TIỂU LUẬN:
Khảo sát thực tế thực trạng của Nhà máy
trong giai đoạn hiện nay và những năm gần
đây về tổ chức quản lý tại Nhà máy thuốc
lá Thăng Long
Lời mở đầu
Ngày 6/1/1957, bao thuốc lá Thăng Long đầu tiên được xuất xưởng đánh dấu sự ra
đời của ngành thuốc lá và trở thành ngày truyền thống của CBCNV Nhà máy thuốc lá
Thăng Long. Trải qua 45 năm xây dựng và trưởng thành với những thành tựu đáng
ghi nhận.
Nhà máy thuốc lá Thăng Long trực thuộc Tổng công ty thuốc lá Việt nam_ là một
trong những doanh nghiệp sản xuất thuốc lá lớn nhất của Tổng công ty thuốc lá Việt
nam. Trong những năm qua, Nhà máy luôn vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra,
đóng góp cho Nhà nước một lượng ngân sách lớn, tăng lợi nhuận cho Nhà máy và
đảm bảo đời sống cho CBCNV Nhà máy.
quy mô đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Nhận thức đúng yêu cầu khách quan đó,
giữa năm 1955, theo Quyết định số 2990-QĐ của Phủ Thủ Tướng, Vụ quản lý xí
nghiệp đã cử đồng chí Trịnh Văn Ty cùng một số cán bộ khác khảo sát tình hình, lập
hồ sơ nghiên cứu để nhanh chóng xây dựng một nhà máy thuốc lá quốc doanh.
Ngay lập tức, nhóm khảo sát bắt tay vào công việc. Vừa lục tìm lại các tài liệu cũ
thời thuộc Pháp về tình hình phân bố và trồng trọt, kỹ thuật chế biến và quy trình
công nghệ sản xuất thuốc lá, nhóm khảo sát vừa trực tiếp đến các địa phương để xem
xét, tìm hiểu khả năng thực tế trong việc khoanh vùng sản xuất nguyên liệu cho nhà
máy. Sau những ngày làm việc say mê và trách nhiệm, nhóm khảo sát đã thống nhất
và đi đến kết luận: hoàn toàn có thể xây dựng một nhà máy quốc doanh có quy mô
lớn. Nhóm khảo sát cũng đã xây dựng được một đề cương ban đầu, đề nghị chọn địa
điểm xây dựng là Hà Nội hoặc Thanh Hoá với một máy cuốn có công suất dự kiến
ban đầu là 1200 điếu/phút.
Chấp thuận những kiến nghị trên đây của đoàn khảo sát, Bộ Công nghiệp khẳng
định: để tiến tới quy hoạch chính thức địa điểm xây dựng nhà máy lâu dài, trước mắt,
cần tận dụng một số cơ sở xí nghiệp cũ ở Hà Nội mà chúng ta chưa có điều kiện khôi
phục để làm nơi nghiên cứu phương pháp gia công các loại thuốc hiện có, tổ chức sản
xuất thử để rút kinh nghiệm.
Đầu tiên, địa điểm được chọn để thử nghiệm là nhà máy bia Hà nội. Nhưng khi
công việc sắp sửa bắt đầu thì tháng 4 năm 1956, Bộ Công nghiệp lại có quyết định
khôi phục lại nhà máy bia, nhóm khảo sát đành phải tìm đến một địa điểm khác.
Sau một thời gian tìm kiếm, cơ sở nhà máy Diêm cũ được chọn làm địa điểm sản
xuất thử. Ngày 18 tháng 6 năm 1956, Cục Công nghiệp nhẹ thuộc Bộ Công nghiệp ra
quyết định thành lập Ban chuẩn bị sản xuất thuốc lá. Ngày 4 tháng 7 năm 1956, Cục
Công nghiệp nhẹ đề nghị Bộ Công nghiệp xin được khắc con dấu cho một số xí
nghiệp trong đó có nhà máy thuốc lá Hà nội.
