hạn xuất khẩu của các chi nhánh công ty đa quốc gia đã chiếm tới 50%
tổng giá trị hàng hoá chế tạo tại một số quốc gia như Philippin, Srilanka,
Malaysia.
Như vậy vai trò của các công ty đa quốc gia có thể thấy được như sau:
- Tỷ trọng trao đổi của các công ty đa quốc gia ngày càng lớn trong tổng giá

kinh doanh mà còn ở tính chất khu vực lãnh thổ.Thêm vào đó, cùng với sự phát
10

triển mạnh của thị trường tài chính quốc tế, hình thức đầu tư gián tiếp ngày càng
gia tăng.Các ngành như công nghiệp chế tao, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm rất
đc chú ý phát triển.Các công ty đa quốc gia hiện chi phối trên 90% Tổng FDI
trên toàn thế giới. Chỉ tính riêng công ty đa quốc gia của tam giác kinh tế (Mỹ,
Nhật Bản, Tây Âu) đã chiếm 1/3 lượng FDI toàn cầu. Giá trị của lượng vốn FDI
thực sự là thước đo vai trò to lớn của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế
thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các công ty đa quốc gia trong
việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình.
Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới công ty đa quốc
gia là nhân tố đặc biệt quan trọng có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ
hoạt động đầu tư quốc tế. Vai trò điều tiết hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu
của các công ty đa quốc gia thể hiện như sau:
Vào thời kỳ suy thoái kinh tế năm 2001, hầu hết các ngành đều có tốc độ
tăng trưởng chậm lại. Các công ty đa quốc gia giảm hoạt động trên hầu hết các
lĩnh vực. Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới dòng lưu chuyển FDI trên thế
giới. Tổng đầu tư vào các nước giảm 51%, từ 1492 tỉ USD xuống còn 735 tỉ
USD. Trong xu thế đó thì các nước phát triển lại bị ảnh hưởng nhiều nhất do hầu
hết các hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) đều diễn ra tại các nước phát
triển. Trong giai đoạn 1982-1994 dòng vốn FDI nước ngoài tăng lên 4 lần và đạt
con số 3,2 nghìn tỉ USD vào năm 1996. Trong thời kỳ những năm 2004-2006
nguồn vốn FDI lại tăng lên. Tổng vốn FDI trên toàn cầu năm 2005 tăng 29% và
đạt 916 tỉ USD. Nguyên nhân chủ yếu là do các vụ M&A tăng lên cả về số
lượng và giá trị. Chủ yếu là từ các công ty đa quốc gia của Mỹ và Tây Âu.
Trong thời kỳ này, giá trị của các vụ M&A tăng đến 16% (năm1996), chiếm
47% dòng vốn FDI toàn cầu. Dòng vốn FDI tăng lên cả ở các nước phát triển và
đang phát triển. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng giảm hơn so với cuối những năm
90.

Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các công ty đa
quốc gia của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các công ty đa quốc gia
của các nước đang phát triển cũng tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến
12

từ các nước đang phát triển. Ngày càng có nhiều công ty của các nước đang phát
triển mở rộng hoạt động đầu tư của mình ở các thị trường nước ngoài. Nếu như
năm 1990, các công ty của các nước đang phát triển sở hữu 148 tỉ USD vốn FDI
thì đến năm 2005 con số này lên tới 1.400 tỉ USD. Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ
tập trung vào một số quốc gia nhất định. Trong các nước đang phát triển thì
Trung Quốc là nước đầu tư ra nước ngoài nhiều nhất (chiếm tới 1/3 tổng lượng
vốn nói trên) sau đó là Singapore, Hàn Quốc, Malaysia. Các công ty đa quốc gia
lớn của các nước này là Hutchison Whampa (67 tỉ USD), Petronas(22tỉ USD),
Singtel (18tỉ), Samsung (14tỉ USD) .
Ngoài ra còn phải nói tới sự tích lũy về vốn ở các nước chủ nhà.Với thế
mạnh về vốn các công ty đa quốc gia đóng vai trò là động lực thúc đẩy tích luỹ
vốn của nước chủ nhà. Nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư
vào nước mình. Vai trò này của công ty đa quốc gia được thể hiện qua một số
khía cạnh sau:
Thứ nhất: Bản thân các công ty đa quốc gia khi đến hoạt động ở các quốc
gia đều mang đến cho nước này một số lượng vốn nào đó. Hơn nữa, trong quá
trình hoạt động các công ty đa quốc gia cũng đóng cho ngân sách của nước chủ
nhà qua các khoản như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi
phí về viễn thông, điện nước…. Mặt khác, nhờ có các công ty đa quốc gia mà
một bộ phận đáng kể người dân có thêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các
công ty chi nhánh nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch
vụ cho các công ty đa quốc gia và hoặc những người lao động khác. Tại các
nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các công ty đa quốc gia làm ăn
hiệu quả chính là kênh để thu hút tiền nhãn rỗi của người dân và của các nhà đầu
tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này.

