Đề tài: Những thất bại của thị trường và vai trò của chính phủ pot - Pdf 12

I. MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mặc dù thị trường thường là phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế, nhưng
quy tắc nào cũng bao hàm một vài trường hợp ngoại lệ quan trọng. Có hai nguyên nhân
chủ yếu để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế. Đó là thúc đẩy hiệu quả và sự công bằng.
Nghĩa là, hầu hết các chính sách đều nhằm vào mục tiêu vừa làm cho chiếc bánh kinh tế
lớn lên, vừa làm thay đổi cách thức phân chia chiếc bánh đó.
Bàn tay vô hình thường hướng dẫn thị trường phân bổ nguồn lực một cách có hiệu
quả. Song vì nhiều nguyên nhân, đôi khi bàn tay vô hình bị tê liệt. Các nhà kinh tế sử
dụng thuật ngữ “thất bại thị trường” để chỉ tình huống thị trường tự nó thất bại trong việc
phân bổ nguồn lực theo cách có hiệu quả do: sức mạnh thị trường, ảnh hưởng bên ngoài,
hàng hóa công cộng, thông tin không đầy đủ, phân phối không công bằng
Vì vậy, để làm rõ hơn những vấn đề nêu trên trong pham vi của đề tài ta đi
nghiên cứu về “Những thất bại của thị trường và vai trò của chính phủ”.
II. NỘI DUNG
2.1 Những hiểu biết chung về thất bại thị trường
Trong điều kiện tất cả các thị trường trong nền kinh tế là cạnh tranh hoàn hảo thì
điểm cân bằng của nền kinh tế là cạnh tranh hoàn hảo thì điểm cân bằng của nền kinh tế
sẽ đạt hiệu quả Pareto (hiệu quả phân bổ nguồn lực). Tại đó, lợi ích cận biên mà người
tiêu dùng nhận được đúng bằng chi phí cận biên mà người sản xuất bỏ ra để có sản phẩm
đó (MU=MC). Nhưng trên thực tế, nền kinh tế thị trường chưa phải là nền kinh tế hoàn
hảo tối ưu mà chính trong lòng nó cũng vốn có những mặt trái, những thất bại mà con
người không mong muốn. Đây chính là cơ sở để chính phủ can thiệp vào nền kinh tế
nhằm phát huy tính ưu việt và mặt trái của nó.
Những thất bại của thị trường là tình huống trong đó điểm cân bằng trong các thị
trường tự do cạnh tranh không đạt được sự phân bố có hiệu quả, tức là ngăn cản bàn tay
vô hình phân bố các nguồn lực có hiệu quả. Nói cách khác, thất bại của thị trường là
những trường hợp trong đó thị trường tự do cạnh tranh không thể sản xuất ra hàng hóa
dịch vụ như xã hội mong muốn.
2.2Nguyên nhân dẫn đến thất bại thị trường
Các thị trường cạnh tranh tự do thất bại vì bốn lý do: sức mạnh thị trường,

đó làm giảm phúc lợi xã hội tổng thể. Họ cũng có tác dụng quan trọng phân phối, dẫn đến
sự phân phối lại lợi ích từ việc trao đổi từ người tiêu dùng để doanh nghiệp độc
quyền. Nếu độc quyền vẫn tiếp tục tồn tại trong dài hạn, sau đó nó có thể đẩy lùi bất kỳ
ưu đãi cho nhà cung cấp để đổi mới và giảm chi phí
Nguyên nhân quan trọng khác của thất bại thị trường bao gồm sự vắng mặt của
thông tin cần thiết để làm cho sự lựa chọn hợp lý hoặc phối hợp các hoạt động của các tác
nhân kinh tế khác nhau, sự tồn tại của sự không chắc chắn, tình trạng bất động của các
yếu tố sản xuất, và sở thích của người tiêu dùng không thích hợp. Chúng tôi đã nhìn thấy
rằng lạm dụng quyền lực thị trường độc quyền hoặc oligopolies có thể dẫn đến giá cao
hơn và sản xuất thấp hơn mức mong muốn xã hội. Sự khác biệt trong sức mạnh thị trường
thực hiện bởi các tác nhân kinh tế khác nhau cũng có thể dẫn đến một mức độ không
mong muốn của bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và của cải.