Kết quả sản xuất thử đã khẳng định thực tế và triển vọng mở rộng công nghệ thuốc
lá. Cuối năm 1956, Nhà nước quyết định chuyển bộ phận sản xuất từ nhà máy Diêm
về khu vực tiểu thủ công nghệ Hà Đông, nhằm ổn định và phát triển sản xuất. Ngày
được những bao thuốc đầu tiên kịo thời phục vụ nhân dân nhân dịp Tết nguyên đán
(1957). Tính từ 6/1/1957 đến ngày 30/2/1957 Nhà máy đã giao nộp cho Công ty phát
hành cấp 1 là 100000 bao thuốc lá Thăng Long, vượt chỉ tiêu kế hoạch của Bộ công
nghiệp giao.
Tháng 4 năm 1957, Nhà nước trang bị cho Nhà máy 3 máy cuốn điếu Tiệp Khắc, 1
máy đóng bao Trung Quốc. Năm 1958 cấp thêm 1 máy thái Tiệp Khắc và sau đó lại
bổ sung hợp đồng 1 máy thái, 1 máy cuốn Tiệp Khắc nhờ đó mà cơ cấu ngành nghề
của Nhà máy đi vào ổn định.
Đến năm 1964, giá trị tổng sản lượng của Nhà máy đạt 30968458 đồng tăng gấp
hai lần tổng sản lượng năm 1958 và 18 lần năm 1957. Ngoài việc thoả mãn nhu cầu
trong nước Nhà máy còn dành một khối lượng lớn để xuất khẩu (năm 1964 xuất khẩu
sang các nước bạn là 31117 bao).
Năm 1966, chiến tranh xâm lược của Mỹ mở rộng ra miền Bắc, trong tình thế khẩn
trương Đảng bộ Nhà máy xác định “Phải coi sản xuất như chiến đấu, coi xí nghiệp
như chiến trường, coi như mệnh chiến đấu, từ đó vượt qua mọi khó khăn trong bất cứ
tình huống nào với các biện pháp tích cực”. Trong lúc này để sản xuất ổn định và
phát triển cần bảo vệ lực lượng lao động và phương tiện vật chất kỹ thuật.
Từ giữa năm 1966, Nhà máy chuyển sang phương án sơ tán. Bộ phận thứ nhất
chuyển lên Lạng Sơn xây dựng hoàn chỉnh khu sản xuất T2, bộ phận thứ 2 lên Ba
Thá lập cơ sở T3. Năm 1967 Nhà máy xây dựng thêm cơ sở sản xuất T4 ở khu lăng
Hoàng Cao Khải và cơ sở T5 ở Kim Anh-Vĩnh Phúc.
Sau 20 năm phấn đấu không mệt mỏi đã cho thấy một Thăng Long vừa dũng cảm
trong chiến đấu vừa năng động trong sản xuất kinh tế. Sức sống Thăng Long là sức
sống tập thể đoàn kết, chia sẻ ngọt bùi, cùng phát huy trí tuệ và sự khéo léo của
người công nhân yêu lao động.
- Giai đoạn từ 1975 đến 1986:
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ ba, hàng nghìn sáng kiến khoa học kỹ thuật được đề
xuất, trong đó có 314 sáng kiến được áp dụng, làm lợi cho Nhà máy 2355433 đồng.
Giá trị sản phẩm đạt mức trung bình là 200 triệu bao/năm, riêng năm 1985 đạt
01/04/2000, Nhà máy đã tự nghiên cứu, thiết kế chế tạo thành công máy dán tem cho
thuốc lá bao cứng. Sáng kiến này đã tiết kiện được một lượng ngoại tệ đáng kể thay
thế cho việc nhập thiết bị từ nước ngoài, duy trì và phát triển tốt dây chuyền công
nghệ chế biến sợi hiện đại của Trung Quốc đã đáp ứng cho sản xuất thuốc lá bao và
hỗ trợ nhu cầu nguyên liệu cho các doanh nghiệp.
1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Nhà máy:
Chức năng và nhiệm vụ của Nhà máy là sản xuất các loại thuốc lá có và không có
đầu lọc để từng bước đưa sản phẩm thuốc lá vào thị trường. Do đó đòi hỏi Nhà máy
phải từng bước cụ thể hoá nhiệm vụ chủ yếu này theo các bước:
- Từng bước củng cố và phát triển thị trường không những trong nước mà còn
hướng tới xuất khẩu.
