Nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của cán bộ công chức nữ ở Tỉnh Bolykhămxay CHĐCN Lào - Pdf 29

MỞ ĐẦU
1: Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới và có vai trò quan trọng trong
từng bước phát triển của xã hội loài người. Phụ nữ vừa có thiên chức làm vợ,
làm mẹ, là lao động chính trong gia đình, tham gia xây dựng và bảo vệ đất
nước. Song ở nhiều nơi trên thế giới, nhất là ở các Quốc gia kém và đang phát
triển, phụ nữ rất ít khi được tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước.
Chính vì vậy phụ nữ chưa thật sự được phát huy hết năng lực của mình và
phấn đấu để thể hiện được sự bình đẳng với nam giới. Đây là mục tiêu chung
của toàn thể phụ nữ trên thể giới.
Với 51% dân số cả nước, phụ nữ Lào đã có những đóng góp rất quan
trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công lao đó đã được Đảng,
Nhà nước và lịch sử ghi nhận. Đó là: người mẹ hiền, người vợ trung hậu, đảm
đang những người lao động cần cù, năng động, sáng tạo, là người chiến sĩ anh
hùng, trung kiến bất khuất, người hoạt động xã hội tận tụy, kiên nhẫn, tài
năng, là người tạo dựng và gìn giữ tổ ấm gia đình.
Ngày nay đất nước đang bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc
lập tự do, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều này, đòi hỏi toàn dân
phải nỗ lực phấn đấu đem hết tài năng và sức lực phục vụ Tổ Quốc và đòi hỏi
bộ máy nhà nước phải trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu
quả. Muốn vậy, phải có một đội ngũ cán bộ công chức có trình độ chuyên
môn, ngoại ngữ, tin học giỏi, có phẩm chất chính trị vững vàng, năng động
sáng tạo, có khả năng hội nhập cao. Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ là
yêu cầu sống còn của mọi cơ quan, tổ chức nhà nước và là mối quan tâm hàng
đầu của Đảng và chính phủ Lào.
Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo,quản lý nói chung, cán
bộ công chức nữ nói riêng tỉnh Bolykhămxay còn nhiều bất cập về năng lực
lãnh đạo, quản lý. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ nữ
1
cũng gắn với công tác cán bộ chung của Đảng và được khẳng định trong Đại
hội Đảng VII, VIII “ Chúng ta phải coi trọng công tác xây dựng và nâng cao

- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng (2003) Luận cư khoa học cho việc nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước.
- PGS.TS Trần Xuân Sầm (1998) Xãc định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ
lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị.
- Nguyễn Kim Thành: Giải pháp đào tạo cán bộ lãnh đạo nữ người dân
tộc thiếu số, Tạp chí xây dựng Đảng (Số 7), năm 1998.
Tại Lào đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh và trung ương, nhưng chủ yếu là xác định
giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, chưa có công trình nào nghiên
cứu và chỉ ra thực trạng năng lực lãnh đạo, quản lý nhà nước của đội ngũ cán
bộ nữ và những giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ này một cách toàn
diện.
-Ních khăm(2003): Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Hội
liên hiệp phụ nữ ở CHDCND Lào trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
-Đệt Tạ Kon Phi La Phăn Đệt (2004): Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt các ban nghành ở Thành phố Viêng Chăn.
-Khăm chăn khăm vông chay(2006): Giải pháp nâng cao năng lực quản
lý của cán bộ chủ chốt tỉnh Phong sa ly.
Bên cạnh đó còn nhiều tạp chí, bản tin, bài viết, website của các viện
nghiên cứu, các trung tâm thông tin, các văn kiện về vấn đề này.Tuy nhiên,
chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về năng lực lãnh đạo và quản lý
của cán bộ công chức này. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài trên để nghiên cứu.
3: Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là đội ngũ nữ cán bộ, công chức giữ
cương vị lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nước thuộc tỉnh
Bolykhămxay.
- Phạm vi nghiên cứu:
3
+ Cán bộ công chức nữ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý trong UBND từ
cấp tỉnh đến cấp bản (Chủ tịch, phó chủ tịch UBND); Giám đốc, PGĐ các Sở,

