Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế tập
trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, Bảo hiểm thương mại là một trong những ngành hoạt động dịch vụ tài
chính tuy còn rất mới mẻ ở Việt Nam nhưng đã có những bước phát triển
vượt bậc trong thời gian qua và được đánh giá là một trong những ngành có
tốc độ tăng trưởng cao nhất trong nền kinh tế quốc dân.
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mọi doanh
nghiệp phải hoàn toàn tự chủ trong kinh doanh, tự quyết định và tự chịu
trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, mỗi doanh nghiệp
là một phân hệ kinh tế mở trong nền kinh tế quốc dân và từng bước hội nhập
với nền kinh tế khu vực và thế giới, điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp không
chỉ chú trọng đến thực trạng và xu thế biến động của môi trường kinh doanh
trong nước mà còn phải tính đến cả các tác động tích cực cũng như tiêu cực
của môi trường kinh doanh khu vực và quốc tế. Môi trường kinh doanh ngày
càng rộng, tính chất cạnh tranh và biến động của môi trường ngày càng
mạnh mẽ, việc vạch hướng đi trong tương lai ngày càng có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh là
một công cụ định hướng và điều khiển các hoạt động của doanh nghiệp theo
các mục tiêu phù hợp với hoàn cảnh môi trường và do đó, nó đóng vai trò
quyết định sự thành, bại của doanh nghiệp.
Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm dầu khí (PVI ), thành viên của Tập
đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, trong suốt quá trình hơn mười năm hình
thành và phát triển đã dần khẳng định được vị trí của mình và hiện đang là
doanh nghiệp bảo hiểm đứng thứ hai về thị phần trên thị trường bảo hiểm
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
phi nhân thọ Việt Nam. Tuy nhiên, việc Việt Nam gia nhập WTO, đồng
nghĩa với việc Việt Nam phải mở cửa thị trường bảo hiểm cho các doanh
góp ý tận tình của cô giáo Ths. Tô Thiên Hương cùng các anh chị hiện đang
làm việc tại PVI. Tuy nhiên, do nội dung của chuyên đề rất tổng quát và khả
năng nhận thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên chuyên đề chắc chắn
không tránh khỏi nhiều sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý thẳng thắn
của các thầy cô giáo và của các anh chị để em thực hiện tốt hơn trong những
lần sau.
Em xin chân thành cám ơn !
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH VÀ SỰ HỮU HIỆU CỦA VIỆC ÁP DỤNG MÔ HÌNH
PHÂN TÍCH SWOT TRONG VIỆC XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
1.1: Chiến lược kinh doanh của DNBH và qui trình xây dựng chiến lược
kinh doanh của DNBH
1.1.1: Chiến lược kinh doanh của DNBH
1.1.1.1: Quan điểm về chiến lược kinh doanh và chiến lược kinh doanh
của DNBH
“Chiến lược” là một thuật ngữ được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực
quân sự. Chiến lược có nghĩa là mưu lược trong việc tiến hành chiến tranh,
tức là việc căn cứ vào tình hình quân sự, chính trị, kinh tế, địa lý…của cả hai
bên, xem xét cục diện chiến tranh để chuẩn bị và sử dụng lực lượng của
mình một cách hiệu quả nhất, đem lại thắng lợi cuối cùng cho mình.
Từ thuật ngữ “chiến lược” như trên, trong quá trình hình thành và phát
triển lý luận về chiến lược kinh doanh, có nhiều quan điểm về chiến lược
kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh là những cách thức mà nhờ đó những mục tiêu
dài hạn của doanh nghiệp có thể đạt được. Chiến lược kinh doanh có thể là
chiến lược mở rộng về mặt địa lý, đa dạng hoá sản phẩm, sáp nhập, phát
chiến lược mở rộng và chiến lược kinh doanh đặc thù ( thu hẹp, liên kết…).