- Từng bước nâng cao trình độ, tay nghề của đội ngũ cán bộ công nhân viên để
nắm bắt kịp thời công nghệ mới của thế giới nhằm thúc đẩy sự phát triển của
Nhà máy
2. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Nhà máy:chức năng, nhiệm vụ:
( xem sơ đồ trang bên)
Bộ máy quản lý của Nhà máy được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng tức
là người thủ trưởng được sự giúp sức của các phòng ban chức năng, các chuyên gia,
các hội đồng tư vấn trong xác định phương hướng nghiên cứu thực hiện, đề xuất khi
được thủ trưởng quyết định đồng ý sẽ biến thành mệnh lệnh xuống cấp dưới.
Ban giám đốc: Bao gồm Giám đốc, Phó giám đốc kinh doanh và Phó giám đốc
kỹ thuật.
- Giám đốc: Là người được Nhà máy giao nhiệm vụ quản lý Nhà máy, là người
chỉ huy cao nhất có nhiệm vụ quản lý toàn diện, chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với
Nhà nước về tất cả các lĩnh vực kinh doanh của Nhà máy.
- Phó giám đốc kinh doanh: có nhiệm vụ tổ chức mạng lưới giao dịch, nắm vững
tình hình để phục vụ đầu ra.
- Phó giám đốc kỹ thuật: Có trách nhiệm tổ chức chỉ huy toàn bộ quá trình sản
xuất và công tác kỹ thuật trong Nhà máy.
trình công nghệ tại Nhà máy.
- Phòng tài vụ: gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 11 nhân viên.
Chức năng: Tham gia giúp việc về mặt tài chính kế toán của Nhà máy.
Nhiệm vụ: Tổ chức quản lý về mọi mặt hoạt động của Nhà máy có liên quan
đến công tác tài chính kế toán như: thu, chi, công nợ, giá thành
- Phòng tổ chức: bao gồm 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 2 nhân viên.
Chức năng: Giúp việc và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc về công tác lao
động- tổ chức, an ninh- quốc phòng.
Nhiệm vụ: Giúp Ban giám đốc quản lý và xây dựng phương án công tác tổ chức
lao động, tiền lương, bảo hộ lao động, an toàn và vệ sinh lao động.
- Phòng nguyên liệu:
Chức năng: Tham mưu cho Ban giám đốc về công tác nguyên vật liệu thuốc lá
theo yêu cầu sản xuất kinh doanh.
Nhiệm vụ: Về nông nghiệp nghiên cứu thổ nhưỡng, giống thuốc thực nghiệm;
tổ chức gieo trồng theo kế hoạch.
- Phòng tài chính:
Chức năng: Giúp Giám đốc về tất cả các công việc liên quan đến công việc
hành chính sự nghiệp của Nhà máy.
Nhiệm vụ: Quản lý về văn thư, lưu trữ về tài liệu, bảo mật, đối nội, đối ngoại,
quản lý công tác xây dựng cơ bản và hành chính quản trị.
- Phòng tiêu thụ:
Chức năng: Tham mưu cho Ban giám đốc về công tác tiêu thụ sản phẩm.
Nhiệm vụ: Lập kế hoạch tiêu thụ từng vùng, miền dân cư, kết hợp phòng thị
trường mở rộng diện tích tiêu thụ, thực hiện hợp đồng với khách
hàng. Tổng hợp báo cáo kết quả tiêu thụ về chất lượng chủng loại
theo quy định để Ban giám đốc đánh giá và quyết định phương
hướng sản xuất kinh doanh.
- Phòng thị trường:
Chức năng: Tham mưu giúp việc cho ban lãnh đạo Nhà máy về công tác thị
a. Nguyên liệu:
- Nhận về đúng theo công thức phối chế.
- Kiểm tra vùng cấp, chất lượng, trọng lượng của từng mẻ thuốc khi đưa vào sản
xuất.
b. Hấp chân không:
- Xếp các kiện thuốc lên xe theo đúng công thức phối chế cho một mẻ hấp ( một
mẻ hấp từ 1600- 2000 kg).
- Kiểm tra W nguyên liệu, chất lượng nguyên liệu từng mác để đạt trước khi hấp
chân không ở chế độ tự động cho phù hợp. Đảm bảo đồng đều về W và giữ
được màu sắc ban đầu của lá thuốc:
TSKT :Ph > 0,8 Mpa
Ph > 0,3 Mpa
Thời gian hấp : 25-30 phút
W sau hấp tăng: 3 1%
Tỷ lệ làm ẩm : 98%
Nhiệt độ trong bao: Thuốc tốt 70
Thuốc TB 80
Chu kỳ hấp: 2 lần
- Đối với trường hợp đặc biệt cần tăng hoặc giảm chu kỳ hấp, phòng KTCN có
quy định cụ thể.
c. Phối chế lá trên băng tải:
- Lá hấp xong phải được phối chế ngay, không được để lâu quá 30 phút.
