Tiểu luận “Tìm hiểu bệnh heo tai xanh và phương pháp phòng và trị bệnh” pot - Pdf 12

Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
MỤC LỤC
TRANG
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 2
Phần II: NỘI DUNG 3
1. Lịch sử bệnh 3
2. Nguyên nhân gây bệnh 3
2.1.Đặc điểm của virus 4
2.2.Cách sinh bệnh 5
3. Tình hình dịch bệnh trong nước và trên thế giới 6
3.1.Trong nước 6
3.2.Trên thế giới 7
4. Triệu chứng 8
5. Bệnh tích 9
6. Chuẩn đoán 10
6.1. Nghi ngờ 10
6.2. Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm 11
7. Phòng bệnh 11
7.1Vệ sinh phòng bệnh 11
7.2.Tiêm phòng vacxin 11
7.3.Các nguyên tắc phòng bệnh 12
8. Điều trị 16
Phần III: KẾT LUẬN- ĐỀ NGHỊ 16
1. Kết luận 16
2. Đề nghị 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống của nông dân. Lợn là loài vật
nuôi có khả năng lợi dụng tốt các phụ phẩm công, nông nghiệp, có khả năng sinh

nhất trí và công nhận bệnh bí hiểm này là hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở
heo(PRRS)
ỞViệt Nam, bệnh được phát hiện vào năm 1997 trên đàn heo nhập từ Mỹ.
Ngày nay, hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo đã lây lan ra nhiều nơi trên
thế giới, trở thành dịch địa phương ở các nước có ngành chăn nuôi heo phát triển và
hàng năm gây ra những tổn thất kinh tế rất lớn
2.Nguyên nhân gây bệnh: [7]
- Do virus có tên “Lelystad virus” thuộc họ Arteriviridae gây ra,
Virus PRRS được phân lậpđầu tiên vào mùa xuân năm 1991 tại viện thú y ở
Lelystad- Hà Lan và trong khoảng thời gian ngắn sau đó phòng thí nghiệm ở Mỹ
cũng phân lập được virus này.
Do virus được phân lập từ ổ dịch Lelystad nên gọi là virus Lelystad và bây giờ gọi
là virus PRRS virus- PRRSV thuộc thành viên của gia đình Arteriviridae, giống
Nidovirales.
Người ta đã phát hiện được hai type chính của virus này là:
3
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
+ Type I là các virus Châu Âu ( virus Lelystad)
+ Type II gồm các virus Bắc Mỹ
Thông thường các virus này không gây ra tỷ lệ chết cao. Gần đây, qua nghiên cứu
qui mô lớn tại Trung Quốc người ta đã xác định rằng virus gây bệnh PRRS tại
Trung Quốc có khả năng là do virus PRRS type II, thể cường độc gây ra.
Virus này không lây nhiễm ở người
2.1 Đặc điểm của virus:[5]
- Virus không nhân lên trong động vật không xương sống. Virus rất thích hợp với
đại thực bào đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở vùng phổi. Bình thường đại thực
bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể, riêng đối với virus
PRRS thì virus có thể nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại
thực bào (tới 40%). Do vậy, khi xuất hiện trong đàn, chúng thường có xu hướng
duy trì sự tồn tại và hoạt động âm thầm. Đại thực bào bị giết chết sẽ làm giảm chức