5: Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa
MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, pháp luật, chính sách của
Đảng và Nhà nước Lào về công tác cán bộ và năng lực cán bộ. Kết hợp với
các phương pháp phân tích, so sách, lôgic và tổng kết thực tiễn, hệ thống hóa,
khảo sát thực tế để đưa ra kiến nghị và giải pháp.
Ngoài ra trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng và kế thừa kết
quả nghiên cứu của các công trình đã có trong nước và ngoài nước có liên
quan làm sáng tỏ vấn đề mà mục đích nghiên cứu đã đề ra.
6: Những đóng góp của luận văn
Dựa trên cơ sở phân tích các nguồn tư liệu trong nước và ngoài nước
phân tích và làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước;
năng lực và năng lực lãnh đạo quản lý của cán bộ công chức nữ và việc cần
thiết phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ nữ. Trên cơ sở phân tích thực
trạng năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức nữ tại tỉnh
Bolykhămxay để tìm ra nguyên nhân của những tồn tại và cung cấp cho các
cơ quan chức năng của Tỉnh những bức tranh toàn cảnh về thực trạng năng
lực lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức nữ và kinh nghiệm giải
quyết của nước ngoài làm tiền đề cho việc đưa ra một số giải pháp nhằm góp
phần xây dựng và nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ
nữ trong điều kiện nay.
7: Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về năng lực lãnh đạo, quản lý và sự cần
thiết phải nâng cao năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ công
chức nữ.
Chương 2: Thực trạng năng lực lãnh đạo và quản lý của cán bộ, công
5
chức nữ trong các cơ quan hành chính nhà nước tại tỉnh Bolykhămxay
CHDCND Lào

ràng, đến năm 1984 bằng việc ra đời bộ luật mới: “ Luật địa vị nói chung của
công chức” Thì nội hàm từ cán bộ công chức cũng như địa vị, quyền và nghĩa
vụ công chức mới được xác định rõ ràng hơn. Theo luật nay, cán bộ công
chức của Pháp bao gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng
lãnh thổ (công xã, tỉnh, lĩnh vùng) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong
một công sử nhà nước hoặc một công sử tự quản, kể cả các bệnh viện và được
biên chế vào một ngạch của nền hành chính công. Công chức được gọi chung
là nhân viên công chức bao gồm: nhân viên làm việc trong Bộ máy Hành
chính Nhà nước, các Quan toà, nhân viên sự nghiệp quốc doanh, nhân viên
đơn vị quân sự và nhân viên làm việc trong Quốc hội.Nhưng không phải tất cả
nhân viên công chức đều chịu sự điều chỉnh bởi luật công chức, mà chỉ có
nhân viên giữ các chức vụ thường xuyên trong Bộ máy Hành Chính Nhà
nước, còn lại các nhân viên được điều chỉnh bằng luật lao động, Luật hợp
đồng họ được bảo vệ về mặt chức nghiệp.
Tại Anh, năm 1895 thuật ngữ “công chức” là những người do Vua Anh
trực tiếp bổ nhiệm hoặc được Uỷ ban dân sự cấp giấy chứng nhận hợp lệ cho
phép tham gia công tác của cơ quan dân sự và những người mà toàn bộ tiền
lương được hưởng từ ngân sách thống núât của Vương quốc liên hợp hoặc và
các khoản khác được Nghị viện thông qua. Đến năm 1977, quan niệm công
chức được giải thích rõ hơn đó là những người thay mặt Nhà nước giải quyết
công việc công. Những người không có được vị trí trong Bộ máy nhà nước
được pháp luật quy định thì không phải là công chức, Ví du: nhân viên Chính
trị, nhân viên Tư pháp….
Tại Trung Quốc cán bộ dùng chung để chỉ những nhân viên, công chức
để phân biệt với nhân viên tập sự, bình linh, công nhân; còn một nghĩa nữa là
chuyên chỉ những người có trách nhiệm lãnh đạo và công chức không lãnh
7
đạo, được tuyển dụng vào các cơ quan nhà nước thông quan một chế độ thi
tuyển rất khắt khe. Bằng cách liệt kê cụ thể những ngạch công chức không
lãnh đạo, và những chức danh của công chức lãnh đạo, Trung Quốc đã chỉ ra

trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành
phố trực thuôc trung ương (sau đay gọi là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là cấp huyện)
b) Nhứng người được tuyển dụng bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở trung
ương, tỉnh, huyện;
c) những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức,
hoặc được giao giữ nhiệm một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà
nước ở trung ương, tỉnh, huyện;
d) Những người được tuyển dụng bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của
Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội;
e) thẩm phán toà án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
f) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
tường xuyên làm việc trong cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không
phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân nhân quốc phòng làm việc
trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phảI là sĩ quan, hạk
sĩ quan chuyên nghiệp
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm
kỳ trong Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng uỷ,
người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, phường, thị trấn
(gọi chung là cấp xã)
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nhiệm vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Theo Nghị định 117/2003/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam thì các đối
tượng được coi là công chức bao gồm:
9
-Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường
xuyên làm việc trong tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp
huyện;

nhóm, một tập đoàn người nhằm giải quyết tốt các mối quan hệ công tác va
đạt mục tiêu đề ra[5,tr.13]
Ở Lào quan niệm cán bộ, công chức cũng khác nhau trong từng thời kỳ.
Ban đầu từ “ Cán bộ” được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến
chống Pháp và được dùng nhiều trong quân đội để phân biệt chiến sĩ và cán
bộ. Từ cán bộ dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ chỉ huy từ tiểu đội phó
trở lên, dần dần từ “cán bộ” được dùng để chỉ tất cả những người hoạt động
kháng chiến thoát ly, để phân biệt với người dân.
Hiện tại, khái niệm “ cán bộ, công chức” được hiểu đồng nhất giữa hai
từ này. Song cán bộ công chức được hiểu tương tự như quan niệm của Việt
Nam. Theo điều 2 pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 qui định: Đó là
những người mang quốc tịch Lào và được tuyển, bổ nhiệm làm việc thường
xuyên trong các cơ quan, tổ chức của Nhà nước từ trung ương đến địa phương
và các tổ chức đại diện CHĐCN Lào tại nước ngoài được hưởng lương từ
ngân sách Nhà nước.Bao gồm:
Cán bộ công chức của Lào qui định tại điều 2 pháp lệnh cán bộ công
chức bao gồm những người được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc thường
xuyên trong các cơ quan Đảng, đòn thể, mặt trận tổ quốc, tổ chức chính trị-xã
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, các tổ chức đại diện của Lào ở nước
ngoài.
Đội ngũ cán bộ công chức cấp tỉnh là một bộ phận cấu thành đội ngũ
công chức của cả nước, bao gồm:
- Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một nghạch công chức,
hoặc giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở cấp
tỉnh .
- Những người được tuyển bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường
11
xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở cấp tỉnh
- Những người được tuyển dụng bổ nhiệm vào một ngạch viên chức
hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của