- Kiểm tra mác thuốc vùng cấp, chất lượng, số lượng cả kiện phải phối chế. Phát
hiện các kiện thuốc sai vùng cấp, chất lượng và báo cho KCS biết để có biện
pháp giải quyết ngay.
- Các bó lá đạt yêu cầu cắt ngọn (lá > 20 cm) phải xếp đều đặn, ngay ngắn, không
chồng chéo lên nhau, phần ngọn lá quay về giữa băng, cắt 1/3 ngọn.
- Lá rời xếp đều đặn hai bên băng tải, không bỏ ồ ạt ùn tắc. Yêu cầu lưu lượng lá
khi phối chế luôn đồng đều nhau và ổn định.
Tách cuộng Làm ẩm Hấp ép Sấy sợi
Cuộng cuộng
Gia liệu Thùng trữ Thái lá
Cuộng Thùng trữ, phối
trộn và ủ lá
A . Sản xuất sợi cuộng:
1. Máy làm ẩm cuộng: Thiết bị dùng hơi nước làm ẩm và nóng cuộng
W cuộng = 26 2%
T = 90C
2. Thùng chứa cuộng: Dùng chứa cuộng sau khi làm ẩm để đảm bảo đồng đều về
thuỷ phân. Thời gian ủ: 2 giờ.
3. Máy hấp cuộng- ép cuộng:
- Sau khi ủ cuộng đủ thời gian quy định cuộng được đưa lên máy hấp làm nóng
và nâng thuỷ phần cuộng lên 30 2%: T - 90C.
- Sau đó cuộng được đưa qua bộ phận ép cuộng.
Độ dài ép cuộng: 1,2 0,1mm.
- Loại bỏ tạp vật, cuộng nhũn, cuộng đen.
4. Máy thái cuộng: Thái cuộng thành sợi như sợi lá, cỡ sợi cuộng thái: 0,12-0,15mm
5. Máy trương nở cuộng:
W cuộng = 34 1% để sợi cuộng có phẩm chất giống sợi lá.
6. Máy sấy cuộng:
- Làm khô sợi cuộng đến W yêu cầu và cố định trạng thái trương nở của sợi
trường hợp tắc hương không kiểm tra được phải báo cho phòng KCS và người
vận hành máy sấy sợi biết để ngừng đưa sợi lên và báo sửa chữa kịp thời.
- Thùng chứa sợi: Dùng bảo quản sợi để sản xuất và phân phối sợi cho các máy
cuốn. Đầu các thùng chứa sợi phải có biểu ghi rõ mác thuốc, ngày sản xuất,sản
lượng. Do khu vực bảo quản sợi chưa có hệ thống điều tiết còn ẩm và chờ lắp
đặt hệ thống cấp sợi cho các khuông cuốn điếu nên sợi các mác sau khi sản
xuất xong phải ra bảo quản trong các thùng cattông có lót túi PE. Yêu cầu 1
thùng chứa 70 kg sợi, miệng túi PE phải gấp kín dán băng dính để bảo quản.
Ngoài thùng dán 1/2 tờ nhãn theo đúng tên mác thuốc, ghi rõ ngày sản xuất,
ca, trọng lượng.
4. Tình hình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm
trong những năm gần đây.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lá của Nhà máy trong giai đoạn
1995-2001 như sau:
( Xem bảng trang bên)
Năm
S
ản xuất (triệu bao)
Tiêu th
ụ (triệu bao)
% tiêu th
ụ/sản xuất
1995 202,719 204,758 101
năm 1995 là 101%, năm 1996 là 99,78%, năm 2001 là 100,08%. Sản phẩm tiêu thụ
trong các năm 1998 đến 2000 có hướng giảm so với các năm trước , chứng tỏ trong
những năm này Nhà máy đã không thực hiện tốt các chính sách tiêu thụ sản phẩm,
hoặc do nhu cầu thị trường giảm Để khắc phục những yếu điểm trên, trong năm
2001 Nhà máy đã tăng cường đẩy mạnh hoạt động Marketing, nâng cao chất lượng
sản phẩm, nhờ đó mà sản lượng tiêu thụ sản phẩm trong năm này tăng lên rất nhiều,
hầu như sản xuất đến đâu thì tiêu thụ đến đó.
