Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua hơn 10 năm đổi mới đất nớc ta đã đạt đợc rất nhiều thành tựu to lớn về
kinh tế, chính trị, xã hội, khoa học-kỹ thuật...Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, n-
ớc ta đã thoát khỏi khủng hoảng, trong nhiều năm liên tiếp đã đạt đợc tốc độ tăng
trởng tơng đối cao và ổn định, một nền kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN có
sự quản lý của Nhà nớc đã thay thế về cơ bản nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Đó là kết quả của việc đổi mới cơ chế kinh tế, hoàn thiện quan hệ sản xuất để phù
hợp với sự phát triển của lực lợng sản xuất, phát huy sức mạnh của các thành phần
kinh tế trong cả nớc. Việc thừa nhận sự đa dạng của các thành phần kinh tế đã
khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp trong nớc, doanh nghiệp liên doanh với nớc ngoài, doanh
nghiệp 100% vốn nớc ngoài, khuyến khích mọi ngời tham gia kinh doanh, phát
triển sản xuất theo quy định của pháp luật.
Thực tế trong những năm qua, kinh tế ngoài quốc doanh đã thể hiện đợc vai
trò của mình trong nền kinh tế, là nơi huy động phát huy các nguồn lực của nhân
dân, tham gia vào công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hóa đất nớc. Song trong
xu thế hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới các doanh nghiệp Việt Nam
nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng sẽ phải đối
đầu với những thách thức to lớn. Đó là việc hoà nhập vào hệ thống pháp luật
chung của thế giới, khu vực... Nhng thách thức lớn hơn cả lại bắt nguồn từ sức ép
cạnh tranh của các đối tác mà họ hơn hẳn ta về nhiều mặt nh tài chính, công nghệ,
kinh nghiệm kinh doanh quốc tế.
Hội nhập đem lại cho ta rất nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức. Để
tận dụng đợc những cơ hội và hạn chế những thách thức đó phải có sự kết hợp
1
giữa các cơ quan quản lý Nhà nớc và các doanh nghiệp trong từng bớc đi. Đó là sự
phù hợp giữa kế hoạch phát triển của doanh nghiệp với kế hoạch chung của đất n-
ớc, giữa các chính sách của doanh nghiệp với chính sách của Nhà nớc.
Thế nhng hiện nay hoạt động của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn
nhiều hạn chế, trong đó có cả sự cản trở từ phía Nhà nớc tới hoạt động sản xuất
Do trình độ và thời gian nghiên cứu có hạn nên khu vực doanh ngiệp ngoài quốc
doanh mà chúng em nghiên cứu trong đề tài này chỉ là các doanh ngiệp không bao
gồm yếu tố nớc ngoài đang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp do Quốc hội thông
qua ngày 12 tháng 6 năm 1999 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng1 năm 2000.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng em có sử dụng một số phơng pháp nh
phơng pháp tiếp cận và phân tích hệ thống, phơng pháp duy vật biện chứng, phơng
pháp nghiên cứu tài liệu và đàm thoại trực tiếp với một số doanh ngiệp ngoài quốc
doanh.
Kết cấu của đề án nghiên cứu khoa học:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề án bao gồm 3 phần:
Phần I Tổng quan
3
PhầnII Thực trạng môi trờng vĩ mô ở nớc ta hiện
nay
PhầnIII Một số giải pháp trong việc nâng cao năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
4
Phần i
Tổng quan
1. Lý luận chung về cạnh tranh.
1.1 Khái niệm canh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm thờng đợc dùng trong khoa học kinh tế nhng
không đợc định nghĩa cụ thể và rõ ràng.
Trong kinh tế, khái niệm cạnh tranh có thể đợc hiểu là sự ganh đua giữa các
nhà doanh nghiệp trong việc giành một yếu tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm
nâng cao vị thế của mình trên thị trờng.
Cạnh tranh có thể đa lại lợi ích cho ngời này và thiệt hại cho ngời khác.
Song dới góc độ lợi ích toàn xã hội cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Khi nhắc
đến cạnh tranh, có hai khái niệm luôn đi theo nó là cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
- Dới điều kiện cạnh tranh là những tiền đề thuận tiện nhất làm cho sản
xuất thích ứng linh hoạt với sự biến động của cầu và công nghệ sản
xuất.