thực hiện.
Theo giáo trình quản lý hành chính Nhà nước, Học viện hành chính
quốc gia[Hà nội,1998,tr,61]. “Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy
điều hành, hướng dẫn, các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người để hướng đến mục đích, đúng ý trí và phù hợp với quy luật khách
quan”
“Quản lý ” là hoạt động tổ chức, điều hành, điều chỉnh, chỉ đạo các các
nguồn lực của tổ chức theo những cách thức nhất định nhằm thực hiện được
mục tiêu của tổ chức.[Hà nội,2002,tr,134]
Theo thuật ngữ hành chính,Viện nghiên cứu hành chính[Hà nội,2002,tr
136]. “Quản lý là thuật ngữ chỉ hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp
xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra…Các quá trình xã hội
và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật
xã hội, đạt được mục tiêu đã xác định theo ý trí của nhà quản lý với chí phí
thấp nhất”.
Giữa“ Lãnh đạo và Quản lý” đều giống nhau ở chỗ cả hai đều biểu hiện
những tác động tự giác của chủ thể lãnh đạo, quản lý đến đối tượng ( khách
thể ) lãnh đạo quản lý trên cơ sở những quy luật khách quan vốn có của đối
tượng, nhằm đảm bảo cho đối tượng vận động và phát triển một cách tối ưu
theo những mục tiêu đã định trước. Mặc dù lãnh đạo và quản lý có điểm
giống nhau nhưng không thể nói là giống nhau hoàn toàn nó có những điểm
khác biệt nhau. Trước hết “ Quản lý” là sự điều khiển vận hành một hoạt động
nào đó, đối tượng của nó vừa có thể là con người, vừa có thể là công cụ. Còn
“ Lãnh đạo” là quá trình làm thức tỉnh hành vi của con người vừa có thể định
hướng hoạt động của con người và xã hội. Như vậy đối tượng tác động của
lãnh đạo là con người mà thôi. Hơn thế nữa trong “lãnh đạo” con người vừa là
13
chủ thể vừa là khách thể của mọi sự tác động.Nói cách khác matt người lẫnh
đạo tốt phải là người có uy tín cao trong tập thể. Chủ tịch Hồ Chí Mình đã
từng nói: Sự lãnh đạo của Đảng phải xuất phát từ quần chúng và trở lại nơi

động của tổ chức và của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên khái niệm lãnh đạo
và quản lý không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Trong quá trình lãnh đạo,
hoạt động chủ yếu là định hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế,
đường lối chủ trương chính sách làm thức tính hành vi của đối tượng, định
hướng hoạt động của đối tượng và xã hội . Còn hoạt động quản lý mang tính
điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháp lệnh được quy
định từ trước.
Cán bộ quản lý là những người điều hành, nhà quản lý là những người
có chức và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động
chuyên môn trong một khâu, một công đến, một chương trình dự án.
Xét cho cùng hoạt đọng quản lý là sự tiếp nối của hoạt động lãnh đạo là
khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo, sự phân biệt này chỉ là tương đối nhưng
rất cần thiết cho công tác cán bộ, làm cơ sở cho việc xác định tiêu chuẩn,
chức năng của CBLĐ, bộ máy lãnh đạo với tiêu chuẩn chức năng của người
cán bộ quản lý, bộ máy quản lý tranh sự trùng lặp, chồng chéo giữa các cơ
quan lãnh đạo và quản lý.
Thành phần thứ hai; trong khái niệm CBLĐ là những người cầm đầu tổ
chức, quốc gia. Họ là nhóm người lãnh đạo ở tầm vĩ mô. Thế giới hiện đại gọi
là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia, hay còn gọi là CBLĐ cao cấp, chủ chốt.
Nhìn lại lịch sử ở bất kỳ thời đại nào cũng thấy sự thể hiện vai trò quyết định
vận mệnh quốc gia, dân tộc theo hai hướng: Khi tích cực, vai trò ấy là sự định
hướng đúng, thúc đẩy xã hội tiến bộ, dân tộc có cuộc sống văn minh, huy
động và quy tụ được tài đức xã hội để chấn hưng, đổi mới đất nước. Khi tiêu
cực vai trò ấy là kìm hãm, đẩy lùi tiến bộ xã hội, gây nên tình trạng trì trệ,
khung hoảng. Trên thực tiễn nước ta khi bước vào thế kỳ mới đòi hỏi phải
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trên cơ sở một quan niệm mới về phân
15
loại, phân định chức danh của các nhóm cán bộ và công chức, phải xây dung
tiêu chuẩn, quy chế hoạt động cho tong loại, từ đó có sự đổi mới về chính
sách tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đại ngộ và quản lý phù hợp.