Phần II: Các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Nhà máy thuốc lá thăng long.
1. Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của Nhà máy:
1.1.Căn cứ xây dựng kế hoạch: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất
kinh doanh mà không có kế hoạch hoặc chất lượng kế hoạch không cao thì không bao
giờ đạt hiệu quả cao và liên tục, rồi sẽ bị phá sản trong cơ chế thị trường. Nhà máy
thuốc lá Thăng Long là một doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn, do đó cần phải có
một kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Hiện nay, để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho mình, Nhà máy đã dựa
trên các căn cứ sau:
- Căn cứ vào quyết định của chủ tịch Hội đồng Quản trị phê duyệt điều lệ hoạt
động sản xuất kinh doanh của Nhà máy thuốc lá Thăng Long trực thuộc Tổng
công ty thuốc lá Việt Nam .
- Căn cứ vào tình hình thực hiện của năm trước và dự ước năm nay để làm cơ sở
xin xây dựng kế hoạch cho năm tới.
- Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, khả năng thực tế của Nhà máy
Với những căn cứ đó, Nhà máy mới có cơ sở để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh cho năm tới. Loại kế hoạch mà Nhà máy xây dựng đó là kế hoạch hàng năm.
Với loại kế hoạch này nó mang tính chất toàn diện và cụ thể về các mặt sản xuất, kỹ
thuật, tài chính và đời sống xã hội của CBCNV của Nhà máy.
1.2.Các chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 1999-2002:
Năm
603,922
564,71
1211
223,04
14,6
2001 211,000 616,000 576,000 1235 227,500 14,9
2002 215,22 626,32 587,52 1260 232,05 15,2
Bảng 2: Các chỉ tiêu kế hoạch giai đoạn 1999-2002
1.3.Kết quả thực hiện kế hoạch:
Năm
S
ố l
ư
ợng
(triệu bao)
Doanh thu
(tỷ đồng)
Giá tr
ị TSL
(tỷ đồng)
Lao đ
2.1. Cơ cấu lao động hiện nay của Nhà máy:
Lao động là một trong 3 yếu tố của quá trình sản xuất, thiếu lao động thì sẽ không
sản xuất được. Để cho mọi hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao cần phải hình thành
một cơ cấu lao động tối ưu trong Nhà máy.
Hiện nay, Nhà máy lựa chọn cơ cấu lao động theo hình thức giới tính. Dưới đây là
bảng cơ cấu lao động của Nhà máy trong năm 2002:
TT Các bộ phận Tổng số lao động
Trong đó
Nam
N
ữ
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17
43
35
12
9
52
89
82
26
69
7
44
18
27
2
4
11
8
35
1
5
9
106
208
80
16
17
27
1
0
ỷ trọng
S
ố l
ư
ợng
T
ỷ trọng
1.
T
ổng lao
đ
ộng (ng
ư
ời)
1176
100
1186
100
-Lao động gián tiếp 210 17,86 215 18,13
-Lao động trực tiếp SXKD 966 82,14 971 81,87
2.
Công nhân k
ỹ thuật
816
69,39
84
69,22
-Lao động phổ thông 150 12,76 150 12,65
3.
K
ết cấu theo
đ
ộ tuổi
1176
100
1186
100
- < 20 0 0
- Từ 20-29 163 13,86 176 18,84
-
- > 60 0 0
Bảng 5: Cơ cấu lao động theo trình độ và độ tuổi.
Qua bảng trên ta thấy, về trình độ Cao đẳng có tỷ trọng thấp nhất( năm 2000 là
0,77% còn năm 2001 là 0,76%), Về Công nhân kỹ thuật chiếm tỷ trọng cao nhất
(năm 2000 là 69.39% còn năm 2001 là 69,22%). Điều đó rất phù hợp vì Nhà máy sản
xuất bằng các dây chuyền. Mặt khác, nếu xét về độ tuổi thì ở độ tuổi từ 30-39 chiếm
tỷ trọng cao nhất ( Năm 2000 là 61,48%, còn năm 2001 là 61,97%). Như vậy, Nhà
máy đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề trẻ hoá đội ngũ lao động. Tóm lại, cơ cấu lao
động hiện nay của Nhà máy là rất hợp lý phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh
của Nhà máy.