Sen là mô hình thu hút sự chú ý đến tính chất conflictive của thị trường chứ không phải là
khía cạnh hài hòa của họ. Theo Sen, phân phối lợi nhuận tích luỹ từ một cuộc trao đổi
giữa các bên tham gia giao dịch phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế tương đối của các bên
giao dịch. Kể từ khi tình hình thị trường được kèm theo sự mất cân bằng trong sức mạnh
kinh tế, phân phối lợi ích thu được từ trao đổi kết quả cũng không đồng đều, thường dẫn
đến sự bất bình đẳng thu nhập cao tại các nền kinh tế thị trường. Bất bình đẳng này có thể
được làm giảm phần nào bởi những hành động tái phân phối của nhà nước phúc lợi. Tất
nhiên khác nhau đối với extensiveness của nhà nước phúc lợi, và hầu hết các nước đang
phát triển có quy định phúc lợi nhà nước rất hạn chế.
Nếu bạn so sánh mô hình của Sen và mô hình của Schumpeter. Schumpeter nhấn
mạnh tính chất năng động của cạnh tranh, và cảm thấy rằng sự cạnh tranh trên sự đổi mới
trong các sản phẩm và quy trình là quan trọng hơn cạnh tranh về giá thuần túy trong ngắn
hạn, Đối với ông, chi phí được giảm tiến bộ trong công nghệ và thông qua các nền kinh tế
của quy mô đạt được của các công ty thành công. Các công ty không thể theo kịp trong
cuộc đua này đổi mới đi phá sản: ông gọi là quá trình này “hủy diệt sáng tạo”.
Trên thị trường hiện nay có ba hình thức trong mối quan hệ hệ giữa các công ty với nhau
thể hiện hành vi độc quyền, hành động của một công ty hoặc sự kết hợp về cấu trúc giữa
các công ty độc lập. Ba hình thức này là:các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, độc quyền,

Xảy ra khi hoạt động của một bên áp đặt chi phí hoặc tổn thất cho bên khác mà
không được tính đến trong chi phí sản xuất của bên gây ra ngoại ứng. Ví dụ, khi một công
ty mỳ chính thải hóa chất ra một dòng sông mà không phải chịu một chi phí nào mặc dù
gây tổn thất cho cộng đồng nuôi cá trên sông. Điều này gây ra tính phi hiệu quả trong sản
xuất mỳ chính. Giá bán mỳ chính (=chi phí biên của việc sản xuất mỳ chính) thấp hơn khi
chi phí sản xuất bao hàm cả chi phi ôi nhiễm. Vậy là ngoại ứng tiêu cực gây ra chi phí
ngoài, trong khi giá cả thị trường không phản ánh được tất cả các chi phí sản xuất ra nó
dẫn đến thất bại thị trường.
Lợi ích dòng xã hội đạt tối đa tại mức hoạt động tối ưu xã hội Q
*
. Tuy nhiên, ở
thị trường, các cá nhân sẽ tối đa hóa lợi nhuận của họ ở mức hoạt động tối ưu cá nhân là
Q1. Do chi phí cận biên của cá nhân (MPC) nhỏ hơn chi phí cận biên xã hội (MSC) nên
Q1>Q
*
do việc định giá sản phẩm không chính xác, giá thị trường phản ánh MPC nhưng
không phản ánh MSC tức giá thị trường là thấp. Như vậy, ngoại ứng tiêu cực đã làm cho
chi phí xã hội của ngành cao hơn chi phí cá nhân dẫn đến sản lượng thực tế cao hơn sản
lượng tối ưu. Sự thất bại của thị trường thể hiện ở chỗ giá cả thị trường chỉ phản ánh chi
phí biên cá nhân, nhưng không phản ánh được chi phí biên xã hội và sản lượng thực tế
cao hơn sản lượng tối ưu xã hội.
