LUẬN VĂN: Những vấn đề lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng - Pdf 12


LUẬN VĂN:
Những vấn đề lý luận về mối quan
hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng Lời Mở đầu

Trong khu vực châu á - Thái Bình Dương, Việt Nam đang là một đất nước có
được nhiều sự chú ý từ các nước trên thế giới.
Đó là đất nước Việt Nam đã và đang trên con đường đổi mới một cách toàn diện
và ngày càng sâu sắc về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất
tạo ra của cải vật chất của xã hội. Trên cơ sở quan hệ sản xuất hình thành nên các quan
hệ về chính trị và tinh thần của xã hội. Hai mặtđó của đời sống xã hội được khái quát

sở hạ tầng của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong
xã hội đó. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống cũng có
vai trò nhất định.

1.2. Kiến trúc thượng tầng
Là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ
nội tại của kiến trúc thượng tầng được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Trong kết cấu kiến trúc thượng tầng thì Nhà nước là bộ phận quan trọng nhất. Bởi
vì, Nhà nước nắm trong tay sưc mạnh kinh tế và bạo lực, nó chi phối mọi bộ phận
khác của kiến trúc thượng tầng và các bộ phận này phải phục ting nó.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xã
hội.
2.1 Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Cơ sở hạ tầng quyết định nội dung, tính chất kết cấu của kiến trúc thượng tầng. Cơ
sở hạ tầng của một xã hội nhất định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại
diện cho nó như thế nào thì hệ thống thiết chế chính trị pháp quyền, đạo đức, triết học
v v và quan hệ của các thể chế tương ứng với các thiết chế ấy cũng như vậy. Cơ sở
hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng thể hiện ở những mặt sau:
-Cơ sở hạ tầng giữ vai trò quyết định sự hình thành kiến trúc thượng tầng, cơ sở
hạ tầng nào sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy.
-Cơ sở hạ tầng quyết định sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng trong một hình
thái kinh tế xã hội nhật định, khi cơ sở hạ tầng biến đổi thì kiến trúc thượng tầng cũng
biến đổi theo.
-Cơ sở hạ tầng quyết định sự thay đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng. Khi cơ
sở hạ tầng nào mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở
hạ tầng mới xuất hiện thì nó lại sản sinh ra kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó.
Ví dụ cơ chế bao cấp tương ướng với nó là Nhà nước xơ cứng, mệnh lệnh quan
liêu

CSHT thì nó thúc đẩy CSHT phát triển. Do đó, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.
-Tiêu cực: Khi KTTT tác động ngược chiều với những quy luật vận động của
CSHT, khi nó là sản phẩm của quan hệ kinh tế lỗi thời thì nó cản trỏ, kìm hãm sự phát
triển của cơ sở hạ tầng. Do đó, nó kìm hãm sự phát triển kinh tế.
Phần II
MốI QUAN Hệ BIệN CHứNG GIữA CƠ Sở Hạ TầNG
Và KIếN TRúC THƯợNG TầNG TRONG THờI Kỳ QUá Độ
LÊN CHủ NGHĩA Xã HộI ở NƯớC TA.

Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở
nước ta , cần vận dụng quán triệt quan hệ biện chứng giữ cơ sở hạ tầng và kiến trúc
thượng tầng.
Cơ sở hạ tầng kinh tế nước ta hiện nay là kết cấu kinh tế đa thành phần. Tính chất
đan xen, quá độ về kết cấu của cơ sở kinh tế vừa làm cho nền kinh tế sống động,
phongphú, vừa mang tính phưvs tạp trong quá trình thực hiện định hướng XHCN.
Đây là một kết cấu kinh tế năng động, phong phú của nền kinh tế, được phản chiếu lên
kiến trúc thượng tầng và đặt ra đòi hỏi khách quan là kiến trúc thượng tầng cũng phải
được đổi mới để đáp ứng đòi hỏi của cơ sở kinh tế. Không phải đa thành phần kinh tế
thì phải đa đảng, đa nguyên chính trị, nhưng nhất thiết kiến trúc thượng tầng phải được
đổi mới theo hướng đổi mới tổ chức , đổi mới bộ máy, đổi mới con người, đổi mới
phong cách lãnh đạo, đa dạng hoá các tổ chức hiệp họi, đoàn thể… mở rộng dân chủ,
nhằm quy tụ sức mạnh của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Chỉ có
như vậy kiến trúc thượng tầng mới có sức mạnh đáp ứng kịp thời đòi hỏi của cơ sở hạ
tầng. Và như vậy chỉ cần một đảng là Đảng cộng sản lãnh đạo vẫn thực hiện được mực
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
1. Đặc điểm hình thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cộng sản chủ
nghĩa.