0
C sống được 48 giờ; ở 56
0
C trong 60-90 phút
virus bị vô hoạt.
- Virus đề kháng kém (nhạy cảm) đối với pH acid và các chất sát trùng, dễ bị huỷ
diệt bổi tia UV.
2.2. Cách sinh bệnh:[5]
- Heo là vật chủ duy nhất. Sự cảm nhiễm qua đường hô hấp hay qua đường gieo
tinh nhân tạo. Ở heo virus tấn công vào đại thực bào( đặc biệt là đại thực bào vùng
phổi) sẽ làm làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể. Thông thường đại
thực bào có chức năng tiêu diệt virus xâm nhập vào cơ thể, riêng đối với hội chứng
hô hấp và sinh sản ở heo, virus gia tăng trong đại thực bào, sau đó phá hủy và giết
chết đại thực bào (40%). Do vậy, khi virus xuất hiện trong đàn heo, chúng có xu
hướng duy trì sự tồn tại và hoạt động âm thầm và khi đáp ứng miễn dịch ở cơ thể
heo suy giảm thì heo dễ dàng bị nhiễm các bệnh thứ phát. Những con trưởng thành
thường được phục hồi và phát triển hệ thống miễn dịch, nhưng đối với heo con sẽ
5
Mô hình cấu trúc Lelystad virus
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
bị tiêu diệt nhanh chóng khi virus tấn công kết hợpvới nhiễm trùng thứ phát các tác
nhân gây bệnh khác như: dịch tả, tụ huyết trùng, phó thương hàn, E.coli,
streptococus suis, Mycoplasma, Samonella tai của heo xuất hiện màu xanh là do
nhiễm trùng thứ cấp.
- Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùng máu),
phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường. Heo trưởng thành có thể bài thải virus
trong vòng 14 ngày trong khi đó heo con và heo choai bài thải virus tới 1-2 tháng.
Virus có thể phát tán thông qua các hình thức: vận chuyển heo mang trùng, theo gió
(có thể tới 3 km), bụi, nước bọt, dụng cụ chăn nuôi và dụng cụ bảo hộ lao động
nhiễm trùng, thụ tinh nhân tạo và có thể do một số loài chim hoang.

Từ năm 2005 trở lại đây, 27 nước và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục (từ
châu Đại Dương) trên thế giới đã báo cáo cho Tổ chức Thú y thế giới khẳng định
phát hiện có bệnh Tai xanh lưu hành.
- Hiện nay, hội chứng này đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới,
kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan, Đan Mạch,
Anh, Pháp, Đức và đã gây ra những tổn thất rất lớn về kinh tế cho người chăn
nuôi lên đến hàng trăm triệu đô la. Ví dụ: hàng năm Mỹ phải chịu tổn thất cho bệnh
tai xanh gây ra khoảng 560 triệu USD. Các nước trong khu vực có tỷ lệ bệnh tai
xanh lưu hành rất cao, ví dụ: ở Trung Quốc là 80%. Đài Loan là 94,7% - 96,4%,
Philippine là 90%, Thái Lan là 97%, Malaysia là 94%, Hàn Quốc là 67,4% -
73,1%.
- Tại Trung Quốc: Theo báo cáo của đoàn chuyên gia quốc tế và chuyên gia của
Trung Quốc đã được phát hành vào tháng 12/2007, kể từ năm 2006, đàn lợn của
Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi "Hội chứng sốt cao ở lợn" do nhiều
nguyên nhân, trong đó chủ yểu là virus PRRS và các loại mầm bệnh này đã làm
hàng triệu lợn bị ốm, chết và phải tiêu hủy. Kết quả nghiên cứu toàn diện của
Trung Quốc đã khẳng định chủng virus PRRS gây bệnh tại nước này là chủng độc
lực cao, đặc biệt có sự biến đổi của virus (thiếu hụt 30 acid amin trong gien). Năm
2007, các tỉnh Anhui, Hunan, Guangdong, Shandong, Liaoning, Jilin và một số tỉnh
7
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
khác bị ảnh hưởng nặng buộc Trung Quốc phải tiêu hủy tới 20 triệu lợn để ngăn
chặn dịch lây lan.
Trước diễn biến phức tạp của dịch tai xanh, Bộ Nông nghiệp Trung Quốc đang
thực hiện chương trình phòng chống bệnh rất quy mô, riêng chương trình nghiên
cứu, sản xuất vác xin đã được cam kết chi khoảng 280 triệu Nhân dân tệ tương
đương với 36,5 triệu USD.
- Tại Hồng Kông và Đài Loan đã xác định có cả hai chủng Châu Âu và Bắc Mỹ
cùng lưu hành, đặc biệt trong cùng một con lợn ở Hồng Kông đã xác định nhiễm cả
hai chủng nêu trên; dịch tai xanh cũng được thông báo ở Thái Lan từ các năm 2000