- Ngoại ứng tích cực
Khi hoạt động của một bên mang lại lợi ích cho bên khác mà không được tính
đến trong chi phí sản xuất của bên gây ra ngoại ứng. Ví dụ, Trồng rừng tạo ra ngoại ứng
tích cực là bảo vệ đất, làm sạch môi trường không khí, tạo cảnh quan. Như vậy, ngoại
ứng tích cực là sự ảnh hưởng của một hoạt động xảy ra bên trong một hệ mang lại phúc
lợi cho các yếu tố bên ngoài hệ đó. Bên cạnh chi phí ngoài gây nên cho hệ môi trường
không được cá nhân tính toán để xác định sản lượng tối ưu là nguyên nhân gây nên sự
thất bại của thị trường ở ví dụ trên những ngoại ứng tích cực đã tạo nên những lợi ích
ngoài cũng không được phản ánh vào lợi ích xã hội.

không mong muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc tiêu dùng hàng hóa công cộng.
Trong thực tế, có một số hàng hóa công cộng có đầy đủ hai tính chất nêu trên
như quốc phòng, ngoại giao, đèn biển, phát thanh Các hàng hóa đó có chi phí biên để
phục vụ thêm một người sử dụng bằng không, ví dụ đài phát thanh một khi đã xây dựng
xong thì nó ngay lập tức có thể phục vụ tất cả mọi người, kể cả dân số luôn tăng. Tuy
nhiên có nhiều hàng hóa công cộng không đáp ứng một cách chặt chẽ hai tính chất đó ví
dụ đường giao thông, nếu có quá đông người sử dụng thì đường sẽ bị tắc nghẽn và do đó
những người tiêu dùng trước đã làm ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của những người
tiêu dùng sau. Đó là những hàng hóa công cộng có thể tắc nghẽn. Một số hàng hóa công
cộng mà lợi ích của nó có thể định giá thì gọi là hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng
giá. Ví dụ đường cao tốc, cầu có thể đặt các trạm thu phí để hạn chế bớt số lượng người
sử dụng nhằm tránh tắc nghẽn
Như vậy, với hàng hóa công cộng mọi người được tự do hưởng thụ mà không
phải trả bất kỳ một khoản phí nào. Ở đây xuất hiện “kẻ ăn không” - là người tiêu dùng
hàng hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng rất tốn kém nhưng không trả tiền. Vì mục tiêu
lợi nhuận các nhà kinh tế không muốn đầu tư vào việc sản xuất hàng hóa công cộng dẫn
đến tình trạng luôn có sự thiếu hụt hàng hóa công cộng. Đây được xem như một dạng thất
bại của nền kinh tế thị trường.
2.3.4. Thông tin không hoàn hảo (incomplete information)
Nếu người tiêu dùng không có thông tin chính xác về giá thị trường hoặc chất
lượng sản phẩm thì hệ thống thị trường sẽ hoạt động không có hiệu quả. Việc thiếu thông
tin có thể làm cho người sản xuất cung cấp quá nhiều một vài loại sản phẩm và quá ít các
sản phẩm khác. Hoặc cũng do thiếu thông tin, một số người tiêu dùng có thể không mua
sản phẩm mặc dù họ sẽ được lợi nếu mua hàng hóa đó, khi đó một số người tiêu dùng
khác lại mua sản phẩm khiến họ bị thiệt. Ví dụ, trong thị trường y tế, bác sỹ (người bán)
thường có nhiều thông tin về bệnh tật, thuốc men hơn người bệnh (ngươi mua). Chính vì
điều này, một số bác sỹ thường lợi dụng sự am hiểu thông tin không đầy đủ của bệnh
nhân để mưu lợi cá nhân. Đây chính là loại thất bại thị trường do thiếu thông tin, gây thiệt
hại cho người tiêu dùng.
Ông Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Công Thương, nhận xét tình hình buôn lậu và

- Điều tiết giá cả: Mục tiêu của nó là giảm giá bán sản phẩm của hãng độc quyền, Chính
phủ phải lựa chọn một trong ba mục tiêu sau:
+ Hiệu quả giá cả đạt được khi giá cả phản ánh chi phí biên, tức là đặt giá trần P
B
=MC.
Nhưng mức sản lượng thu được nhà độc quyền thua lỗ, Chính phủ phải bù lỗ.