cao còn trong ngành nông nghiệp và công nghiệp giảm dần. Do đó, các công ty
nói chung và các công ty đa quốc gia nói riêng cũng chuyển mạnh sang đầu tư
vào các ngành dịch vụ và thúc đẩy giá trị xuất khẩu của hàng hoá dịch vụ tăng
cao. Bên cạnh đó, hiện nay giao dịch trên thế giới đang thay đổi theo chiều
hướng tăng tỉ trọng hàng hoá có hàm lượng vốn hoặc kỹ thuật cao và giảm dần tỉ
trọng hàng sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu. Những sản phẩm quan trọng
nhất trong thương mại thế giới hiện nay chủ yếu thuộc ngành sản xuất không
dựa vào nguyên liệu trong đó các sản phẩm bán dẫn là một trong những sản
phẩm mũi nhọn.
Nguyên nhân của xu hướng này xuất phát từ chiến lược tập trung phát triển
các ngành có trình độ công nghệ cao của công ty đa quốc gia nhằm duy trì khả
năng cạnh tranh cao và thu lợi nhuận tối đa. Điều này được thể hiện qua tỉ trọng
hàng xuất khẩu của hàng hoá có hàm lượng công nghệ cao trong nội bộ công ty
đa quốc gia chiếm tới 43,1% tổng gía trị hàng hoá xuất khẩu. Như vậy, sự thay
đổi trong chiến lược toàn cầu của công ty đa quốc gia tác động trực tiếp tới cơ
cấu hàng hoá xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước hướng
về xuất khẩu.
* Thay đổi trong cơ cấu đối tác
Cùng với sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá thì cơ cấu đối tác trong thương
mại thế giới hiện nay cũng đang dần thay đổi. Tỷ trọng của hàng hoá xuất khẩu
của các nước đang phát triển ngày càng cao, đặc biệt là các nước mới công
nghiệp. Sự thay đổi chiến lược của các công ty đa quốc gia và hệ thống sản xuất
quốc tế của chúng mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển và các nền
kinh tế chuyển đổi tham gia vào các hoạt động hướng về xuất khẩu. Theo báo
cáo của UNCTAD năm 2005, trong cơ cấu thương mại thế giới, tỷ trọng thương
15

mại của các nước đang phát triển chiếm 33,6% trong khi năm 1985 là 30.3%.
Mặc dù các nước phát triển vẫn chiếm tỉ trọng lớn trong thương mại thế giới
(63.5%) song tỉ trọng thương mại của các nước đang phát triển ngày càng tăng

và tạo việc làm trong nền kinh tế thế giới, trong đó đặc biệt quan trọng đối với
các nước đang phát triển.Tuy nhiên vai trò này còn phụ thuộc rất lớn vào điều
kiện, lĩnh vực đầu tư của các nước chủ nhà và chiến lược cạnh tranh của các
công ty đa quốc gia.
3.1.5. Công ty đa quốc gia với hoạt động chuyển giao công nghệ
Ngày nay, công nghệ đóng vai trò quyết định đối với sự sống còn của các
công ty. Các công ty nói chung, đặc biệt là các công ty đa quốc gia luôn coi
công nghệ là yếu tố giữ vị trí hàng đầu. Công nghệ là yếu tố quyết định năng lực
cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường và giứ thế độc quyền. Do đó, trong quá trình
thực hiện đầu tư ra nước ngoài các công ty đa quốc gia thường có những phương
thức và những kênh riêng để thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ của
mình. Không chỉ nắm giữ trong tay phần lớn công nghệ tiên tiến của thế giới các
công ty đa quốc gia còn biết cách sử dụng và khai thác các công nghệ đó một
cách có hiệu quả nhất nhằm duy trì vị trí độc quyền trên thị trường, mở rộng
phạm vi ảnh hưởng và khả năng lũng đoạn thị trường. Mục tiêu đó là kim chỉ
nam cho mọi hoạt động của các công ty đa quốc gia và được thể hiện rất rõ trong
chính sách chuyển giao công nghệ của chúng. Phương thức chuyển giao của các
công ty này thường phân làm nhiều cấp độ. Đối với các công nghệ hiện đại
nhất, đối tượng chuyển giao công nghệ này thường là các chi nhánh trong nội
bộ hệ thống các công ty đa quốc gia tại các nước phát triển. Các chi nhánh này
có đủ điều kiện về trình độ công nghệ, cơ sở vật chất và nhân sự để tiếp thu va
khai thác có hiệu quả công nghệ hiện đại. Do đó, chỉ với công nghệ tiên tiến
17

nhất của các công ty này mới có thể chiếm được lợi thế cạnh tranh. Với chính
sách này, công nghệ mới được khai thác triệt để nhằm thiết lập vị trí độc quyền
cho toàn bộ hệ thống công ty đa quốc trên khắp các thị trường. Đồng thời công
nghệ hiện đại được kiểm soát chặt chẽ, tránh được nguy cơ rò rỉ.
Đối với những công nghệ hạng hai không còn mới, không còn đem lại lợi
thế cạnh tranh cho các công ty đa quốc gia thường được chuyển giao cho các

