Bài tập nhóm thương mại quốc tế - Pdf 12

Bài tập nhóm: Thương mại quốc tế

A. Mở Bài.
Sự phát triển của loài người gắn liền với sự phát triển buôn bán.Từ lâu con người đã tìm ra
những lợi ích buôn bán giữa các nước.Cách đây hàng ngàn năm người Trung Quốc,Ấn Độ đã
biết mang những sẩn phẩm của nước mình sang các nước ở Châu Âu,Châu Á để đổi lấy
những sản phẩm mà nước mình không có.Những lý thuyết về lợi ích thương mại quốc tế xuất
hiện vào thế kỉ XV thông qua học thuyết trọng thương,học thuyết Adam Simth và đến thế kỉ
XVIII nhà kinh tế học David Ricardo đã đưa ra học thuyết lợi thế so sánh đặt cơ sở cho việc
nghiên cứu thương mại quốc tế mang tính khoa học và thực tiến hơn và Hecksher – Ohlin đã
phát triển thêm về thương mại quốc tế.
Vậy thương mại quốc tế là gì? Vì sao lại có hoạt động thương mại quốc tế? Và hoạt động
thương mại quốc tế tuân theo các học thuyết như thế nào?
B. Nội Dung
I. Tìm Hiểu Chung
1. Khái niệm Về Thương Mại Quốc Tế.
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ bao gồm hàng hóa vô hình và hữu
hình giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá đưa lại lợi ích cho các bên
tham gia.
2. Nguyên Nhân Của Hoạt Động Thương Mại Quốc Tế.
* Có 3 nguyên nhân chính.
· Do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên của các quốc gia.
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có những mặt mạnh và mặt hạn chế của mình.Do vậy,họ
muốn phát triển thì họ phải vay mượn, mua bán, trao đổi với các quốc gia khác.Tài nguyên
thiên nhiên cũng vậy, tài nguyên thiên nhiên thì có hạn và nhu cầu của con người lại là vô
hạn.Vì vậy mà phải có hoạt động thương mại quốc tế giữa các quốc gia để khắc phục khó khăn
đó.
Ví dụ: Nhật Bản là một quốc rất nghèo nàn về tài nguyên thiên nhiên nhưng Nhật Bản là một
trong những siêu cường quốc kinh tế trên thế giới. Có được điều đó là do nền kinh tế thị trường
ở Nhật Bản ra đời và phát triển sớm, là do chính sách mở cửa giao lưu buôn bán với các nước
trên thế giới. Ngay ở thế kỉ XIX Nhật Bản dã tiến hành mua một số phất minh quan trọng của

2. Cơ Sở Ra Đời.
Do học thuyết của các nhà kinh tế như Adam Smith và các học thuyết khác chưa giải
thích được hiện tượng: Một nước có lợi thế hơn hẳn các nước khác hoặc những nước không
lợi tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng trông phân công lao động quốc tế là ở đâu? Và thương mại
quốc tế sẽ xảy ra như thế nào đối với các nước? Hay lại áp dụng chính sách “Bế quan tỏa
cảng”? Ngày nay,đặc biệt mậu dịch giữa các nước phát triển với nhau nếu dùng lý thuyết lợi thế
tuyệt đối của Adam Simth thì không thể giải thích được.
Chính vì vậy mà học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo ra đời để khác phục những
hạn chế mà học thuyết Adam Smith .
3. Tư Tưởng .
· Mọi nước luôn có thể và rất có lợi tham gia vào quá trình phân công lao động quốc
tế. Bởi vì phát triển ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của một
nước: Chỉ chyên môn hóa vào sản xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng
hóa của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác .
· Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế
tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn khi
tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi
thế so sánh nhất định về một số mặt hàng và một số kém so sánh nhất định về các mặt
hàng khác.
· Điều chính yếu trong lý thuyết của Ricardo là thương mại quốc tế không yêu cầu
sự khác nhau về lợi thế tuyệt đối. Thương mại quốc tế có thể xảy ra khi có lợi thế so
sánh. Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào mà tương quan về lao động cho mỗi sản
phẩm khác nhau giữa hai hàng hóa .
· Theo quy luật này, các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm mà
họ không có lợi thế tuyệt đối so với một nước khác, nhưng lại có lợi thế tuyệt đối hơn
giữa hai sản phẩm trong nước ( tức là họ có lợi thế tương đối hay lợi thế so sánh ) và
nhập khẩu những sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong
nước.
· Lợi thế so sánh về một loại sản phẩm X nào đó tể hiện khả năng cạnh tranh của
một quốc gia trên thị trường thế giới. xác định lợi thế so sánh giữa hai quốc gia, hay

đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giả thích triệt để nguyên nhân sâu xa
của quá trình thương mại quốc tế.
III. Quan Điểm Của E.Hecksher – B.Ohlin Về Thương Mại Quốc Tế.
1. Tiểu sử.
Hecksher – Ohlin là nhà kinh tế học người Thụy Điển.
Tác phẩm chính: Thương mại lên khu vực và quốc tế.
2. Cơ Sở Ra Đời.
Do học thuyết của David Ricardo chưa giải thích được cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng của
mỗi nước,ông không đề cập tới chi phí vận tải,bảo hiểm hàng hóa và hàng rào bảo hộ mậu dịch
mà các nước dụng lên,không giải thích được nguồn gốc phát sinh của thuận lợi của một nước
đối với loại sản phẩm nào đó.
Để khắc phục những hạn chế học thuyết của David Ricardo mà học thuyết của E.Hecksher –
B.Ohlin ra đời để giải thích hiện tượng thương mại hóa quốc tế.
3.Tư Tưởng.
Học thuyết của Hecksher – Ohlin giải thích các hiện tượng kinh tế thương mại quốc tế
như
sau : “Trong một nền kinh tế mở cửa mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa các nghành
sản xuất mà cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là lợi thế nhất”.Nói một
cánh khác bằng cách thừa nhận là mỗi sản phẩm đòi hỏi một sự liên kết khác nhau các yếu tố
sản xuất (vốn,lao động,tài nguyên,đất đai, vv ) và có sự chênh lệch giữa các nước về các yếu
tố này, mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố
với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các nước khác. Như vậy cơ sở của sự trao đổi
buôn bán quốc tế theo Hecksher – Ohlin là lợi thế tương đối. hệ số biểu thị lợi thế tương đối
hay còn gọ là lợi thế so sánh được viết tắt RCA (theo Coefficient of Re- vealed Comparative
Advantage ) hệ số này được xác định như sau :
RCA =
- :Giá trị kim nghạch xuất khẩu sản phẩm Acuar nước X (tính giá FOB)
- :Tổng kim nghạch xuất khẩu của nước X trong một năm
- : Giá trị kim nghạch xuất khẩu sản phẩm A của toàn thế giới.
- W :Tổng kim nghạch xuất khẩu của toàn thế giới trong năm

Nam hoàn toàn mới.Ba mươi lăm năm chưa phải một khoảng thời gian dài đối với tiến trình lịch
sử của một dân tộc.Đứng trước tình hình đó,Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã
quyết định chuyển đổi nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thi trường tức là “mở
cửa” giao lưu buôn bán với các nền kinh tế của các quốc gia khác trên thế giới Theo các văn
kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản và
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chủ trương thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế chủ động hội nhập quốc tế
với phương châm "Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong
cộng đồng thế giới phấn đấu vì vì hòa bình,độc lập và phát triển”.
Áp dụng học thuyết về lợi thế so sánh của Ricardo và Hecksher – Ohlin,Việt Nam đã tiến
hành chuyển đổi nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường dã đạt được những
thành tựu :
Tổng sản phẩm xã hội tăng bình quân mỗi năm 4,8%.Trong nông nghiệp sản xuất lương thực
có bước tiến đáng kể từ mức trên dưới 18 triệu tấn/năm(năm 1984 – 1987) đã tăng lên 21,5
triệu tấn /năm (1989 – 1990).Lương thực bình quân đầu người mỗi năm đạt 310 kg.Năm
1989,Việt Nam đã khắc phục được tình trạng thường xuyên phải nhập lương thực vươn lên trở
thành nước xuất khẩu gạo vào hàng thứ 3 trên thế giới (1989) xuất được 1.4 triệu tấn.Trong
công nghiệp,một cách thức làm ăn mới có hiệu quả sản xuất gắn với thị trường đang dược
khẳng định.Trong lưu thông phân phối, cơ chế mới đã đóng góp ổn định thị trường.Những năm
1989 – 1990 hàng hóa đã có sự phong phú, mua bán thuận tiện,giá cả ổn định,siêu lạm phát
được ngăn chặn.
Việt Nam có nhiều lao động nhưng thiếu vốn và công nghệ nên có lợi thế tương đối trong sản
xuất các mặt hàng cần nhiều lao động như quần áo, giày dép, nông sản, trong khi Mỹ có lợi
thế tương đối trong sản xuất các mặt hàng công nghệ cao và cần nhiều vốn như máy tính,
Ipod, phim Hollywood… Và quan hệ thương mại diễn ra trên cơ sở này, Việt Nam xuất khẩu
quần áo, giầy dép, nông sản sang Mỹ và nhập khẩu máy tính, Ipod, phim Hollywood… từ Mỹ.
Hiên nay,Việt nam đã thiết lập ngoại giao với 171 quốc gia thuộc tất cả các châu lục (Châu Á -
Thái Bình Dương: 33, Châu Âu: 46, Châu Mĩ: 28, Châu Phi: 47, Trung Đông: 16), bao gồm tất
cả các nước và trung tâm chính trị lớn của thế giới. Việt Nam cũng là thành viên của 63 tổ chức
quốc tế và có quan hệ với hơn 500 tổ chức phi chính phủ. Đồng thời, Việt Nam đã có quan hệ

hơn trong tương lai.
Sinh viên là nhưng tài năng mới,cho một quá trình đổi mới càng phải phát triển khả năng ngoại
giao rộng,để tiếp thu truyền thông của các học giả đi trước để đất nước chúng ta ngày càng
phát triển hơn và sánh vai với các cường quốc trên thế giớ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status