động, sánh tạo, biết khai thác, huy động trí tuệ, tài năng của các thành viên
trong tổ chức và quần chúng nhân dân, đề ra chủ trương sát hợp, tổ chức thực
hiện thắng lợi các mục tiêu đặt ra.
Đảng NDCM Lào luôn luôn coi cán bộ là vấn đề có tính then chốt, mắt
xích quan trọng trong mọi giai đoạn cách mạng cũng như trong sự nghiệp đổi
mới vì nó có liên quan trực tiếp đến việc đào tạo, bố trí lực lượng, gắn liền với
việc củng cố bộ máy tổ chức, đường lối tổ chức không chỉ phục vụ đường lối
chính trị mà còn là nhân tố tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng.
Vấn đề cán bộ nói chung gắn liền trực tiếp với việc củng cố năng lực lãnh
đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Nếu có cán bộ lãnh đạo và quản lý giỏi
và tốt sẽ nâng cao uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mỗi quan hệ
giữa Đảng và quần chúng, ngăn chặn các hiện tượng quan liêu cửa quyền,
tham nhũng và các hiện tượng tiêu cực khác. có cán bộ tốt mới có tổ chức
vững mạnh đảm bảo sự đoàn kết thống nhất giữa các tầng lớp người và các bộ
tộc, phát huy năng lực của quần chúng trong thực hiện đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Trong tình hình đổi mới ở Lào hiện nay, đối với CBLĐ,QL các cấp, các
ngành, Đảng NDCM Lào luôn coi trọng và đặt liên hàng đầu tiêu chuẩn chính
trị, đồng thời rất coi trọng tiêu chuẩn chuyên môn hoá, khá năng lãnh đạo,
phong cách và lề lối làm việc của họ. Vì CBLĐ,QL là rường cột của Đảng,
như “bộ điều khiển” “ người cầm lái” một con tàu là lực lượng có trách
nhiệm tham gia xây dựng đường lối chính sách, là người giúp cho đường
lối,chính sách được quan triệt đúng đắn, đồng thời là những người tuyệt đối
chung thành với đảng với nhân dân, là người có ý trí mãnh liệt đưa dân tộc và
đất nước mình tiến lên và phát triển tong bước. Họ là những người có bản lĩnh
chính trị vững vàng, là người gương mẫu về đạo đức lối sống và là người có
17
kiến thức về khoa học, lãnh đạo và quản lý trên tất cả các lĩnh vực công tác
của Đảng và Nhà nước.
Từ những quan niệm trên có thể hiểu các chức danh cán bộ lãnh đạo

nhiên do chức danh này không ổn định nên luận văn không đề cập.
Nói tóm lại cán bộ và CBLĐ,QL là những người được đào tạo theo
nghề nghiệp chuyên môn nhất định và là những người hoạt động trong những
tổ chức bộ máy nhất định. Vậy khi xây dựng cơ cấu và tiêu chuẩn cấp uỷ từng
cấp cũng như việc đánh giá,bố trí, sử dụng và đào tạo đội ngũ này phải gắn
chặt với việc xây dựng cơ cấu tiêu chuẩn đội ngũ CBLĐ QL. Vì họ có vai trò
quyết định và chi phối mọi hoạt động của tổ chức, của ban, nghành ở tỉnh
Bolykhămxay là người chịu trách nhiệm về đội ngũ cán bộ ở cấp, lĩnh vực
mình phụ trách, là một nhân tố quyết định tới chất lượng mọi mặt của đội ngũ
cán bộ tốt hay kém lại quyết định trực tiếp tới chất lượng đội ngũ cán bộ.
1.1.1.3. Quan niệm về năng lực lãnh đạo và quản lý
Trong công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay một vấn đề đang đặt ra
cần phải thực hiện giải quyết hàng loạt biện pháp gắn với việc chỉnh đốn và
đổi mới một bước về tổ chức và phân công lao động, cần phải có đội ngũ
vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức tốt, chuyên môn giỏi, tương
xứng với yêu câu phát triển đất nước. Một trong những nhiệm vụ cấp bách
hàng đầu là phải nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐ,
QL) vững vàng về chính trị, có đức có tài, có phong cách lãnh đạo, làm việc
khoa học, có đủ năng lực trí tuệ và thực tiễn, biết phát huy tiềm năng thế
mạnh của đất nước, biết khơi dậy và phát triển nguồn lực nội sinh, quan triệt
các chủ trương, nghị quyết, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, vận
dụng vào điều kiện cụ thể của đất nước một cách chủ động , sáng tạo, biết
khai thác, học tập trí tuệ, tài năng của đảng viên và quần chúng nhân dân, đề
ra chủ trương sát hợp, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu đặt ra.
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời rất quan tâm đến công tác đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, Người đã khẳng định: “Cán bộ
19
là cái gốc của mọi việc” “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể, có vốn mới làm ra
lãi, bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công tức là có
lãi, không có cán bộ tốt thì hang việc tức là lỗ vốn”. [33,tr20] Vậy năng lực là

thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau nhưng về bản chất nó là khả năng của
một cá nhân phải có mới có thể hoàn thành tốt công việc nào đó. Xét về phạm
vi, có năng lực của cá nhân và năng lực của tổ chức. Tuy nhiên, trong phạm vị
của luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu năng lực của cá nhân, mà trực tiếp là
năng lực của đội ngũ cán bộ công chức nữ lãnh đạo, quản lý mà thôi.
Xét dưới góc độ pháp lý: Năng lực của một chủ thể có thể bao gồm
nhiều yếu tố, nhưng trong đó có hai yếu tố chủ yếu đó là năng lực hành vi và
năng lực pháp luật.
*Năng lực pháp luật là khả năng của một chủ thể có được các quyền và
phải thực hiện những nghiã vụ cũng như phải chịu trách nhiệm mà nhà nước
quy định cho các cá nhân hay tổ chức, trước khi họ tham gia vào các quan hệ
pháp luật nhất định. Năng lực pháp luật của từng chủ thể thường phụ thuộc
vào các điều kiện của từng cá nhân, tổ chức, đồng thời cũng phụ thuộc vào
nhiều yếu tố khác nhau; trong đó quan trọng nhất là ý chí của nhà nước, mà ý
chí của nhà nước lại phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội quy định. Vì
vậy với một con người cụ thể, có địa vị xã hội khác nhau, giống nhau nhưng
cấu trúc của quốc gia khác nhau, thì năng lực pháp luật của những người đó
cũng có đặc điểm khác nhau, bởi do chính hệ thống pháp luật mà con người
đó phải lệ thuộc và bị điều chỉnh .
*Năng lực hành vi là khả năng hoạt động của một cá nhân, một tổ chức
hay một công đồng, có thể tự mình tạo lập, tự thực hiện các hành vi, xử sự
của bản thân và tự mình trực tiếp tham gia vào các quan hệ xã hội theo ý chí
của mình và của nhà nước.
Năng lực thường có quan hệ mật thiết với quyền lực, hiệu lực, hiệu quả.
Nếu một cá nhân hay tổ chức nào đó có một khối quyền hạn to lớn, do cơ
quan nhà nước có them quyền giao cho, nhưng bản thân họ lại không có khả
21
năng hạot động hoặc hoạt động yếu kém, thì họ không thể biến khối thẩm
quyền đó thành hiện thực, có nghĩa là không thể thực hiện được quyền lực của
mình.