- Sự bóc lột dựa trên quyền lực thị trờng và việc hình thành thu nhập
không tơng ứng với năng suất sẽ bị cản trở bởi cạnh tranh, vậy cạnh
tranh sẽ tác động một cách tích cực đến việc phân phối và phân phối lại
thu nhập.
- Sự thúc đẩy đổi mới đợc coi là một chức năng cạnh tranh năng động
trong những thập kỷ gần đây.
1.3 Điều kiện để cạnh tranh
Từ khái niệm về cạnh tranh ngời ta có thể hình dung điều kiện để xuất hiện
cạnh tranh trong hoạt động kinh tế là:
1) Tồn tại một thị trờng.
2) Có tối thiểu hai thành viên ở bên cung hoặc ở bên cầu.
6
3) Mức độ đạt mục tiêu của thành viên này sẽ ảnh hởng đến mức độ đạt mục
tiêu của thanh viên khác.
Theo A.Smith, ngời đầu tiên đa ra những lý thuyết tơng đối hoàn chỉnh về
cạnh tranh. Ông cho rằng: điều kiện để canh tranh là phải bao gồm tự do hành
động cho mọi doanh nghiệp và các hộ gia đình, nghĩa là bảo đảm sự tự do cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp cũng nh sự tự do lựa chọn tiêu dùng của các hộ gia
đình. Thông qua cơ chế thị trờng, việc tận dụng tự do cạnh tranh để theo lợi ích
riêng dẫn đến việc mỗi chủ thể kinh tế sẽ nhận đợc những thành quả mà họ đã
cống hiến cho thị trờng. Nh vậy, sự hài hoà về lợi ích riêng đợc hình thành nh thể
thông qua sự sắp đặt của bàn tay vô hình.
Tuy vậy, khái niệm này không đồng nghĩa với việc bỏ mặc doanh nhân mà
nó đòi hỏi Nhà nớc phải tạo ra và bảo đảm một trật tự pháp lý làm khuôn khổ cho
quá trình cạnh tranh.
Điểm then chốt cho cạnh tranh trở thành động lực là môi trờng pháp luật có
hiệu lực đảm bảo đa ra mọi cơ hội cho mọi tác nhân có thể tham gia vào thị trờng
đại.
2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ chức
của những ngời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Họ
đầu t vốn, thuê mớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại hàng hoá hay thực
hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận.Trong nền kinh tế thị
trờng, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hoá chủ
yếu là các doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động kinh doanh t
nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nớc. Việc phân biệt hoạt động kinh doanh
t nhân với hoạt động kinh doanh của Nhà nớc căn cứ vào việc ai là ngời tổ chức và
chỉ đạo các hoạt động này.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) là tổ chức kinh tế do cá nhân,
tổ chức đầu t vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo qui định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
8
ở hầu hết các nớc trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thờng đan
xen nhau. Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố t nhân vừa có sự tham
gia của Nhà nớc.
ở Việt Nam trớc đây, t liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinh
doanh(SX-KD) nào đó chỉ thuộc về một hình thức sở hữu duy nhất, sở hữu Nhà n-
ớc. Hội nghị trung ơng VI - Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sản Việt Nam đã
xem xét lại các quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động SX-KD các
hình thức sở hữu về t liệu sản xuất không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình
hỗn hợp, đan kết với nhau. Các doanh nghiệp quốc doanh có thể huy động vốn cổ
phần của các cá nhân và tổ chức khác. Còn các cơ sở SX-KD t nhân cũng có thể
liên kết với các doanh nghiệp quốc doanh nhằm mở rộng sản xuất. Do đó, khu vực
DNNQD không chỉ bao gồm các cơ sở SX-KD hoàn toàn thuộc sở hữu t nhân mà
bao gồm cả các cơ sở SX-KD có phần vốn góp của Nhà nớc nhng hoạt động của
chúng lại do một hay một nhóm t nhân tơ chức và chỉ đạo.
2.2 Các hình thức của doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Theo Điều 14 Nghị định 03/2000/NĐ-CP thì chủ sở hữu công ty phải là
một pháp nhân và có thể là: cơ quan Nhà nớc, đơn vị vũ trang, các pháp nhân của
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các loại doanh
nghiệp và các tổ chức khác theo qui định của pháp luật.