2.2. Định mức lao động của Nhà máy (cho 1 ca sản xuất):
2.2.1. Phân xưởng sợi:
Tt Tên côngviệc
B
ậc thợ
Cộng
3/6
4/6
5/6
3/7
4/7
5/7
B
ộ phận dây chuyền
1. Khâu phối chế 2 1 3
2. Máy hấp chân không 6 1 7
3.
Máy c
ắt ngọn
20
1
21
4. Máy dịu lá 1 1
5.
Máy d
ịu ngọn1
13. Máy dịu cuộng 1 1
14. Thùng chứa cuộng 1 1
15. Máy hấp cân cuộng 1 1
16. Máy thái cuộng 1 1 2
17.
Máy trương n
ở sợi cuộng1
1
18. Máy sấy sợi cuộng 1 1
19.
Thùng ch
ứa sợi cuộng1
27.
Kho cơ khí 1
1
28. Điện phân xưởng 6 1 3 10
29.
Máy nén khí 1.5
1.5
30. Cân điện tử 1 1
xuất sản phẩm của phân xưởng
. Bao gồm cả những công việc trước đây vẫn tính công phát sinh như:
- Khâu vá, can tải cho sản xuất .
- San cuộng, san lá phục vụ cho sản xuất.
- Chặt tách mốc, xử lý lá mốc loại ra trong quá trình sản xuất từ nguyên liệu đưa
vào.
Định mức lao động trên chưa tính công nghỉ chế độ và nghỉ luân phiên.
Bộ phận quản lý tính cho một ngày không phụ thuộc số ca sản xuất. 2.2.2. Phân xưởng bao cứng:
Tt Tên công việc
B
ậc thợ
Cộng
3/6
4/6
5/6
9CASCADE(3 cuốn C1,C2,C3)
3. Máy cuốn DE COUPLE (cuốn
Pháp)
2 2 1 5
4. Máy cuốn MAK (STC) 1 3 1 5
5. Sửa chữa cho toàn bộ khâu cuốn 2.5 2.5
II.
Khâu may bao
6.
2 máy đóng bao HLP+2 máy dán
tem WH2+ 1 máy đóng tút
BOXER +1 máy BK tút ME4
(dây bao tút T2)
3
8
2
15
8
9.
S
ửa chữa cho toàn bộ khâu bao 33
III.
Khâu ph
ục vụ
10.
Kho
1.5
28
9
2.5
6
1.5
76
Bảng 7: Định mức lao động của phân xưởng bao cứng.
Định mức lao động trên được xác điịnh cho tất cả các công việc liên quan đến sản
xuất sản phẩm của phân xưởng . Bao gồm cả những công việc trước đây vẫn tính
công phát sinh.
Định mức lao động trên chưa tính công nghỉ chế độ và nghỉ luân phiên.
Bộ phận quản lý tính cho một ngày với 2 ca sản xuất.
2.2.3. Phân xưởng bao mềm:
- Định mức lao động dưới đây được xác định cho tất cả các công việc liên
quan đến công việc sản xuất sản phẩm của phân xưởng. Bao gồm cả những
công việc trước đây vẫn tính công phát sinh như:
+ Bù lượng định mức 500000 bao/ngày.
+ Công cho lái cầu thang.
+ Căn chỉnh máy chuyển mác thuốc từ cỡ 70 mm đến 85mm và ngược lại.
- Định mức lao động dưới đây chưa tính đến công nghỉ chế độ và nghỉ luân phiên.
- Bộ phận quản lý tính cho 1 ngày không phụ thuộc vào số ca sản xuất .
Tt Tên công việc
đi
ếu
đ
ầu lọc
2. Khâu đổ sợi 5.25 5.25
3. Máy cuốn ACII (3 máy) 3 3 6 12
4. Máy cuốn IJ (3 máy) 9 3 12
5.
Máy cu
ốn MAK8
(1 máy)
3
1
4
6.
S
ửa chữa cho khâu cuốn
đầu lọc