nhà nước kiểu mới: của dân do dân và vì dân. Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ để
cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến bộ, khoa học trở thành động lực
cho sự phát triển xã hội.
Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là thời kỳ cải biến cách
mạng sâu sắc và triệt để, là một giai đoạn lịch sử chuyền tiếp. Cho nên cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng với đầy đủ những đặc trưng của nó. Bởi vì, cơ sở hạ tầng
mang tính chất quá độ với một kết cấu kinh tế nhiều thành phần đan xen của nhiều loại hình kinh tế xã hội khác nhau. Còn kiến trúc thượng tầng có sự đối kháng về tư tưởng
và có sự đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tuởng văn
hoá.
Bởi vậy công cuộc cải cách kinh tế và đổi mới thể chế chính trị là một quá trình
mang tính cách mạng lâu dài, phức tạp mà thực chất là cuộc đấu tranh gay go, quyết
liệt giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa.
Chính vì những lý do đó mà nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến với
nền kinh tế lạc hậu sản xuất nhỏ là chủ yếu, đi lên chủ nghĩa xã hội (bỏ qua chế độ
phát triển tư bản chủ nghĩa ) chúng ta đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Cơ sở hạ tầng thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm các thành
phần kinh tế như: kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế cá
thể, kinh tế tư bản tư nhân, cùng các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với hình thức sở
hữu khác nhau, thậm chí đối lập nhau cùng tồn tại trong một cơ cấu kinh tế quốc dân
thống nhất. Đó là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thống
nhất với nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, chúng vừa cạnh tranh
nhau, vừa liên kết với nhau, bổ xung với nhau.
Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế này, nhà nước
phải sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục. Trong đó biện
pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với

sản lãnh đạo ”. Như vậy, tất cả các tổ chức, bộ máy tạo thành hệ thống chính trị - xã
hội kkhông tồn tại như một mục đích tư nhân mà vì phục vụ con người, thực hiện cho
được lợi ích và quyền lợi thuộc về nhân dân lao động.
Mỗi bước phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một bước giải
quyết mâu thuẫn giữa chúng. Việc phát triển và củng cố cơ sở hạ tầng điều chỉnh và
củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là một quá trình diễn ra trong suốt thời
kỳ quá độ.
3. Một số kiến nghị nhằm vận dụng quy luật này trong công cuộc đổi mới ở
nước ta
Đổi mới kinh tế phải đi liền với đổi mới chính trị. Kinh tế và chính trị là hai mặt cốt lõi của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng. Trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị thì kinh tế giữ vai
trò quyết định chính trị, vì.
Kinh tế là nội dung vật chất của chính trị, còn chính trị là biểu hiện tập trung của
kinh tế.
Cơ sở kinh tế với tính cách là kết cấu hiện thực sản sinh ra hệ thống chính trị
tương ứng với quy định hệ thống đó. Nói cách khác, tính chất xã hội, giai cấp của
chính trị bao giờ cũng phản ánh tính chất xã hội và gia cấp của cơ sở hạ tầng. Từ đó
dẫn đến ự biến đổi căn bản của kinh tế lẫn chính trị.
Sự tác động của chính trị đói với kinh tế: Chính trị được biểu hiện tập trung bằng
nhà nước, có sức mạnh vật chất tương ứng. Nhà nước có tác dụng quyết định năng lực
hiện thực hoá nhẵng tất yếu kinh tế. Ănghen nói" Bạo lực ( quyền lực nhà nước) cũng
là một lực lượng kinh tế".
Sau khi giành được chính quyền, bất cứ giai cấp nào muốn thống trị vững chắc
toàn xã hội, thì giai cấp đó phải đưa ra đường lối mở rộng, phát triển kinh tế trên quy
mô toàn xã hội để tong bước thống trị kinh tế đối với toàn xã hội. Kinh tế vững mạnh,
nhà nước được tăng cường. Nhà nước được tăng cường lại tạo thêm phương tiện
vậtchất để củng cố địa vị kinh tế xã hội của giai cấp thống trị.

giải quyết mâu thuẫn giữa chúng. Cho nên việc giải quyết củng cố cơ sở hạ tầng, điều
chỉnh và củng cố các bộ phận của kiến trúc thượng tầng là cả một quá trình rất phức
tạp. Mọi quan niệm, mọi tưởng đơn giản đều không phù hợp với thực tế, nhất là chúng
ta đang ở chặng đầu tiên của của thời kỳ quá độ.
Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng,
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ
sở hạ tầng chủ nghĩa xã hội, liên tục tròn suốt thời kỳ quá độ lên CNXH với những
hình thức và bước đi thích hợp.
Đảng ta đã sáng suốt khi đề ra bước đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện
bằng cách kết hợp chặt chẽ đổi mới cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Em tin
rằng với nhận thức đúng đắn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đảng ta nhất định
lãnh đạo công cuộc đổi mới đi đến thắng lợi hoàn toàn, dưới đà phát triển của sự
nghiệp cách mạng hiện nay, công cuộc đổi mới Đảng lãnh đạo nhất định sẽ đưa nước
ta lên ngang tầm với các nước đang phát triển trong khu vực và thế giới.

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình triết học Mác - Lênin
2. Hỏi đáp Triết học
3. Văn kiến Đại hội Đảng VII, VIII
4. Đổi mới kinh tế ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp.
5. Và một số tạp chí khác…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status