+ Hiệu quả sản xuất đạt được khi giá cả phản ánh tổng chi phí bình quân tối thiểu
(ATC
min
). Điều này là phi thực tế
+ Sự công bằng đạt được khi giá cả phản ánh tổng chi phí bình quân (P
c
=ATC). Khi đó
hãng độc quyền chỉ thu được một khoản lợi nhuận bình thường nên không có động lực
thúc đẩy kinh doanh.
- Điều tiết sản lượng: Chính phủ quy định mức sản lượng tối thiểu mà hãng độc quyền
phải sản xuất
Các hình thức hợp tác giữa các công ty hoặc của một công ty đơn lẻ nhằm tối đa hóa
lợi nhuận trên thị trường đang diễn ra ngày càng nhiều. Đó cũng là lý do luật cạnh tranh
đang được thông qua ngày càng nhiều trên thế giới với xu hướng ngày càng trừng phạt
nặng hơn đối với các hành vi có hại cho cạnh tranh, làm giảm sự năng động của thị
trường và làm méo mó quan hệ cung cầu.Và 1/7/2005 theo tờ trình của Chính phủ, sự cần
thiết tạo công cụ pháp lý hạn chế cạnh tranh không lành mạnh đảm bảo sự công bằng,
bình đẳng trong kinh doanh, Luật Cạnh tranh chính thức có hiệu lực.
Luật cạnh tranh quy định các hành vi gây hạn chế cạnh tranh bị cấm như: Thỏa thuận
ấn định giá, phân chia thị trường lạm dụng vị thế độc quyền, vị trí thống lãnh thị trường
(chiếm trên 30% thị phần)…để áp đạt giá mua, bán bất hợp lý. Tuy nhiên, trên thực tế, vụ
Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thống nhất mức chi phí bảo hiểm len 3.95%/năm cho tất cả
các đối tượng khách hàng…Theo luật cạnh tranh, những doanh nghiệp tham gia “liên
minh làm giá” này sẽ bị phạt tối đa 10% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm

theo chiều hướng và nhận thức chung của thế giới trong thời đại toàn cầu hóa mà Việt
Nam bắt đầu tích cực tham dự sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO). Thí
dụ, các hàng xuất khẩu nông nghiệp và công nghiệp ở một số nước gần đây đã bị trả về
hoặc thu hồi do sự kém chất lượng, tác hại vào môi trường và an toàn sức khỏe.
Khuynh hướng hiện nay là để nâng cao chất lượng cho sản phẩm và thương hiệu
của mình trong nước và ngoài nước, các doanh nghiệp vì thế đã dần áp dụng tiêu chuẩn
quốc tế tối thiểu về bảo vệ môi sinh, bảo đảm an toàn trong quá trình sản xuất từ vật liệu
đến sản phẩm sau cùng, thậm chí sao cho sản phẩm cuối đời có thể được tái chế hay dễ
được sinh hủy không gây ô nhiễm đến môi trường. Ngoài luật trong nước liên quan đến
môi trường mà các doanh nghiệp sản xuất phải tuân theo, vai trò của chính phủ trong lĩnh
vực kinh tế là tạo ra một môi trường cạnh tranh với các cơ chế khuyến khích áp dụng tiêu
chuẩn sản xuất phù hợp, các dịch vụ môi trường và sự xử dụng các kỷ thuật bảo vệ môi
sinh và an toàn sản phẩm có sức mạnh cạnh tranh trong và ngoài nước.