Nh vậy theo pháp luật, công ty TNHH một thành viên có thể là một doanh
nghiệp quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó là cơ quan Nhà nớc hay là một doanh
nghiệp ngoài quốc doanh nếu chủ sở hữu của nó không phải là các cơ quan Nhà n-
ớc. Công ty TNHH hạn một thành viên là loại hình doanh nghiệp có t cách pháp
nhân nhng không có quyền phát hành cổ phiếu.
c. Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên
Công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên là công ty đợc thành lập theo sự
góp vốn của nhiều thành viên. Thành viên công ty có thể là cá nhân hay tổ chức
và tối đa là năm mơi, tối thiểu là hai. Công ty có t cách pháp nhân nhng không có
quyền phát hành cổ phiếu. Đây là loại hình công ty mà các doanh nhân nớc ta a
thích và hay thành lập.
d. Công ty cổ phần
10
Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm sau:
- Vốn điều lệ của công ty đợc chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ
phần.
- Thành viên công ty có thể là cá nhân hay tổ chức đợc gọi là cổ đông. Số
lợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lợng tối đa.
- Công ty có t cách pháp nhân và có quyền phát hành các loại chứng
khoán.
d. Công ty hợp danh
Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có đặc điểm:
- Công ty phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài thành viên hợp
danh công ty có thể có thnàh viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là
cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp. Còn thành viên
góp vốn có thể là cá nhân hay tổ chức.
Trong nền kinh tế của các nớc trên thế giới, vị trí và vai trò của DNNQD
luôn thay đổi qua các giai đoạn lịch sử cùng với sự tăng giảm vai trò của chính
phủ đối với hoạt động kinh doanh. Qua nhiều năm, ngời ta đã chứng minh những -
u thế của hoạt động kinh doanh t nhân so với hoạt động kinh doanh của khu vực
Nhà nớc và nhiều nớc đã thực hiện quá trình t nhân hoá. Hiện nay ở hầu hết các n-
ớc trên thế giới, khu vực kinh tế t nhân chiếm tỷ trọng lớn về tổng sản phẩm quốc
nội(GDP), về vốn đầu t và ngày càng trở thành bộ phận có vị trí lớn và quan trọng
đối với nền kinh tế mỗi nớc.
a. Vị trí của doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
Qua phần trên, ta thấy rằng doanh nghiệp ngoài quốc doanh(DNNQD) là
một bộ phận cấu thành không thể thiếu đợc trong nền kinh tế ở hầu hết các nớc
trên thế giới. Sự phát triển của các hình thức tổ chức kinh tế: kinh tế Nhà nớc,
kinh tế t nhân trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau là một tất yếu khách quan.
Tuy nhiên, ở nớc ta trớc đây lại không công nhận sự tồn tại của khu vực
kinh tế t nhân làm cho khu vực này phải hoạt động chui hoặc đội lốt kinh tế tập
thể. Việc coi kinh tế t nhân là thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa và muốn
tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội chỉ cần cải tạo nhanh thành phần kinh tế đó đã
dẫn đến tình trạng gần nh xoá sổ khu vực kinh tế t nhân, phát triển ồ ạt các xí
nghiệp quốc doanh dẫn đến nền kinh tế đình trệ, kém phát triển và đời sống nhân
dân gặp vô cùng khó khăn. Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) là một bớc ngoặt lịch
sử trong quá trình phát triển kinh tế ở nớc ta. Đại hội đã xác định việc phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi lực lợng sản xuất, cải tiến cơ chế
quản lý kinh tế là một chiến lợc phát triển kinh tế lâu dài. Đến Đại hội Đảng lần
12
thứ VII (1991) đờng lối đổi mới kinh tế của Đảng đợc khẳng định lại một lần nữa
Chúng ta chủ trơng thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp 1992 cũng đã ghi nhận sự tồn tại của sở
hữu t nhân (điều 15) và khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài Nhà nớc phát
triển (điều 21).
Nh vậy, việc phát triển khu vực kinh tế t nhân trong đó có DNNQD là một
hoá kỹ thuật, công nghệ để cạnh tranh với các doanh ngiệp trong nớc,
đồng thời cạnh tranh với các nớc trong khu vực và trên thế giới về mặt
hàng, mẫu mã, giá cả nghĩa là nâng cao chất lợng hàng hoá sản xuất ra.
Đó chính là sự góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc.