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.1.1.2: Vai trò của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp bảo hiểm
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm luôn phải
đối mặt với những thay đổi của môi trường kinh doanh đang xảy ra từng
ngày, từng giờ. Mỗi sự thay đổi này đều có thể gây ảnh hưởng tích cực hay
tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong
môi trường kinh doanh đầy biến động như vậy, có một điều mà các doanh
nghiệp bảo hiểm luôn biết chắc chắn, đó là sự thay đổi. Chính vì vậy, chiến
lược kinh doanh đối với doanh nghiệp bảo hiểm được xem như là một sự
định hướng, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm có thể vượt qua sóng gió, khó
khăn của thương trường, vươn tới một tương lai tốt đẹp hơn bằng chính nỗ
lực và khả năng của mình. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng một chiến
lược kinh doanh có thành công hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào năng
lực triển khai chiến lược, được xem như là một nghệ thuật trong trong quá
trình quản trị doanh nghiệp bảo hiểm.
Chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp bảo hiểm giúp cho doanh
nghiệp có thể chủ động hơn thay vì bị động trong việc vạch rõ tương lai của
mình; nó cho phép một tổ chức có thể tiên phong và gây ảnh hưởng trên thị
trường thay vì phản ứng một cách yếu ớt trước sự thay đổi của môi trường
kinh doanh.
Chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp bảo hiểm đem lại cho mỗi
người sự nhận thức hết sức quan trọng. Mục tiêu của quá trình này là nhằm
đặt được sự thấu hiểu và cam kết thực hiện cả trong ban giám đốc cho đến
đội ngũ nhân viên trong công việc. Một khi mỗi người trong doanh nghiệp
đều hiểu được rằng họ sẽ phải làm gì và tại sao họ phải làm như vậy, mỗi
người sẽ cảm thấy mình thực sự là một phần của doanh nghiệp và sẽ tự cam
kết để ủng hộ nó. Ban giám đốc và các nhân viên lúc này sẽ trở nên năng
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
so sánh của chính mình, hạn chế phần nào các điểm yếu, giúp cho doanh
nghiệp ngày càng phát triển.
Thứ tư, do đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là sự chấp
nhận rủi ro của bên mua bảo hiểm, trên cơ sở bên mua đóng phí bảo hiểm để
doanh nghiệp bảo hiểm chi trả cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra. Chính vì lý do này nên nguyên tắc an toàn mà cụ thể ở đây là
an toàn tài chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là rất quan trọng.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm cần đảm bảo tính an toàn
cho việc đảm bảo khả năng chi trả, bồi thường đối với khách hàng, đảm bảo
cho việc bảo toàn và tăng trưởng quĩ bảo hiểm.
Thứ năm, phải xác định được phạm vi kinh doanh, mục tiêu, lộ trình
và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu. Trong điều kiện môi
trường kinh doanh bên trong cũng như bên ngoài tác động vào doanh nghiệp
bảo hiểm như hiện nay, mỗi doanh nghiệp đều bị giới hạn về nguồn lực.
Chiến lược kinh doanh phải xác định rõ phạm vi kinh doanh để có phương
án sử dụng các nguồn lực có thể huy động được một cách hiệu quả nhất.
Trong phạm vi kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định các mục tiêu
đề ra của mình một cách rõ ràng để tránh dàn trải về nguồn lực. Một chiến
lược kinh doanh tốt luôn xác định được một hệ thống các chính sách, biện
pháp và các điều kiện về tài chính, con người…để thực hiện các mục tiêu đó.
1.1.2: Qui trình xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
Chiến lược kinh doanh là một bảng phác thảo tương lai bao gồm các
mục tiêu mà doanh nghiệp phải đạt được cũng như các phương tiện cần thiết
để thực hiện các mục tiêu đó. Cũng có thể hiểu chiến lược kinh doanh là tập
hợp các quyết định và hành động quản trị nhằm hướng tới sự thành công lâu
dài của doanh nghiệp.
