Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP. HỒ CHÍ MINH
Môn học: LUẬT HÀNH CHÍNH
Đề tài:
QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC GVHD: Ths. Luật sư LÊ MINH NHỰT
NHÓM: 05
1. Nguyễn Thị Quỳnh Anh
2. Lưu Tấn Bảo
3. Lê Thị Cẩm Hằng
4. Hồ Thị Minh Thảo
5. Lê Thị Hồng Thắm
5- Nghị định 35/2005/NĐ-CP Về việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức ngày
17/03/2005 Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 3 I- KHÁI NIỆM CÔNG VỤ, CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1. Công vụ :
Công vụ, nhiệm vụ là những hoạt động mang tính Nhà nước, nhằm thực hiện các
chức năng của Nhà nước, vì lợi ích xã hội, lợi ích Nhà nước, lợi ích chính đáng của
các tổ chức và cá nhân.
Là hoạt động Nhà nước có tính chất thường xuyên, liên tục, do đội ngũ công chức
chuyên nghiệp tiến hành
Cán bộ, công chức khác về cơ bản so với các đối tượng lao động khác trong xã hội vì
họ phải thực hiện những công vụ, nhiệm vụ nhà nước tại các cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị-xã hội, lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp của nhà nước
Các nguyên tắc trong thi hành công vụ
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật
- Bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân
- Công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền và có sự kiểm tra, giám sát
- Bảo đảm tính hệ thống, thống nhất, liên tục, thông suốt và hiệu quả
- Bảo đảm thứ bậc hành chính và sự phối hợp chặt chẽ
1.2. Khái niệm cán bộ, công chức
1.2.1.Cán bộ
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức
danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tổ
Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
những vị trí lãnh đạo, quản lý, vào các
ngạch, bậc khác nhau để thực hiện
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 5
chức chính trị-xã hội các cấp công việc mang tính chuyên môn,
nghiệp vụ
Có khả năng bao quát với tư duy,
năng lực lãnh đạo, quản lý và trình độ
chính trị
Có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
phù hợp với chức vụ, ngạch, bậc, vị trí
việc làm
1.2.2. Công chức:
Căn cứ vào khoản 2 và 3 điều 4 của luật CBCC 2008, công chức được định
nghĩa :
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
Người giữ chức vụ, chức danh cấp phó, trợ lý, thư ký của người đứng đầu và
người làm việc trong văn phòng, cục, vụ, cơ quan thường trực tại thành phố Hồ Chí
Minh, thành phố Đà Nẵng của Văn phòng Trung ương Đảng, cơ quan Ủy ban Kiểm
tra Trung ương và các Ban Đảng ở Trung ương.
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 7
Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy
khối và Đảng ủy ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Người làm việc trong bộ phận giúp việc của cơ quan, tổ chức do Bộ Chính trị,
Ban Bí thư, cơ quan do Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập.
- Ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh):
Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của tỉnh ủy,
thành ủy.
Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của Đảng ủy
khối trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy.
Người làm việc chuyên trách trong văn phòng, ban tổ chức, ban tuyên giáo, cơ
quan ủy ban kiểm tra của Đảng ủy cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở trực thuộc
tỉnh ủy, thành ủy.
- Ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện):
Người giữ chức vụ, chức danh người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu
và người làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy,
quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh.
Công chức trong Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán
Nhà nước :
chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.
Trưởng ban, Phó Trưởng ban, người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và
người làm việc trong các tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ
cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế thuộc Ủy
ban nhân dân.
- Ở cấp huyện:
Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó
Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện
nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân;
Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân.
Công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân :
Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, Phó Chánh án các tòa và
tòa chuyên trách; Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; thư ký tòa án; người làm việc
trong văn phòng, vụ, ban và các tòa, tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân tối cao.
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án, Phó Chánh án
các tòa chuyên trách; Thẩm định Tòa án nhân dân cấp tỉnh; thư ký tòa án; người làm
việc trong văn phòng, phòng, ban và Tòa chuyên trách thuộc Tòa án nhân dân cấp
tỉnh.
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 10
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân
dân cấp huyện; thư ký tòa án; người làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện.
Công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân:
tương đương.
Công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân
Người làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn
vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập :
Đơn vị sự nghiệp công lập nói tại Nghị định này là các tổ chức được cơ quan
có thẩm quyền của Đảng, cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị – xã hội thành lập
và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản,
hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa,
thể dục thể thao, du lịch, lao động – thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và
các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định.
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu; người giữ chức vụ cấp trưởng,
cấp phó tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ.
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 12
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được
ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc các Ban và cơ quan tương đương
của Trung ương Đảng, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán
Nhà nước, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, cơ quan Trung
ương các tổ chức chính trị – xã hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ.
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh
phí hoạt động thuộc Tổng cục, Cục và tương đương trực thuộc Bộ, cơ quan ngang
Bộ; tỉnh ủy, thành ủy; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổ chức chính trị – xã hội cấp tỉnh;
huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện.
công tác theo năng lực, sở trường, ngành nghề chuyên môn của mình và được đảm
bảo các chế độ, chính sách với cán bộ, công chức.
2.1.2 Tuyển dụng công chức:
Tuyển dụng được thực hiện trong trường hợp Nhà nước trao cho công dân một
công vụ, nhiệm vụ thường xuyên tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
Việc tuyển dụng công chức do cơ quan tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tiến hành theo
trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Người được tuyển dụng phải có phẩm chất
đạo đức, đủ tiêu chuẩn và thông quant thi tuyển hoặc xét tuyển.
Điều 36: Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức
1. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần
xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:
a) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 14
b) Đủ 18 tuổi trở lên;
c) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
d) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
đ) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
e) Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;
g) Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.
2. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:
a) Không cư trú tại Việt Nam;
b) Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
c) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong
bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích; đang bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
Điều 37. Phương thức tuyển dụng công chức
1. Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, trừ trường hợp
2.1.3 Sử dụng cán bộ công chức:
Quy chế sử dụng cán bộ, công chức được thực hiện thông qua các quy định về
việc bố trí, phân công công tác, chuyển ngạch, nâng ngạch; đào tạo, bồi dưỡng; điều
động, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, từ chức, miễn nhiệm, luân chuyễn, biệt phái và
việc đánh giá cán bộ, công chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các
nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về việc thi hành Luật cán bộ, công chức
liên quan đến vấn đề này.
2.1.4 Quản lý cán bộ công chức:
Nội dung và thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức trong việc quản lý cán bộ, công
chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước, pháp
luật về cán bộ, công chức và điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
Việc quản lý cán bộ, công chức cũng được quy định trong Luật cán bộ, công chức
(điều 5) Nghị định chung của Chính phủ theo nguyên tắc chung sau đây:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Quản lý cán bộ, công chức là hoạt động
có tầm quan trọng đặc biệt góp phần vào việc nâng cao chất lượng của đội ngũ cán
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 16
bộ, công chức; đồng thời tăng cường hiệu quả thực thi nhiệm vụ, công vụ của cán bộ,
công chức.
- Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước.
- Kết hợp giữa các chức danh, vị trí làm việc và chỉ tiêu biên chế.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân
công, phân cấp rõ ràng.
- Việc sử dụng, đánh giá phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất
chính trị, đạo đức và năng lực hành vi công vụ.
- Thực hiện bình đẳng giới.
Điều 67. Thực hiện quản lý cán bộ, công chức
1. Việc quản lý cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định của Luật này, các
mực, rõ rang, mạch lạc.
* Theo Điều 8 Luật cán bộ, công chức quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối
với Đảng, nhà nước và nhân dân:
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của
nhân dân.
- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước.
Theo Điều 9. Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ gồm:
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 18
- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn được giao.
- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ
quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm
pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước.
- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết
trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao.
- Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là
trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường
hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi
hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành,
đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
d/ Cán bộ, công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học,
tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở,
phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp
luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng
chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 11, 12, 13,14 Luật cán bộ công chức 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008
2.2.3 Quyền hạn của cán bộ, công chức:
Quyền hạn của cán bộ công chức gắn liền với nhiệm vụ, công vụ được giao là
phương tiện quan trọng đển họ thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Do đó, căn cứ vào địa
vị pháp lý của từng đối tượng cán bộ, công chức và chức năng, nhiệm vụ của cơ
quam, đơn vị nơi họ làm việc mà pháp luật quy định quyền hạn của họ là khác nhau
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 20
trong các văn bản pháp luật. Trên cơ sở đó mà cán bộ công chức chỉ được thực hiện
các nhiệm vụ quyền hạn trong khuôn khổ pháp luật quy định. Nếu vượt quá nhiệm
vụ, quyền hạn tức là vi phạm pháp luật, cán bộ công chức phải chịu trách nhiệm pháp
lý.
2.3. Trách nhiệm pháp lý đối với cán bộ, công chức:
- Phát sinh khi có hành vi VPPL hoặc Vi phạm kỷ luật công vụ.
- Cán bộ, công chức có thể phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý với tư cách là
cán bộ, công chức hoặc với tư cách công dân.
Nếu vi phạm với tư cách công dân thì về nguyên tắc họ phải chịu trách nhiệm pháp
lý bình đẳng như công dân khác VPPl.
2.3.1. Trách nhiệm hình sự:
Được áp dụng đối với cán bộ, công chức khi họ thực hiện hành vi vi phạm tội theo
quy định của Bộ luật hình sự.
- Hạ bậc lương;
- Giáng chức;
- Cách chức;
- Buộc thôi việc.
c) Thời hiệu, thời hạn xử lý kỷ luật:
- Thời hiệu xử lý kỷ luật là thời hạn 24 tháng
- Thời hạn xử lý kỷ luật không quá 2 tháng. Trường hợp phức tạp có thể kéo dài
tối đa 4 tháng
d) Tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức
Chương V: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
GVHD: Thạc sĩ LÊ MINH NHỰT Trang 22
đ) Các quy định khác liên quan đến cán bộ, công chức bị kỷ luật.
2.3.4) Trách nhiệm vật chất:
Đây là trách nhiệm bồi thường bằng tiền của cán bộ, công chức cho cơ quan, tổ chức,
đơn vị bị thiệt hại về tài sản do cán bộ, công chức đó làm mất mát, hư hỏng hoặc gây
ra. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối với cán bộ, công chức trong khi chờ đợi văn
bản hướng dẫn mới theo Luật cán bộ, công chức, hiện được thực hiện theo Nghị
định số 118/2006/NĐ-CP ngày 10/10/2006 của Chính phủ và Thông tư liên tịch số
02/2008/TTLT-BNV-BTC ngày 20/5/2008.
2.3.5) Trách nhiệm dân sự:
Đây là trách nhiệm của nhà nước về việc bồi thường những thiệt hại mà cá nhân, tổ
chức đã phải gánh chịu do cán bộ, công chức gây ra trong khi thi hành nhiệm vụ,
công vụ nhà nước. Việc bồi thường của nhà nước cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
được thực hiện theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
nhà nước. Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật trong khi thi hành nhiệm
vụ, công vụ gây thiệt hại cho người khác phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức số tiền
mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp
luật.