Hiện nay trong khu vực ASEAN, một số nước như Thái Lan, Mã lai, Singapore, bắt đầu
áp dụng hệ thống chuẩn nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm, ít tác hại vào môi trường
và an toàn cho lao động trong quá trình sản xuất, thu hoạch, chế biến nông phẩm. Dự định
trong tương lai gần, ASEAN sẽ đề ra tiêu chuẩn chung gọi là ASEANGAP dựa vào các
chuẩn đang được thực hiện ở các nước trên. Chính phủ Việt Nam vì thế nên đề ra một
chuẩn tương tự và khuyến khích các doanh nghiệp trong nước áp dụng để sửa soạn cho
sản phẩm của mình có chất lượng cao về độ an toàn, không tác hại vào môi sinh và sức
khỏe con người. Áp dụng được chuẩn này sẽ giúp cho nông dân và doanh nghiệp tạo ra
được các sản phẩm có sức cạnh tranh tốt vào thị trường thế giới, nhất là ở các thị trường
có tiêu chuẩn cao như Nhật, Mỹ và Âu Châu. Không những sản phẩm có sức cạnh tranh
về chất lượng mà giá thành và rủi ro sẽ được giảm nhiều và tạo được tiếng tốt cho thương
hiệu của các doanh nghiệp áp dụng chuẩn GAP. Đây không phải vì luật pháp bắt buộc mà
là sự sống còn của thương hiệu và của chính doanh nghiệp.
2.3.3 Đối với vấn đề hàng hóa công cộng
Chính phủ có thể sử dụng giải pháp dùng sự lựa chọn công cộng.
Tính không hiệu quả khi khu vực tư nhân cung cấp hàng hóa công cộng
Cây cầu - một ví dụ về hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá nhưng điều đó là

ABE. Thế nhưng nếu hàng hóa được cung cấp miễn phí thì sẽ có Qm người sử dụng chứ
không phải Qo. Trong trường hợp này lợi ích biên (chính là đường cầu) nhỏ hơn chi phí
biên c nên xã hội cũng bị tổn thất một lượng phúc lợi bằng diện tích hình tam giác EFQm
do tiêu dùng quá mức. Trong trường hợp này chính phủ muốn quyết định xem nên cung
cấp hàng hóa công cộng miễn phí hay thu phí cần phải so sánh tổn thất phúc lợi xã hội,
nếu tổn thất do tiêu dùng quá mức nhỏ hơn tổn thất trong trường hợp tiêu dùng dưới mức
hiệu quả thì cung cấp miễn phí và ngược lại. Tuy nhiên việc cung cấp hàng hóa cộng
cộng miễn phí hay thu phí hoàn toàn không liên quan đến khu vực công cộng hay khu
vực tư nhân sẽ sản xuất nó. Nếu chính phủ thấy rằng một hàng hóa công cộng nào đó cần
được cung cấp miễn phí thì chính phủ hoàn toàn có thể đặt hàng khu vực tư nhân sản xuất
rồi cung cấp nó.
2.3.4 Thông tin không hoàn hảo
Bộ Công Thương, ngày 20-9-2008, có công văn số 8698/BCT-QLTT gửi UBND,
Ban chỉ đạo 127 các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về thực hiện ý kiến chỉ đạo
của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về phòng chống gian lận trong kinh doanh xăng,
dầu, phân bón và vật tư nông nghiệp. Công văn nêu rõ, Bộ Công Thương yêu cầu UBND,
Ban 127 tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện khẩn trương công tác quy hoạch hệ thống phân
phối, đại lý, cơ sở bán lẻ và các cơ sở dịch vụ kinh doanh xăng, dầu trên toàn tỉnh, tạo lập
cơ chế hoạt động để hệ thống này có khả năng tự kiểm soát được chất lượng và số lượng
sản phẩm từ khâu nhập khẩu, chế biến, phân phối, đại lý đến khâu bán lẻ cho người tiêu
dùng. Ban chỉ đạo 127 địa phương chỉ đạo các lực lượng chức năng tiếp tục triển khai
thực hiện phương án 14/PA-BCÐ ngày 8-7-2008 của Ban chỉ đạo 127 Trung ương, xây
dựng kế hoạch kiểm tra cụ thể đối với tất cả các cơ sở kinh doanh xăng, dầu trong phạm
vi toàn tỉnh, đặc biệt chú ý gian lận thương mại về đo lường - chất lượng trong kinh
doanh xăng, dầu. Chỉ đạo sở công thương rút giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh
đối với các trạm, cửa hàng bán lẻ xăng, dầu có hành vi gian lận thương mại, trường hợp
có dấu hiệu tội phạm phải lập hồ sơ chuyển cơ quan pháp luật xử lý. Khẩn trương thực
hiện công tác quy hoạch hệ thống phân phối, đại lý, cửa hàng bán lẻ phân bón và vật tư
nông nghiệp, tạo lập cơ chế hoạt động để bảo đảm hệ thống có khả năng tự kiểm soát
chống hàng giả, hàng kém chất lượng thâm nhập vào hệ thống. Chỉ đạo các lực lượng

khi định giá cho các dịch vụ của mình. Trong quá trình phi điều tiết ngành vận tải, Quốc
hội cuối cùng đã xóa bỏ hai cơ quan điều tiết kinh tế cơ bản là: ủy ban thương mại liên
tiểu bang được thành lập trước đó 109 năm và Cục hàng không dân dụng được thành lập
trước đó 45 năm
Sau khi chính phủ bãi bỏ kiểm soát, các hãng hàng không đã cất cánh tìm đường
cho mình trong một môi trường mới, ít chắc chắn hơn. Các đối thủ cạnh tranh mới nổi
lên, thường tuyển dụng các phi công và công nhân lương thấp không thuộc nghiệp đoàn
và đưa ra các dịch vụ rẻ, “không rườm rà”. Các công ty lớn, vốn quen với việc được
chính phủ đặt giá vé sao cho có thể bảo đảm cho họ trang trải được toàn bộ chi phí của
mình, cảm thấy áp lực nặng nề trước cuộc cạnh tranh. Một số hãng đã thất bại, trong đó
bao gồm cả Pan American World Airways, một hãng mà đối với nhiều người Mỹ được
coi là đồng nghĩa với kỷ nguyên du lịch bằng máy bay của hành khách, và Eastern
Airlines, là hãng mà mỗi năm chuyên chở nhiều hành khách nhất so với tất cả các hãng
hàng không khác của Mỹ. United Airlines, hãng hàng không lớn nhất của quốc gia, gặp
rắc rối và được cứu thoát khi chính các công nhân của nó đồng ý mua lại.
Các khách hàng cũng bị ảnh hưởng. Nhiều người cảm thấy hoang mang trước sự nổi lên
của các công ty mới và trước những lựa chọn dịch vụ mới. Những thay đổi về giá vé cũng
làm họ bối rối - và không phải khi nào cũng đúng sở thích của một số khách hàng. Các
hãng độc quyền và các hãng bị điều tiết nói chung đều đặt ra những giá vé chỉ nhằm bảo
đảm cho họ đáp ứng được nhu cầu thu nhập toàn bộ, chứ không quan tâm nhiều đến việc
liệu mỗi dịch vụ riêng lẻ có thu đủ để trang trải cho chính nó hay không. Khi ngành hàng
không bị điều tiết, giá vé của các tuyến xuyên quốc gia hoặc các tuyến đường dài khác
cũng như dịch vụ cho các vùng thành phố lớn thường được đặt cao hơn rất nhiều so với
chi phí thực tế của các tuyến bay đó, trong khi giá vé của các tuyến ngắn hơn có chi phí
cao hơn và các chuyến bay tới những vùng thưa dân cư lại được đặt thấp hơn chi phí cung
cấp các dịch vụ đó. Với chính sách phi điều tiết, hệ thống giá như vậy bị xóa bỏ một
phần, khi các đối thủ cạnh tranh nhỏ nhận ra họ có thể kinh doanh thắng lợi bằng cách tập
trung vào những thị trường lớn có nhiều khả năng sinh lợi, nơi có giá vé cao một cách giả
tạo
Khi các hãng hàng không lớn cắt giảm giá để đối phó lại thách thức này, họ

tài chính thì người gửi không có gì phải lo lắng. Cơ quan bảo hiểm ngân hàng của chính
phủ, còn gọi là Công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang, thanh toán hết cho người gửi bằng
quỹ bảo hiểm được hình thành từ tiền đóng bảo hiểm của chính các ngân hàng. Nếu cần
thiết, chính phủ cũng sẽ sử dụng thu nhập từ thuế nói chung để bảo vệ người gửi khỏi mất
mát. Để bảo vệ cho chính phủ khỏi bị rủi ro quá mức về tài chính, các cơ quan điều tiết
giám sát các ngân hàng và ra lệnh điều chỉnh hoạt động nếu thấy ngân hàng đang mạo
hiểm quá mức.