3. Môi trờng vĩ mô và ảnh hởng của các yếu tố môi trờng vĩ mô
Mọi sự vật hiện tợng đều tồn tại và phát triển trong một môi trờng nhất
định, chịu sự tác động của các yếu tố môi trờng. Năng lực cạnh tranh của các
DNNQD cũng vậy, nó chịu sự tác động của môi trờng vĩ mô từ đầy đủ mọi phơng
diện: chính trị, pháp luật, kinh tế, khoa học công nghệ...
a. Môi trờng chính trị - pháp lý
Môi trờng chính trị - pháp lý là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát
triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Môi trờng chính trị - pháp lý bao gồm
các quan điểm, đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng, hiến pháp, luật, các văn
bản dới luật. Trong đó quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành
phần, công nhận sự tồn tại khách quan và vai trò tích cực của thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển của
các DNNQD. Từ đó mới tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp
trong nớc cũng nh sự cạnh tranh với nớc ngoài.
Xuất phát từ quan điểm chính trị, Nhà nớc đa ra các chính sách kinh tế xã
hội và ban hành luật. Một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh chặt chẽ sẽ tạo nên một
cơ chế, môi trờng cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các doanh nghiệp đồng
thời hạn chế các tiêu cực trong quá trình cạnh tranh, cũng chính việc thiếu một hệ
14
thống pháp luật hoàn chỉnh đã gây ra hiện tợng tiêu cực xã hội nh buôn lậu chốn
thuế lừa đảo tham nhũng, làm hàng giả...
b. Môi trờng kinh tế
Môi trờng kinh tế đợc phản ánh qua tốc độ tăng trởng kinh tế chung, về cơ
cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng, tỷ lệ lạm phát. Những yếu tố này có đảm bảo đợc
ổn định cho các doanh nghiệp yên tâm phát triển hay không đợc Nhà nớc thực
báo tình hình thị trờng... Chẳng hạn nh về mặt hàng nông sản, Chính phủ đã hỗ trợ
thông tin về thị trờng xuất khẩu và kĩ thuật phát triển mặt hàng này. Và với hệ
thống hỗ trợ nh vậy, doanh nghiệp có thể yên tâm về thị trờng đầu ra mà không lo
ngại tình trạng d thừa hay giá không ổn định. Có thể nói rằng phần lớn những khó
khăn của các doanh nghiệp đã đợc tháo gỡ và sức cạnh tranh của các doanh
nghiệp đã đợc nâng lên đáng kể.
b. Kinh nghiệm Hàn Quốc
Trong những năm 50, tốc độ tăng trởng của Hàn Quốc luôn ở mức thấp so
với một số nớc Đông á. Mời năm tiếp theo, những năm 60, tốc độ tăng trơng đạt
9,5% với tỉ lệ xuất khẩu trên GDP tăng mạnh. Điều này thể hiện sự thay đổi chiến
lợc hớng mạnh vào xuất khẩu. Trong giai đoạn này, chính phủ độc tài của Park
Chung Hee tuy tập trung khá nhiều quyền lực vào tay nhà nớc nhng đồng thời
cũng có sự hỗ trợ thúc đẩy khu vực t nhân. Trớc khi chính phủ đa ra một quyết
định hay ra chính sách có ảnh hởng tới khu vực t nhân thì đều có sự tham gia đóng
góp của khu vục này. Chính phủ cũng tham khảo ý kiến các nhà kinh tế t nhân
nên phát triển ngành công nghiệp nào, nên hỗ trợ cho ngành nào. Bên cạnh đó
chính phủ còn cung cấp các dịch vụ nghiên cứu và dịch vụ kĩ thuật, cơ sở hạ tầng
giá rẻ. Sự hợp tác và hỗ trợ trên rất có hiệu quả thể hiện qua sự phát triển vợt bậc
của những ngành đợc khuyến khích (ngành điện tử, điện gia dụng, ngành đóng
tàu...). Thực tế đã chứng minh mặc dù có sự can thiệp của chính phủ nhng vấn đề
tham nhũng, chậm chạp trong hành chính và cơ cấu khuyến khích không hợp lý
tồn tại rất ít. Điều này đã thể hiện vai trò quan trọng của chính phủ.
16
17
Phần ii
Thực trạng môi trờng vĩ mô
ở nớc ta hiện nay
Các DNNQD cũng giống nh tất cả các doanh nghiệp khác đều nằm trong
một môi trờng môi trờng vĩ mô nhất định và chịu sự tác động qua lại của các yếu
tố thuộc môi trờng này. Mối quan hệ giữa các DNNQD với môi trờng vĩ mô có thể
lý vững chắc cho sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp đặc biệt là khu vực
DNNQD.