8
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
thai gỗ, chết lưu trong giai đoạn 3 tuần cuối trước khi sinh, ở một vài đàn con số
này có thể tới 30% tổng số lợn con sinh ra. Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở
tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8
tháng trước khi trở lại bình thường. Ảnh hưởng dài lâu của PRRS tới việc sinh sản
rất khó đánh giá, đặc biệt với những đàn có tình trạng sức khoẻ kém. Một vài đàn
có biểu hiện tăng số lần phối giống lại, sảy thai.
Ảnh hưởng của PRRS tới sản xuất như sau: Tỷ lệ sinh giảm 10-15% (90% đàn trở
lại bình thường), giảm số lượng con sống sót sau sinh, tăng lượng con chết khi sinh,
lợn hậu bị có thể sinh sản kém, đẻ sớm, tăng tỷ lệ sảy thai (2-3%), bỏ ăn giai đoạn
sinh con.
- Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính
dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn con sinh ra nhỏ.
- Lợn con theo mẹ: Thể trạng gầy yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt đường
huyết do không bú được, mắt có dử màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy
nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi
ra, đi run rẩy,
- Lợn con cai sữa và lợn choai: Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ, tuy nhiên, ở một
số đàn có thể không có triệu chứng. Ngoài ra, trong trường hợp ghép với bệnh khác
có thể thấy viêm phổi lan toả cấp tính, hình thành nhiều ổ áp-xe, thể trạng gầy yếu,
da xanh, tiêu chảy, ho nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, thở nhanh, tỷ lệ chết có thể tới
15%.
Biểu hiện cấp hay mạn tính tùy thuộc: nhiễm lần đầu hay lần sau, sức đề kháng của
đàn heo, sự biến đổi của virus…
5.Bệnh tích:
9
Heo chết do bi bệnh tai xanh
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
Virus xâm nhập vào cơ thể lợn qua niêm mạc đường hô hấp và sinh dục, qua tiếp

lâm sàng không thể hiện rõ. Tinh dịch của lợn có mang virus, có thể truyền virus
cho lợn cái khi sử dụng tinh dịch để phối giống.tổ chức dịch hoàn, túi chứa tinh của
lợn đực bị viêm tụ huyết.
6.Chẩn đoán:
6.1Nghi ngờ khi:
- Tỷ lệ heo chết lúc sinh: 20%
- Tỷ lệ sảy thai: 8%
- Tỷ lệ heo con chết trước khi cai sữa: 26%.
Nhưng sự đa dạng về triệu chứng lâm sàng dẫn đến khó chẩn đoán, có thể lầm lẫn
với một số bệnh đường hô hấp, hay các bệnh đỏ ở lợn như:
- Dịch tả lợn.
- Đóng dấu lợn.
- Phó thương hàn lợn.
- Tụ huyết trùng lợn.
6.2.Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm (chính xác):
- Việc phân lập virus gặp nhiều khó khăn, có thể dùng đại thực bào tiểu phế nang
heo hay dòng tế bào CL 2621 để nuôi cấy. Có thể gặp bệnh tích tế bào trong
khoảng 12 giờ nhưng không phải virus luôn mọc tốt trên cả hai hệ thống.
- Có thể dùng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang gián tiếp để phát hiện virus trong
bệnh phẩm phổi và lách, kiểm tra kháng thể IgM trong 5-28 ngày sau khi nhiễm và
kiểm tra kháng thể IgG trong 7-14 ngày sau khi nhiễm. Miễn dịch Peroxidase nhờ
dùng kháng thể từ Protein virus của nucleocapside. phản ứng polymerase PCR
(polymerase chain reaction) phân tích mẫu máu (được lấy trong giai đoạn đầu của
pha cấp tính) để xác định sự có mặt của virus, đây là phản ứng tương đối nhạy và
chính xác.
11
Tiêm phòng vacxin cho heo
Khoanh vùng tiêu độc khử
trùng
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn

Thực hiên theo các quy định trong Pháp lệnh Thú y và Nghị đinh 33/2005/NĐ-CP
ngày 15/3/2005 hướng dẫn thực hiện một số điều trong Pháp lệnh Thú y năm 2004.
Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch các cấp và phân công nhiệm vụ cho các
ban ngành liên quan.
b.Tăng cường giám sát phát hiện bệnh:
Tại các trang trại cần giám sát lâm sàng, sử dụng định nghĩa ca bệnh lâm sàng sau:
- Heo sốt cao trên 40
0
C, khó thở.
- Có những vết bầm, thâm tím trên da, một số trường hợp tai tím xanh lại.
- Heo ở các lứa tuổi khác nhau đều có thể mắc bệnh.
- Khi phát hiện trường hợp nghi ngờ cần tiến hành lấy mẫu xét nghiệm theo yêu
cầu sau:
+ Đối với mẫu máu: Lấy 2ml máu (chắt lấy 1 ml huyết thanh) từ ít nhất 5
con heo đang bị sốt (khoảng 38-40
0
C); bảo quản trong thùng bảo ôn có đá lạnh và
gửi về cho phòng thí nghiệp trong vòng 24 giờ.
+ Đối với gia súc chết: Nếu mổ khám thì lấy mẫu bệnh phẩm là phổi, hạch
lâm ba xuất huyết hoặc hạch Amigdan. Nếu không mổ khám thì lấy hạch lâm ba
vùng bẹn. Mỗi loại bệnh phẩm, lấy mẫu kích thước bằng2 đầu ngón tay cho vào túi
nylon, để vào thùng có đá lạnh và gửi về phòng thí nghiệm trong vòng 24 giờ. Nếu
không thể gửi mẫu về trong ngày thì cần đông lạnh ở nhiệt độ -20
0
C (cho vào ngăn
đá của tủ lạnh), khi vận chuyển cần cho vào thùng lạnh có đá.
c. Xử lý ổ dịch
*. Đối với vùng mới xẩy ra dịch:
13
MỘT SỐ LOẠI VACXIN PHÒNG BỆNH HEO TAI XANH

+ Hố chôn phải đủ rộng phù hợp với số gia súc, chất thải cấn chôn, ví dụ nếu
cấn chôn 1 tấn gia súc (15-30 con heo) thì hố chôn cần có kich thứơc là: sâu 1,5 – 2
m x rộng 1,5 – 2 m x dài 1,5 – 2 m.
+ Trình tự chôn: sau khi đào hố, rải một lớp vôi bột xuống đáy hố (1kg/m2),
đổ bao chứa xác gia súc xuống hố, phun sát trùng bằng chlorin hoặc rắc vôi bột lên
trên, lấp đất, phải đảm bảo rằng lớp đất phủ lên xác
heo phải dày ít nhất là 1 m. Phun sát trùng khu vực
14
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
chôn lấp để hoán tấtquá trình tiêu huỷ Hạn chế người ra, vào vùng dịch, những
người tham gia chống dịch (ví dụ như người điều trị gia súc ốm) trước khi ra khỏi
vùng dịch phải sát trùng cá nhân, tránh làm lây lan dịch. Phun thuốc sát trùng các
phương tiện ra vào vùng dịch.
- Cử người có trách nhiệm canh giữ hố chôn gia súc, tránh những người lợi dụng
đào bới lấy xác gia súc làm mần bệnh lây lan.
- Tránh gia súc đào bới xác.
- Khi hố chon có mùi phải bơm thuốc sát trùng, phủ một lớp đất dày trên hố ủ và
nện chặt.
- Tiến hành vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, khu vực chăn nuôi, lối ra vào.
*. Đối với những địa phương dịch đã lây lan trên diện rộng:
- Thực hiện các biện pháp phòng chống dịch quyết liệt và đồng bộ theo chỉ đạo của
Ban chỉ đạo phòng chống dịch cấp tỉnh như:
+ Bao vây chặt chẽ ổ dịch, duy trì hoạt động của các trạm, chốt kiểm dịch đã
lập ở các trục giao thông chính và lập bổ sung các trạm, chốt kiểm dịch mới nếu
cần thiết; lập biển báo nơi có dịch; phun thuốc sát trùng phương tiện vận chuyển ra
vào vùng dịch.
+ Cấm đưa heo, sản phẩm heo ra, vào vùng dịch khi chưa công bố hết dịch;
cấm bán thịt heo tại các xã, phường có dịch khi chưa công bố hết dịch.
+ Tiêu huỷ gia súc bệnh nặng.
+ Tiêu độc khử trùng trên phạm vi toàn tỉnh.