Chính sách mới của thời kỳ những năm 1930 cũng tăng cường các quy định nhằm
ngăn cản ngân hàng lao vào các hoạt động kinh doanh bảo hiểm và chứng khoán. Trước
cuộc Đại khủng hoảng, nhiều ngân hàng gặp rắc rối vì họ tham gia quá mạo hiểm vào thị
trường chứng khoán hoặc cung cấp các khoản vay cho các doanh nghiệp công nghiệp mà
trong đó các giám đốc hoặc cán bộ ngân hàng cũng đầu tư với tính chất cá nhân. Kiên
quyết tránh điều đó lặp lại, các nhà chính trị thời kỳ Đại khủng hoảng đã thông qua Đạo
luật Glass-Steagall cấm pha trộn hoạt động ngân hàng với kinh doanh bảo hiểm và chứng
khoán. Tuy nhiên, chính sách điều tiết này đã gây tranh cãi vào thập kỷ 1970, khi các
ngân hàng than phiền rằng họ sẽ bị mất khách hàng vào tay các công ty tài chính khác
nếu họ không đa dạng hóa các dịch vụ tài chính.
Chính phủ đáp ứng lại bằng cách cho phép ngân hàng có quyền tự do hơn trong
việc đưa ra các hình thức dịch vụ tài chính mới cho khách hàng. Sau đó, vào cuối năm
1999, Quốc hội thông qua Đạo luật hiện đại hóa dịch vụ tài chính năm 1999 thay thế Đạo
luật Glass-Steagall. Luật mới này mở rộng đáng kể quyền tự do mà các ngân hàng đang
được hưởng để cho phép chúng đưa ra mọi dịch vụ từ vay gửi của khách hàng cho đến
bao tiêu phát hành chứng khoán. Nó cho phép ngân hàng, các công ty chứng khoán và
công ty bảo hiểm hình thành những tập đoàn có đủ khả năng cung cấp cho thị trường
nhiều sản phẩm tài chính bao gồm quỹ tín dụng, cổ phiếu và hối phiếu, bảo hiểm và các
khoản vay nợ của ngành sản xuất ô tô. Cũng như luật phi điều tiết ngành giao thông vận
tải, viễn thông và các ngành công nghiệp khác, luật mới này được hy vọng cũng sẽ tạo ra
làn sóng hợp nhất giữa các tổ chức tài chính.
Nhìn chung, luật pháp thời Chính sách mới là thành công và người Mỹ đã khôi
phục lành mạnh hệ thống ngân hàng vào những năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

phóng khỏi một số thủ tục điều tiết quy định mức vốn mà các tổ chức tín dụng S&L phải
duy trì.
Do lo sợ bị thu hẹp nên các tổ chức tín dụng S&L đã mở rộng sang các hoạt động
có rủi ro cao như đầu cơ bất động sản. Trong rất nhiều trường hợp, những hoạt động kinh
doanh như vậy đã chứng tỏ không có lãi, đặc biệt khi các điều kiện kinh tế trở nên bất lợi.
Thực vậy, một số tổ chức S&L đã bị những người không trung thực tiếp quản, họ là
những kẻ chiếm đoạt. Nhiều tổ chức S&L bị thua lỗ lớn. Chính phủ đã chậm phát hiện ra
cuộc khủng hoảng này do sự khan hiếm ngân sách cùng với các áp lực chính trị làm chùn
bước bộ máy điều tiết.