Năm 1990, Luật Công ty và Luật doanh nghiệp t nhân đợc ban hành. Hai
luật này đã tác động tích cực tới sự phát triển của khu vực DNNQD. Theo thống
kê, đến năm 1998 đã có gần 40.000 doanh nghiệp đợc thành lập với tổng số vốn
đăng ký khoảng 21.000 tỷ đồng, tạo hơn 500.000 chỗ làm việc mới. Sự xuất hiện
và phát triển của khu vực doanh nghiệp này đã góp phần đáng kể vào quá trình đổi
mới và phát triển kinh tế của nớc ta. Sau 10 năm đổi mới, số lợng doanh nghiệp
tham gia thị trờng đã tăng lên đáng kể, cơ chế thị trờng đã hoạt động với qui mô
và cờng độ lớn hơn, mức độ mở cửa của nền kinh tế nớc ta với bên ngoài cũng đã
tăng lên rất nhiều. Trong khi đó, Luật Công ty và Luật doanh nghiệp t nhân do đ-
ợc ban hành từ những năm đầu đổi mới nên đã không còn phù hợp với giai đoạn
phát triển mới của đất nớc, làm giảm đi tính linh hoạt của các nhà đầu t trong việc
lựa chọn hình thức và cơ hội đầu t phù hợp với khả năng của họ, cha tạo điều kiện
19
phát huy tối đa các nguồn nội lực cho phát triển kinh tế đất nớc. Đồng thời, đó
cũng là nguyên nhân làm giảm hiệu lực quản lý và giám sát bằng pháp luật của
Nhà nớc.
Để khắc phục những hạn chế của hai luật kể trên thì Luật doanh nghiệp đã
ra đời. Đợc QH thông qua ngày 12/6/1999 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày
1/1/2000, Luật doanh nghiệp đã tạo một bớc tiến dài trong việc hình thành một
sân chơi bình đẳng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, luật mới cũng đã đánh
dấu một bớc tiến dài về chất từ chỗ qui định ngời kinh doanh phải xin phép
chuyển sang một cách tiếp cận mới cho phép mọi ngời đợc làm những gì mà pháp
luật không cấm. Những cản trở cho việc thành lập doanh nghiệp đã đợc rỡ bỏ, bãi
bỏ yêu cầu về vốn pháp định. Do đó sau hơn 2 năm thi hành Luật doanh nghiệp
(tính đến 1/5/2002) đã có 42.567 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn
mới đăng ký xấp xỉ 50.000 tỷ đồng, đồng thời tạo ra khoảng 700.000 chỗ làm việc
mới. Các doanh nghiệp cũng tăng thêm đầu t, mở rộng thêm qui mô và địa bàn
kinh doanh dới nhiều hình thức nh mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, bổ
đăng ký kinh doanh. Theo điều tra của phòng Đăng ký kinh doanh Hà Nội có
khoảng 16% doanh nghiệp có tên trong sổ đăng ký ở Hà Nội nhng không còn
đóng trụ sở tại nơi đăng ký nữa.
Qua hơn 2 năm thực thi, Luật doanh nghiệp mới chủ yếu phát huy tác dụng
ở khâu đăng ký kinh doanh và thành lập doanh nghiệp tức là giai đoạn gia nhập
thị trờng. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp vẫn còn vấp phải
hàng loạt trở ngại cha đợc tháo gỡ từ phía các cơ quan Nhà nớc. Theo các cơ quan
quản lý doanh nghiệp, có đến gần 80% doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh
nghiệp đã không thực hiện qui định về nộp báo cáo tài chính cho cơ quan quản lý
đăng ký kinh doanh. Tại Tp Hồ Chí Minh, số doanh nghiệp cha nộp báo cáo tài
chính cũng chiếm đến 72%. Nếu chiếu theo đúng các qui định trong Luật doanh
nghiệp, tức là sau 2 năm liên tục không báo cáo, thì đến thời điểm quí 2 năm 2002
sẽ có gần 80% doanh nghiệp trên cả nớc bị rút giấy phép kinh doanh. Thế nhng
qui định này vẫn không làm số doanh nghiệp nộp báo cáo tài chính tăng lên thêm
chút nào.