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
8
Bước 3, phân tích, đánh giá và phán đoán đúng môi trường bên trong
doanh nghiệp. Nội dung đánh giá và phán đoán cần đảm bảo tính toàn diện
và hệ thống. Các vấn đề cốt yếu cần được tập trung đánh giá và phán đoán
trong bước này là cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, năng lực lãnh đạo của
đội ngũ quản trị cấp cao và năng lực làm việc của đội ngũ nhân viên, công
tác bồi thường và quản lý rủi ro, khả năng tài chính của doanh nghiệp…
Bước 4, tổng hợp kết quả phân tích, đánh giá và dự báo môi trường
bên trong doanh nghiệp. Về nguyên tắc phải phân tích, đánh giá và dự báo
mọi mặt hoạt động bên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tế thường
tập trung xác định các điểm mạnh, lợi thế của doanh nghiệp cũng như xác
định các điểm yếu, bất lợi, đặc biệt là so sánh với các đối thủ cạnh tranh ở
thời kỳ chiến lược.
Bước 5, nghiên cứu các quan điểm, mong muốn, ý kiến… của lãnh
đạo doanh nghiệp. Để xác định các chiến lược cụ thể, bước này phải hoàn
thành nhiệm vụ đánh giá lại các mục tiêu, triết lý kinh doanh cũng như quan
điểm của lãnh đạo doanh nghiệp vì người lãnh đạo doanh nghiệp là người có
đủ quyền hạn và chịu trách nhiệm trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện
chiến lược kinh doanh.
Bước 6, hình thành một ( hay nhiều ) phương án chiến lược.Việc hình
thành một hay nhiều phương án chiến lược không phụ thuộc vào ý muốn của
những người làm chiến lược mà phụ thuộc vào phương án xây dựng chiến
lược cụ thể đã lựa chọn.
Bước 7, quyết định chiến lược tối ưu cho thời kỳ chiến lược. Việc
quyết định lựa chọn chiến lược tối ưu cũng phụ thuộc vào phương pháp xây
dựng chiến lược là phương pháp phản biện, tranh luận biện chứng hay lựa
chọn phương án tốt nhất trong nhiều phương án xây dựng.
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bước 8, chương trình hoá phương án chiến lược đã lựa chọn với 2
Tổng hợp
kết quả
đánh giá,
phán đoán
môi trường
bên trong
doanh
nghiệp
Các quan
điểm mong
muốn, kỳ
vọng của
lãnh đạo
doanh
nghiệp
Hình
thành
(các)
phương
án
chiến
lược
Quyết
định
chiến
lược
tối ưu
phù
hợp
với
hình kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có các doanh
nghiệp bảo hiểm. Ảnh hưởng này ngày càng trở nên rõ ràng hơn do Việt
Nam đang trong quá trình hội nhập, xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá
đang diễn ra hết sức sâu rộng và phổ biến.
Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao sẽ làm tăng thu nhập của các
tầng lớp dân cư, từ đó tăng khả năng thanh toán cho các nhu cầu của họ,
trong đó có nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm. Điều này làm cho các sản phẩm
bảo hiểm ngày càng được đa dạng hoá để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị
trường. Khi nhu cầu bảo hiểm ngày càng lớn, khả năng mở rộng kinh doanh
và tích luỹ vốn đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ ngày càng cao.
Nguồn vốn này khi được đem đầu tư trở lại nền kinh tế sẽ là một nguồn lực
quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và môi trường kinh doanh ngày càng trở
nên hấp dẫn hơn, thu hút đầu tư phát triển ngày càng mạnh hơn.
Kinh tế trong nước và thế giới phát triển thì sự trao đổi xuất nhập
khẩu hàng hoá cũng tăng trưởng mạnh mẽ. Đây là một điều kiện hết sức
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
thuận lợi cho sự phát triển của các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải. Tỷ giá hối
đoái có tác động trực tiếp đến các hoạt động xuất nhập khẩu và từ đó cũng
có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu bảo hiểm trong nền kinh tế đối với nghiệp
vụ này. Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho thấy trong thời gian vừa qua, do
trình độ quản lý và trình độ năng lực của các cán bộ ngoại thương ở các
doanh nghiệp còn nhiều yếu kém nên chúng ta chủ yếu nhập hàng hoá bằng
giá CIF và xuất hàng hoá bằng giá FOB. Điều này có nghĩa là các doanh
nghiệp trên thị trường trong nước đã để mất đi một khoản doanh thu phí bảo
hiểm rất lớn vào tay các công ty bảo hiểm nước ngoài.
