Phương pháp quản lý kinh doanh potx - Pdf 12

Phương pháp quản lý kinh doanh
Khái quát chung
Các phương pháp quản lý kinh doanh là tổng thể các cách thức tác động có chủ
đích của các chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (cấp dưới và tiềm năng của
doanh nghiệp) và đến khách thể kinh doanh (khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh
tranh và các ràng buộc của môi trường kinh doanh) để đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp trong điều kiện cho phép. Các phương pháp được sử dụng phải tuân
thủ các đòi hỏi của quy luật và các nguyên tắc quản lý kinh doanh; mặt khác phải
vận dụng nghệ thuật quản lý kinh doanh một cách khôn khéo, uyển chuyển tuỳ
từng tình huống.
Các phương pháp quản lý kinh doanh rất đa dạng, phải luôn thay đổi thích ứng với
điều kiện trong từng tình huống; tuỳ thuộc đặc điểm của đối tượng quản lý cũng
như năng lực, kinh nghiệm của các nhà quản lý. Sự lựa chọn phương pháp để sử
dụng không thể tuỳ tiện theo cảm tính chủ quan, mà cần tỉnh táo nắm chắc tình
hình thực tế, kịp thời điều chỉnh, bổ sung để khắc phục các trở ngại phát sinh chưa
lường trước. Quản lý có hiệu quả nhất khi biết lựa chọn đúng và kết hợp, điều
chỉnh linh hoạt các phương pháp quản lý. Vì vậy, sử dụng các phương pháp quản
lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, đòi hỏi cả tài và nghệ của nhà quản lý.
Có nhiều cách phân loại phương pháp quản lý theo tiêu chí khác nhau, tuỳ góc độ
của nhà nghiên cứu. Các phân loại phổ biến nhất căn cứ nội dung và cơ chế hoạt
động quản lý, chia thành:
- Các phương pháp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp
- Các phương pháp tác động lên khách hàng
- Các phương pháp cạnh tranh với các đối thủ
- Các phương pháp quan hệ với bạn hàng (đối tác)
- Các phương pháp quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước
Các phương pháp quản lý kinh doanh chính trong nội bộ doanh nghiệp
Tác động lên con người:
Bằng các phương pháp hành chính, các phương pháp kinh tế và các phương pháp
giáo dục.
a. Các phương pháp hành chính dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống

được lựa chon. Thực chất, đó là sự vận dụng các quy luật kinh tế khách quan trong
kinh doanh, cho phép người lao động tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả
để hoàn thành nhiệm vụ.
Đặc điểm của các phương pháp kinh tế là tác động lên đối tượng quản lý không
bằng sự cưỡng chế hành chính, mà đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế
và những phương tiện vật chất có thể huy động được để thực hiện nhiệm vụ với lợi
ích thiết thực phù hợp với lợi ích chung của doanh nghiệp và xã hội. Do đó, các
phương pháp đó tác động nhạy bén, linh hoạt và phát huy được tính tự nguyện, chủ
động, sáng tạo của người lao động; đồng thời nâng cao trách nhiệm, ý thức kỷ luật
tự giác của họ.
Với các phương pháp kinh tế, người quản lý giảm được nhiều việc điều hành, đôn
đốc, kiểm tra chi ly, sự vụ để tập trung vào các việc cơ bản. Người quản lý doanh
nghiệp sử dụng các phương pháp kinh tế theo hướng sau:
+ Đề ra những chỉ tiêu cụ thể từng thời gian cho từng bộ phận trong doanh nghiệp,
lấy đó làm chuẩn cho việc thưởng phạt về vật chất.
+ Sử dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật gắn với các đòn bẩy kinh tế
+ Thực hiện chế độ trách nhiệm kinh tế có thưởng, phạt về vật chất.
Việc mở rộng mức độ và phạm vi áp dụng các phương pháp kinh tế là xu hướng
chung của các nước theo kinh tế thị trường; trong đó chú trọng các vấn đề sau:
+ Hoàn thiện hệ thống đòn bẩy kinh tế: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, lãi suất, tiền
lương, tiền thưởng…
+ Thực hiện phân cấp quản lý đúng đắn; vừa đảm bảo hiệu lực quản lý - điều hành
thống nhất, vừa nâng cao trình độ chủ động sáng tạo của cấp dưới.
+ Nâng cao trình độ và năng lực của cán bộ quản lý về nhiều mặt: biết vận dụng
quy luật và các nguyên tắc trong quản lý kinh doanh, biết sử dụng các đòn bảy kinh
tế, công tâm và nghiêm minh trong xử lý công việc.
c) Các phương pháp giáo dục tác động vào nhận thức và tâm lý, tình cảm của
người lao động, nhằm nâng cao tính tự nguyện tự giác và nhiệt tình lao động của
họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là
con người, một thực thể có ý thức, tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội đa dạng