- Không vứt xác heo chết bừa bãi.
e. Công bố hết dịch :
Khi hội đủ điều kiện công bố hết dịch, căn cứ Pháp lệnh Thú y và Nghị định
33/2005/NĐ-CP, ngày 15/3/2005 hướng dẫn một số điều trong Pháp lệnh Thú y
2004, Chi cục Thu y đề nghị cấp có thẩm quyền ban hành quyết định công bố hết
dịch
8.Điều trị:
Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này. Phần lớn các điều trị
tăng cường nâng cao sức đề kháng cho tới khi triệu chứng lâm sàng cấp tính lắng
xuống (như vitamin A, C, E, D, acid hữu cơ, và Bêtaglucan, Mannan
oligosaccharide) giúp khôi phục hệ miễn dịch góp phần khống chế bệnh nhanh
16
Tiểu luận: Bệnh tai xanh ở lợn
chóng. Điều trị triệu chứng và chủ yếu ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát (nhưAmicin,
Ampiseptryl…)
Sau đây là một số cách điều trị tham khảo:[3 ]
- Điều trị lợn nái trong giai đoạn chữa cuối bằng antiprostaglandin, axit
acetylsalicylic để giảm sốt và kéo dài việc mang thai trong tháng đầu ổ dịch.
- Điều trị lợn nái bằng cách dùng kháng sinh như Chlortetracycline bổ sung vào
thức ăn trong những tháng đầu tiên của ổ dịch để ngăn cản nhiễm kế phát.
- Phối giống chậm lại ít nhất 21 ngày sau khi đẻ.
- Giảm tỷ lệ nái đẻ trong thời gian bị dịch.
- Không dùng thụ tinh nhân tạo vì số lượng và chất lượng tinh trùng lợn đực giống
mắc bệnh cấp tính có thể bị giảm.
- Đảm bảo đủ sữa đầu cho lợn con sinh ra yếu.
- Điều trị ỉa chảy ở lợn con mới sinh bằng kháng sinh và chất điện giải khi cần
thiết.
- Tiêm sắt, thiến và chặt đuôi lợn chậm lại trong thời gian đàn bị bệnh cấp tính.
- Cung cấp kháng sinh bổ sung cho lợn đang lớn bằng tiêm hoặc trộn thuốc vào
thức ăn, nếu xét thấy có nguy cơ bội nhiễm.

- Tác nhân gây bệnh là virus Lelystad, thuộc nhóm Togavirus, họ Togaviridae
- Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùng máu),
phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường.
- Virus xâm nhập vào cơ thể lợn qua niêm mạc đường hô hấp và sinh dục, qua tiếp
xúc giữa lợn bệnh và lợn khỏe.
- Virus vào máu, đến các phủ tạng của lợn, gây ra các biến đổi bệnh lý cơ quan hô
hấp và sinh sản của lợn Heo có thể chết sau 5-7 ngày sau khi mắc bệnh vì suy
giảm hệ miễn dịch, giống như trường hợp nhiễm HIV ở người
- Bệnh thường xảy ra nhiều ở các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản có quy mô lớn, tập
trung nhiều lợn.
- Bệnh tồn tại và lưu hành lâu trong một cơ sở chăn nuôi lợn khi bệnh đã xảy ra
một lần. Lợn nái và lợn đực có thể mang virus và thải virus sau khi khỏi bệnh trong
khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng.
- Bệnh chỉ lây từ heo sang heo và không lây sang người.Tuy nhiên, bệnh heo tai
xanh dễ bị nhiễm trùng cơ hội trong đó có nhiễm liên cầu khuẩn heo
(Streptococcus suis) typ 1, typ 2. Khi heo đã nhiễm bệnh này thì rất nguy hiểm vì
có thể lây sang người.
- Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Do vậy, khi phát hiện lợn bị bệnh, cần
diệt ngay và tiêu độc triệt để cơ sở có lợn bệnh, hạn chế lây lan trong đàn lợn.Tuy
nhiên có thể phòng bệnh như: tiêm vacxin định kỳ 6 tháng/lần cho đàn lợn ở các cơ
sở chăn nuôi có lưu hành bệnh, kiểm tra huyết thanh bằng phương pháp miễn dịch
(ELISA, IFAT), thực hiện nghiêm túc các biện pháp vệ sinh thú y, phải kiểm tra
huyết thanh học khi xuất nhập lợn đặc biệt là lợn ngoại.
2. Đề nghị:
- Trong quá trình nghiên cứu do thời gian có hạn và năng lực còn hạn chế nên
không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy, cô
cùng các bạn.
- Cần phổ biến kiến thức về bệnh heo tai, cách phòng và điều trị bệnh cho người
dân để công tác phòng trị bệnh có hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status