Tỷ lệ lạm phát có tác động trực tiếp đến cả hai mặt sản xuất và tiêu
dùng trong nền kinh tế. Khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ tác động xấu đến tiêu dùng,
làm cho cầu của hầu hết các loại hàng hoá dịch vụ sẽ giảm, trong đó có dịch
gặp nhiều khó khăn do số tiền phải bồi thường tăng cao và phải tính lại tỷ lệ
phí bảo hiểm hàng hải cho các tàu đi qua khu vực này.
Ở Việt Nam, việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là
một trong những ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước. Điều này đã có
ảnh hưởng tích cực đến môi trường đầu tư của Việt Nam trong những năm
qua. Các quốc gia và các nhà đầu tư trên thế giới luôn coi Việt Nam là một
nơi an toàn cho các hoạt động đầu tư của mình. Nguồn vốn FDI và ODA đổ
vào Việt Nam là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng để phát triển
đất nước.
Việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hay không lành mạnh
hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố luật pháp và việc quản lý thực hiện theo
đúng pháp luật ở mỗi quốc gia. Việc ban hành hệ thống luật pháp có chất
lượng và đưa vào cuộc sống là điều kiện đầu tiên đảm bảo môi trường kinh
doanh bình đẳng, tạo điều kiện cho mọi doanh nghiệp có cơ hội cạnh tranh
lành mạnh; thiết lập mối quan hệ đúng đắn, bình đẳng giữa người sản xuất
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và người tiêu dùng, giữa người cung cấp dịch vụ và người sử dụng dịch vụ;
buộc mọi doanh nghiệp phải làm ăn chân chính, có trách nhiệm đối với xã
hội và với khách hàng.
Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo
hiểm ở Việt Nam hiện nay khá nhiều và rất chặt chẽ. Hoạt động kinh doanh
bảo hiểm hiện nay ở Việt Nam đang chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật
kinh doanh Bảo Hiểm, Luật Doanh nghiệp, Luật thuế…và các văn bản dưới
luật, hướng dẫn thi hành luật. Có rất nhiều các qui định từ khi doanh nghiệp
được thành lập cho đến khi thanh lý, phá sản. Cơ quan quản lý Nhà nước về
hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn kiểm tra, giám sát khả năng thanh toán,
tỷ lệ phí, các mẫu đơn và các sản phẩm bảo hiểm trước khi doanh nghiệp
bảo hiểm đưa ra thị trường.
Các đối thủ
tiềm ẩn
Khách
hàng
Người
cung cấp
Trong ngành
Sự ganh đua của các
doanh nghiệp hiện có
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Các đối thủ cạnh tranh trong ngành của doanh nghiệp bảo hiểm bao
gồm toàn bộ các doanh nghiệp bảo hiểm trên thị trường đang đưa ra các sản
phẩm bảo hiểm tương tự với các sản phẩm của doanh nghiệp mình trên cùng
một khu vực thị trường nhất định.
Khả năng cung ứng của tất cả các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực
kinh doanh bảo hiểm tạo nên cung về sản phẩm bảo hiểm trên toàn thị
trường. Số lượng, qui mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh
hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên cần chú rằng
mức độ ảnh hưởng của các đối thủ còn gắn với thị trường bộ phận: thông
thường chỉ có các đối thủ ở trong cùng một khu vực thị trường bộ phận mới
ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của nhau.