Cuộc khủng hoảng tín dụng S&L trong một vài năm đã nhanh chóng trở thành vụ
bê bối tài chính quốc gia lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Đến cuối thập kỷ 1980, rất
nhiều tổ chức tín dụng S&L rơi vào tình trạng không trả được nợ; khoảng một nửa số tổ
chức S&L đã từng hoạt động vào năm 1970 thì đến năm 1989 không còn tồn tại. Chính
Công ty bảo hiểm tiền gửi và cho vay liên bang, cơ quan bảo hiểm tiền gửi, cũng rơi vào
tình trạng không trả được nợ. Năm 1989, Quốc hội và Tổng thống đã đồng ý thông qua
một giải pháp bảo lãnh tài chính cho những người đóng thuế, còn gọi là Đạo luật cải cách,
khôi phục và cưỡng chế các tổ chức tài chính (FIRREA). Đạo luật này cung cấp 50 tỷ
USD để đóng cửa các tổ chức S&L bị đổ bể, thay đổi hoàn toàn bộ máy điều tiết các tổ
chức tiết kiệm và đặt ra các điều kiện đầu tư mới. Một cơ quan mới của chính phủ với tên
gọi là Tổ chức thanh lý quỹ tiết kiệm phá sản (RTC) được thành lập để thanh lý các tổ
chức tín dụng không trả được nợ. Tháng Ba 1990, một khoản tiền 78 tỷ USD khác được
rót cho RTC. Nhưng ước tính chi phí toàn bộ để thanh toán nợ của các tổ chức S&L còn
tiếp tục leo thang tới mức 200 tỷ USD.
Người Mỹ đã rút ra rất nhiều bài học từ kinh nghiệm điều tiết hoạt động ngân hàng
sau chiến tranh. Thứ nhất, bảo hiểm tiền gửi của chính phủ bảo vệ người gửi tiền và giúp
duy trì ổn định hệ thống ngân hàng bằng cách giảm nguy cơ người gửi tiền ồ ạt rút tiền
khỏi ngân hàng. Thứ hai, việc kiểm soát tỷ lệ lãi suất là không có tác dụng. Thứ ba, chính
phủ không nên điều khiển trực tiếp những khoản đầu tư nào mà ngân hàng thấy nên tiến
hành; tốt hơn hết các khoản đầu tư nên được xác định dựa trên cơ sở các lực lượng thị
trường và giá trị kinh tế. Thứ tư, việc ngân hàng cho vay đối với những người trong ngân

Thứ nhất, phân tích chúng ta dựa trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo. song trong thực
tế, sự cạnh tranh nhiều khi không hoàn hảo. Trong một số thị trường, một người bán hoặc
một người mua duy nhất (hoặc một nhóm nhỏ trong số họ) có thể kiểm soát giá thị
trường. Khả năng tác động đến giá cả này gọi là sức mạnh thị trường. Sức mạnh thị
trường có thể làm cho thị trường không có hiệu quả vì nó giữ cho giá và lượng hàng hóa
cách xa trạng thái cung cầu.
Hai là, phân tích của chúng ta dựa trên giả định là kết cục trên một số thị trường chỉ có
ý nghĩa đối với người mua và người bán trên thị trường đó. Song trên thực tế, các quyết
địnhcủa người bán và người mua đôi khi ảnh hưởng tới những người hoàn toàn không
tham gia vào thị trường. Những hiệu ứng phụ như vậy gọi là ảnh hưởng ngoại biên. Nó
làm cho phúc lợi thu được từ một thị trường phụ thuộc vào nhiều thưc khác, chức không
phải chỉ có giá trị đối với người bán và chi phí của người mua. Vì người mua và người
bán không tính đến những hiệu ứng phụ này khi đưa ra quyết định sản xuất và tiêu dùng,
nên trạng thái cân bằng trên một thị trường có thể không có hiệu quả nếu xem xét trên
quan điểm xã hội.
Mặc dù thị trường có thể thất bại, nhưng bàn tay vô hình của thị trường vẫn có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng.
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Christopher Conte (2/2001). Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ
ngoại giao Hoa Kỳ. Báo Wall Street Journal Albert R. Karr.
2. http://tailieutonghop.com/free/nhung-khiem-khuyet-thi-truong-hien-nay-va-bien-
phap-khac-phuc-cua-chinh-phu_f95-2503.html
3. Nguyễn Văn Ngọc (2010). Bài Giảng Nguyên lý kinh tế vi mô. NXB Đại học Kinh
tế quốc dân.
4. TS. Trần Văn Đức, ThS. Lương Xuân Chính (2006). Giáo Trình Kinh tế học vi
mô. NXB Nông Nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status