động của con người để hướng dẫn chúng phát triển phù hợp với trật tự hành
chính quy định và xác định theo ý chí của nhà quản lý một cách có hiệu quả.
Tuy nhiên, năng lực luôn gắn liền với một chủ thể, một cá nhân nhất định (đó
là khả năng của cá nhân đưa ra sáng kiến có giá trị, dám chịu trách nhiệm,
sáng tạo, khả năng phân biệt được cái gì là quan trọng đối với công việc, cái
gì là không quan trọng và có khát vọng đạt được kết quả trong quá trình thực
thi công vụ)
Nói cách khác, năng lực thực thi công vụ chính là khả năng thực tế của
mỗi cán bộ công chức trong việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức,
kỹ năng, trình độ, thái độ hành vi… Để hoàn thành công việc được giao, xử lý
tình huống và để thực hiện nhiệm vụ trong mục tiêu xác định. Như vậy, năng
lực thực thi công công vụ không chỉ bao gồm các yếu tố như tình độ, kiến
thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng xử mà còn bao hàm cả khả năng kết hợp
hài hoà các yếu tố đó trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được
kết quả cao nhất với chí phí thấp nhất.
* Quan niệm về năng lực lãnh đạo và quản lý
Trong hoạt động quản lý Nhà nước, năng lực lãnh đạo và quản lý của
cán bộ công chức chính là năng lực của những người đứng đầu trong một địa
phương, một tổ chức hay một cơ quan thực hiện nhiệm vụ một cách có kết
quả cao. Người định hướng, dẫn dắt, các hoạt động của tổ chức đạt được các
mục tiêu mà tổ chức đã để ra.
Một người lãnh đạo, quản lý có năng lực trước hết phải là người cán bộ
công chức có năng lực tức là phải có kiến thức, có kỹ năng và thái độ và hành
vi ứng xử đúng đắn với công việc được phần công. Không những thế cán bộ
lãnh đạo, qủan lý còn bao gồm các yếu tố về trình độ, kiến thức,chuyên môn
hoá cao, kỹ năng thực thi công vụ, kinh nghiệm, thái độ hành vi,mà còn có
23
khả năng hoạch định, chiến lược, có tầm nhìn xa và khả năng bầm sinh, biết
được tâm lý của mỗi nhân viên để thu hút mọi người, có khả năng dạy bảo để
xây dựng và bố trí, sử dụng lực lượng đó. Vì vậy năng lực lãnh đạo và quản lý

luật cao và thực sự làm tầm gương để cấp dưới đi theo.
-Phải có mỗi quan hệ tốt với cấp trên, cùng cấp, cấp dưới và các đối tác
khác.
Tuy nhiên, với mỗi cấp độ, mỗi vị trí lãnh đạo khác nhau lại có những
yêu cầu riêng về năng lực. Chẳng hạn đối với người đứng đầu một tỉnh đồi
hỏi có tầm nhìn chiến lược, khả năng phán đoán và quyết đoán cao hơn cấp
huyện và bản. Ngay trong cùng cấp lãnh đạo thì người lãnh đạo, quản lý đứng
đầu các cơ quan kinh tế, tài chính, thương mại cũng đòi hỏi khả năng suy
đoán, đưa ra quyết định mau lệ hơn một số nghành ít chịu sự biến động của cơ
chế thị trường như nghành giáo dục…Ngược lại, ở các cấp thấp hơn như cấp
bản là người trực tiếp đưa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào
cuộc sống lại cần đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải thật am hiểu về pháp
luật, có phương pháp tiếp cận mềm dẻo, tỉ mỉ, cụ thể và thuyết phục để người
dân có thể hiểu và tự giác chấp hành. Thậm chí ngay trong cùng một cơ quan,
thì mỗi vị trí và thời gian lãnh đạo khác nhau cũng đòi hỏi các cấp độ năng
lực khác nhau, phương pháp, kỹ năng khác nhau. Ví dụ. Trong một sở thì
giám đốc Sở là người có vai trò quyết định moị hoạt động của Sở vì vậy phải
có khả năng bao quát, khả năng tiên đoán cao hơn các phó giám đốc, người
chỉ huy chịu trách nhiệm về một phần việc được phân công.
Năng lực lãnh đạo, quản lý nhà nước là khả năng xử lý công việc được
giao theo chức năng, nhiệm vụ của công chức và khả năng xử lý các tỉnh
huống đặt ra trong quá trình giải quyết công việc của quản lý nhà nước và
điều hành, năng lực quản lý nhà nước còn được xem là khả năng điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn sàng có thể thực hiện một hoạt động nào đó, hoặc
theo nghĩa khác nào đó hoặc theo một nghĩa khác đó là “ phẩm chất, tâm lý và
sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hành động nào đó với chất
25

Trích đoạn Những mặt tồn tạ Thực trạng công tác đào tạo và nâng cao năng lực. Những vấn đề đặt ra và cần giải quyết đối với năng lực của cán bộ công chức. Căn cứ và định hướng Yều cầu đối với công việc nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý của nữ cán bộ công chức đáp ứng yều cầu CNH, HĐH đất nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status