nghệ cho công ty con. Các công ty con phải phụ thuộc nhiều vào máy móc, thiết bị,
linh phụ kiện hơn so với các công ty trong nước. Các công ty đa quốc gia làm tăng
sự phụ thuộc của nền kinh tế các nước đang phát triển vào vốn, kỹ thuật và mạng
lưới tiêu thụ hàng hóa của các công ty này. Như trên chúng tôi đã đề cập tới vai trò
tích cực vào việc tạo nguồn vốn ban đầu để tiến hành công nghiệp hóa ớ các nước
đang phát triển. Các công ty đa quốc gia tiến hành đầu tư, lập nhiều khu công
nghiệp, các nhà máy chế tạo sản phẩm. Các quy trình đều do các công ty mẹ nắm
giữ và được chuyển giao dần dần cho các nước đang phát triển. Đồng thời các công
ty đa quốc gia cũng nắm giữ những đường dây tiêu thụ hàng hóa từ các nước phát
triển. Chính vì vậy nước đang phát triển càng dựa nhiều vào đầu tư nước ngoài của
các công ty đa quốc gia thì sự phụ thuộc về kinh tế ngày càng lớn.
Thứ ba, các công ty đa quốc gia thường được vay ưu đãi từ ngân hàng ở nước
chủ nhà nhiều hơn so với các công ty trong nước. Đây cũng được coi là một trong
những nguyên nhân dẫn đến khả năng cạnh tranh của công ty trong nước luôn kém
hơn các công ty đa quốc gia này. Một khía cạnh khác nữa là đầu tư vào các nước
đang phát triển của các công ty đa quốc gia có thể xảy ra tình trạng khiến các công
ty nội địa đi tới phá sản do các công ty đa quốc gia có thế mạnh về tài chính, kỹ
thuật và đôi khi còn được hưởng những ưu đãi lớn hơn so với công ty nôi địa.Như
vậy các nước này cần phải xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng, cơ chế luật
19

pháp đảm bảo cho doanh nghiệp trong nước không bị bất lợi hơn các doanh nghiệp
nước ngoài.
Thứ tư, nhiều công ty đa quốc gia còn không góp phần thúc đẩy kỹ năng kinh
doanh ở nước chủ nhà, bởi lẽ họ thâm nhập vào thị trường các nước đang phát triển
bằng con đường mua lại doanh nghiệp trong nước hoặc sử dụng nguồn lực vượt
trội của mình để loại bỏ đối thủ cạnh tranh trong nước.
Thứ năm, nhiều nhà máy khai thác tài nguyên thuộc các công ty đa quốc gia còn
gây ô nhiễm môi trường cho các nước đang phát triển.VD như người dân ở Ilo,
Peru bị mắc bệnh về đường hô hấp và nhiều vấn đề sức khỏe khác do ô nhiễm

Với tư cách là một chủ thể đặc biệt trong nền kinh tế thế giới, các công ty đa
quốc gia đã thực hiện được mục đích của mình là phá bỏ được hàng rào bảo hộ
mậu dịch, tạo thêm được nhiều việc làm góp phần giảm bớt được tỷ lệ thất
nghiệp đồng thời thúc đẩy khả năng sáng tạo của con người và phát triển khoa
học công nghệ.
Tuy nhiên các công ty này vẫn vấp phải những khó khăn như khó khăn về
quản lý nhân tài, chẳng hạn như việc đạt được tính đa dạng văn hóa, vượt qua
được những rào cản đối với tính luân chuyển quốc tế, cũng như thiết lập được
những quy trình quản trị nhân sự ổn định theo những đơn vị địa lý khác nhau.
Đồng thời yêu cầu về bảo vệ môi trường là vấn đề cấp thiết cần phải đặt lên
hàng đầu đòi hỏi các công ty này cần phải có những chính sách thực hiện sao
cho phù hợp với lợi ích của chính mình. Sự phát triển bền vững của mỗi công ty
đa quốc gia cũng là một vấn đề cần các công ty này chú ý tới.
Mặc dù các công ty đa quốc gia còn có những ảnh hưởng tiêu cực tới các
chủ thể khác của nền kinh tế nhưng các công ty này vẫn giữ một vai trò và vị trí
quan trọng trong nền kinh tế thế giới.
21

Danh mục tài liệu tham khảo
1. Quan hệ kinh tế quốc tế - Học viện Ngoại Giao 2008. PGS-TS Dương
Văn Quảng.
2. Một số vấn đề kinh tế toàn cầu hiện nay. Nguyễn Ngọc Trân (NXB Thế
Giới 2002).
3. Kinh tế quốc tế - Trường đaị học kinh tế tphcm khoa kinh tế 1994.
4. Các công ty xuyên quốc gia trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI. NXB KH-XH.
1996.
5. Các công ty xuyên quốc gia Khái niệm, đăc trưng và biểu hiện mới- NXB
khoa học xã hội 2003.
6. Những vấn đề của toàn cầu hóa kinh tế- Nhà xb KHXH 2001.
7. Đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở các nước đang phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status