+ Nhu cầu tự nhiên (nhu cầu sinh lý): ăn uống, nghỉ ngơi, phòng chữa bệnh, sống
an toàn và hạnh phúc.
+ Trí tưởng tượng tạo ra những ấn tượng khi tiếp xúc với hàng hoá (kiểu dáng,
màu sắc một cái áo chẳng hạn).
+ Mong muốn bức thiết được đáp ứng.
- Yếu tố môi trường của người tiêu dùng gồm:
+ Sự giao tiếp với bạn bè về thị hiếu, dư luận về tiêu dùng
+ Cơ cấu gia đình (độc thân, có con nhỏ, có con lớn, mới cưới, vợ chồng già, goá
bụa, giới tính…)
+ Thành phần xã hội (tầng lớp, nghề nghiệp, địa vị, dân tộc, tôn giáo)
+ Trình độ văn hoá (thể hiện nhận thức, cách sống, trí tưởng tượng)
+ Mức thu nhập, khả năng mua sắm
+ Tính tình, thói quen tiêu dùng.
- Về bên bán hàng, các yếu tố quyết định khối lượng nhu cầu:
+ Tính năng, hình dáng, chất lượng sản phẩm đem ra bán.
+ Giá cả hiện hành, giá cả trong tương lai gần, giá cả của sản phẩm thay thế và bổ
sung cho sản phẩm đang có, phản ứng cạnh tranh của các đối thủ.
+ Các biện pháp và hiệu quả chiêu thị (quảng cáo, chiêu hàng, chào hàng, bán
hàng).
- Ngoài ra, còn có các yếu tố môi trường vĩ mô: cơ chế quản lý, quan hệ đối ngoại
(với nước ngoài, với địa phương khác), sức mua của đồng tiền, sự ổn định chính trị
- xã hội.
Các loại yếu tố nói trên tác động lên nhu cầu được mô tả trên sơ đồ sau

b) Hoạt động chiêu thị (Promotion): là các hoạt động thúc đẩy việc tiêu thụ của
doanh nghiệp trên thị trường nói chung và thị trường mục tiêu (target market) nói
riêng của doanh nghiệp.
Chiêu thị nhằm mục tiêu tiêu thụ sản phẩm làm ra trong điều kiện có cạnh tranh
trên thị trường; nó có tác động rất to lớn và được là một bộ phận hữu cơ của hoạt
động sản xuất (ở nhiều nước, chi phí chiêu thị trường chiếm 10-20% tổng chi phí

Trong trường hợp doanh nghiệp kém ưu thế rõ ràng thì tìm cách rút lui khỏi cuộc
cạnh tranh không cân sức, chấp nhận chuyển sang thị trường khác dù kém hiệu quả
hơn để tồn tại và tìm cơ hội mới. Cũng có khi phải từ bỏ một vài mặt hàng bất lợi
để chuyển sang mặt hàng khác, hoặc tạm thời chịu lỗ khi chưa giải pháp khác.
Các phương pháp quan hệ với khách hàng
Bạn hàng là các đối tác cung cấp các đầu vào (nguyên vật liệu, thiết bị, phụ tùng,
bán thành phẩm); thường hợp tác lâu dài với nhau song có cạnh tranh. Phương
pháp chủ yếu trong quan hệ là giữ chữ "tín", tôn trọng lẫn nhau, thanh toán sòng
phẳng và chia sẻ khó khăn. Song cũng cần tránh sự o ép khi gặp bạn hàng bất tín,
trục lợi, không biết điều; giải pháp chủ yếu là quan hệ đa phương (có nhiều bạn
hàng với cùng mặt hàng).
Các phương pháp quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước
Các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô sử dụng quyền lực Nhà nước (chính trị, hành
chính, kinh tế) để định hướng, điều tiết và kiểm soát các hoạt động kinh tế trong
khuôn khổ luật pháp và chính sách. Mặt trái của nó thể hiện ở hai khía cạnh: sự
chưa hoàn thiện (thậm chí thiếu nhất quán) của hệ thống luật pháp - chính sách, và
hành vi thiếu công tâm của một số công chức.
Cần sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
a) Chủ động trong tư thế người nắm vững pháp luật, hoạt động đúng pháp luật;
thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Không đặt mình ở thế bị
động đối phó, đối đầu với pháp luật và nơm nớp lo sợ. Để nắm vững pháp luật, cần
có chuyên gia cố vấn về pháp luật riêng của doanh nghiệp (trực thuộc giám đốc)
hoặc dựa vào các văn phòng tư vấn pháp lý trước khi thực hiện một quyết định
quan trọng nào, hoặc khi xảy ra sự việc liên quan đến pháp luật và thông lệ kinh
doanh.
Sự chủ động còn thể hiện ở việc kiến nghị các cơ quan hữu trách hướng dẫn, giải
thích rõ những điểm có thể hiểu tuỳ tiện và vận dụng không đúng. Cũng có thể
kiến nghị những điểm mà luật pháp còn sơ hở, bất hợp lý để cơ quan lập pháp
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.
b) Sẵn sàng cộng tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật (thanh tra, công an điều tra,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status