Khi nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp bảo hiểm cần
lưu ý đến: số lượng đối thủ cạnh tranh là nhiều hay ít?mức độ tăng trưởng
của ngành là nhanh hay chậm?các đối thủ cạnh tranh có đủ khả năng tài
chính để khác biệt hoá sản phẩm hay chuyển hướng kinh doanh hay không?
năng lực cung ứng dịch vụ của đối thủ có tăng hay không và nếu tăng thì khả
năng tăng ở mức độ nào?sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ của đối thủ cạnh
tranh ở mức độ nào?mức độ kỳ vọng của các đối thủ cạnh tranh vào chiến
lược kinh doanh của họ và sự tồn tại các rào cản rời bỏ ngành.
- Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ tham gia vào thị trường ( các đối thủ
bằng hoặc thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh là điều có khả năng xảy ra.
Nhu cầu của khách hàng rất đa dạng và phong phú. Doanh nghiệp nào
biết khai thác và đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ nắm được phần
thắng trong tay. Sản phẩm bảo hiểm mang tính trừu tượng, là sự đảm bảo
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của doanh nghiệp bảo hiểm về việc bồi thường hay chi trả khi có sự kiện bảo
hiểm xảy ra. Chính vì vậy, để khai thác tốt, các doanh nghiệp cần chú trọng
đến “phần mềm” của sản phẩm, tức là sự an tâm, hạnh phúc, an toàn về mặt
tài chính… khi khách hàng mua sản phẩm bảo hiểm.
1.2.2: Các yếu tố thuộc môi trường bên trong
1.2.2.1: Tác động của hoạt động marketing
Marketing là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các ý tưởng liên
quan đến việc hình thành, xác định giá cả, xúc tiến và phân phối các sản
phẩm hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng trên thị trường. Hoạt
động marketing thường tập trung vào chủng loại, sự khác biệt hoá và chất
lượng sản phẩm, dịch vụ, thị phần, giá cả, niềm tin của khách hàng, chi phí
kinh doanh phân phối sản phẩm, hiệu quả của hoạt động quảng cáo và xúc
tiến bán hàng…
Mục tiêu của marketing là thoả mãn các nhu cầu và mong muốn của
khách hàng bên ngoài và bên trong doanh nghiệp, đảm bảo việc cung cấp
sản phẩm, dịch vụ với chất lượng và giá cả phù hợp nhằm giúp doanh nghiệp
giành được lợi thế trong cạnh tranh và đạt được lợi nhuận cao trong dài hạn.
Trong các doanh nghiệp bảo hiểm hiện nay, việc xây dựng thương
hiệu, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, tiếp thị…ngày càng được quan tâm,
chú ý hơn. Hoạt động marketing của doanh nghiệp bảo hiểm càng có chất
lượng và ở phạm vi càng rộng bao nhiêu thì doanh nghiệp càng có thể tạo ra
các lợi thế để chiến thắng các đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu.
1.2.2.2: Ảnh hưởng của nguồn nhân lực
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
qua một số chỉ tiêu như: tốc độ ra quyết định, tính kịp thời và độ chính xác
của các quyết định,…
1.2.2.4: Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Tình hình tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh
doanh trong mọi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp bảo hiểm. Mọi hoạt
động kinh doanh, đầu tư, mua sắm…cũng như khả năng thanh toán bồi
thường, chi trả của doanh nghiệp ở mọi thời điểm đều phụ thuộc vào khả
năng tài chính của nó.
Khi đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, người ta thường
thông qua 3 nhóm chỉ tiêu cơ bản: Nhóm chỉ tiêu thanh toán, nhóm chỉ tiêu
tốc độ luân chuyển vốn và nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời. Khả năng thanh
toán thể hiện khả năng thanh toán các khoản bồi thường, các khoản chi phí
kinh doanh của doanh nghiệp; tốc độ luân chuyển vốn thể hiện năng lực kinh
doanh, trình độ quản lý của doanh nghiệp; khả năng sinh lời thể hiện hiệu
quả của hoạt động kinh doanh và đầu tư của doanh nghiệp.
1.3: Mô hình phân tích SWOT - một công cụ hữu hiệu trong việc xây
dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1: Giới thiệu về mô hình phân tích SWOT
Mô hình phân tích SWOT là một công cụ rất hữu dụng cho việc nắm
bắt và ra quyết định trong mọi tình huống đối với bất cứ tổ chức kinh doanh
nào. SWOT là tên viết tắt của 4 chữ Strengths (điểm mạnh), Weaknesses
(điểm yếu), Opportunities (cơ hội) và Threats (nguy cơ). SWOT cung cấp
một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng của
một doanh nghiệp hay một đề án kinh doanh. SWOT phù hợp với làm việc
và phân tích theo nhóm, được sử dụng trong việc lập kế hoạch kinh doanh,
xây dựng chiến lược, đánh giá đối thủ cạnh tranh, tiếp thị, phát triển sản
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trong tương lai. Điều tốt trong hiện tại thể hiện ở sự thoả mãn (Satisfactory),
trong tương lai thể hiện ở cơ hội (Opportunity); mặt xấu trong hiện tại thể
hiện ở sai lầm (Fault), trong tương lai thể hiện ở nguy cơ (Threat). Mô hình
phân tích này lúc đầu được gọi là SOFT. Sau khi mô hình được giới thiệu
cho Urick và Orr năm 1964 tại Zurich, Thuỵ Sĩ, họ đã đổi F thành W(Weak)
và SWOT ra đời từ đó. Phiên bản đầu tiên được thử nghiệm và trình bày
năm 1966 dựa trên công trình tại Tập đoàn công nghệ Eie (Erie
Technological Corp) Hoa Kỳ. Năm 1973, SWOT được sử dụng tại J W
French Ltd và phát triển từ đó. Đầu năm 2004, SWOT đã được hoàn thiện và
thể hiện được tính ưu việt của mình trong việc đưa ra và thống nhất các mục
tiêu, chiến lược kinh doanh của tổ chức, doanh nghiệp mà không cần phụ
thuộc vào tư vấn hay các nguồn lực tốn kém khác.
Hình 1.1: Mô hình SWOT
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ hình vẽ trên ta có thể hiểu phân tích theo mô hình SWOT là phân
tích theo 4 yếu tố: Strengths(Điểm mạnh), Weaknesses(Điểm yếu),
Opportunities(Cơ hội) và Threats(Nguy cơ). Trong đó, Strengths(Điểm
mạnh) và Weaknesses(Điểm yếu) là các nhân tố thuộc về bên
trong( Internal) của doanh nghiệp. Các nhân tố Opportunities(Cơ hội) và
Threats(Nguy cơ) là các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài(External) tác
động đến doanh nghiệp. Weaknesses(Điểm yếu) và Threats(Nguy cơ) là các
nhân tố có tác động mang tính tiêu cực(Negative) tới doanh nghiệp còn
Strengths(Điểm mạnh) và Opportunities(Cơ hội) là các nhân tố mang tính
tích cực(Positive). Để doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả
thì doanh nghiệp phải xây dựng(Build) cho mình các Strengths(Điểm mạnh);
khắc phục, vượt qua(Overcome) các Weaknesses(Điểm yếu);tìm kiếm, khám
phá (Explore) các Opportunities(Cơ hội) và giảm thiểu(Minimize) các
với doanh nghiệp? Liệu có vấn đề gì về khả năng thanh toán cũng như đối
với dòng tiền của doanh nghiệp hay không?
Sau khi phân tích các yếu tố độc lập tương đối trong mô hình SWOT,
các yếu tố này được sắp xếp và tổng hợp lại vào một bảng được gọi là ma
trận SWOT . Ma trận SWOT gồm có 9 ô: 4 ô liệt kê các yếu tố điểm mạnh -
điểm yếu – cơ hội – nguy cơ; 4 ô liệt kê các phương án chiến lược được hình
thành còn 1 ô luôn được để trống( ô trên cùng, bên trái ):
Đỗ Minh Dân Lớp: BH47A
25