21
Nguyên nhân chính của vấn đề này là do hớng dẫn báo cáo tài chính quá
phức tạp, phần lớn các nhà quản lý không hiểu và do đó không làm đợc. Việc thuê
ngời có trình độ chuyên môn để lập đợc báo cáo nh qui định là rất tốn kém đối với
doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nội dung báo cáo tài chính theo quyết định số
167/QĐ-BTC chứa đựng những thông tin nhạy cảm mà đa số doanh nghiệp
không muốn công bố rộng rãi trong tình hình cạnh tranh gay gắt nh hiện nay.
Ngoài yếu tố khách quan nêu trên, trên thực tế cũng có không ít doanh
nghiệp ý thức chấp hành pháp luật cha cao, cũng nh không tuân thủ đúng các qui
tắc về quản lý nội bộ theo qui định của Luật doanh nghiệp, nhất là các qui định về
quyền, thẩm quyền, trình tự thẩm quyền nên đã dẫn đến một số hiện tợng tiêu cực
nh làm trái luật, vi phạm quyền của các thành viên, cổ đông dẫn đến mâu thuẫn
nội bộ phát sinh, đổ vỡ doanh nghiệp, đình trệ SX nh trờng hợp của công ty
TNHH gas Bình Dơng, công ty cổ phần Hữu Nghị...
Một đạo luật nữa cũng có tác dụng mạnh mẽ tới các DNNQD đó là Luật
nghiên cứu quản lý kinh tế trung ơng và chơng trình phát triển dự án Mê Kông
tiến hành thì chỉ có 18 trờng hợp nộp hồ sơ xin u đãi trên tổng số 292 DNNQD đ-
ợc khảo sát và cho đến nay mới chỉ có 5 trờng hợp đã nhận đợc Giấy chứng nhận -
u đãi đầu t.
Về cơ bản, có thể thấy u đãi đầu t vẫn đợc điều chỉnh bởi cơ chế xin -
cho và không phù hợp với tinh thần của Luật KKĐTTN cũng nh Luật doanh
nghiệp.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng còn gặp một số khó khăn khác nữa do
sự mâu thuẫn, chồng chéo của các luật, của các luật với các văn bản dới luật.
Chẳng hạn nh Luật Đất đai qui định điều kiện để đợc Nhà nớc giao đất, cho thuê
đất là có dự án đã đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt, trong khi Qui chế quản lý và
đầu t và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày
8/7/1999 của CP lại qui định các dự án của các thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh do chủ đầu t tự quyết định.
Một vấn đề nữa gây thiệt hại nhiều cho các DNNQD là có không ít cán bộ
công chức, nhất là cán bộ t pháp cán bộ điều tra, không phân biệt đợc ranh giới
pháp lý giữa tài sản công ty là pháp nhân với tài sản của thành viên và cổ đông,
23
không phân biệt đợc sự vi phạm pháp luật do thành viên, cổ đông hay giám đốc
với vi phạm của công ty. Vì vậy, khi thấy cổ đông, giám đốc hay chủ tịch HĐQT
có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc bị khởi tố điều tra liền phong toả niêm phong
hay tịch thu tài sản của công ty khiến hoạt động của công ty đó bị ngng trệ. Kết
cục khó tránh khỏi là doanh nghiệp đó bị giải thể hoặc phá sản. Cách xử lý nh trên
là không tôn trọng nguyên tắc độc lập về tài sản của pháp nhân và thành viên, vi
phạm nghiêm trọng đối với quyền sở hữu tài sản của pháp nhân đã đợc qui định
tại Bộ luật hình sự.
Không những hệ thống pháp luật nớc ta còn cha đầy đủ, hoàn thiện mà việc
thực hiện luật pháp cũng rất kém. Nguyên nhân của việc thực hiện luật pháp kém
là:
- Dân ta ít hiểu biết và không có thói quen tìm hiểu luật pháp.
tâm, chú ý đến DNNQD hơn trớc,bên cạnh ngân hàng thơng mại và cổ phần nhà
nớc, các quỹ tín dụng cung cấp tài trợ cho những doanh nghiệp này, chính phủ
cũng đã cố gắng thành lập các quỹ hỗ trợ DNNQD: quỹ hỗ trợ DNNQD, quỹ hỗ
trợ phát triển...
Mặc dù chính sách tài chính tín dụng đã có nhiêù cố gắng và tiến bộ nhng
vẫn cha đáp ứng đợc với nhịp độ đổi mới chung của nền kinh tế, còn thấp xa so
với đòi hỏi bức bách của nền kinh tế nhiều thành phần trong đó có DNNQD.
Những cuộc điều tra gần đây cho thấy vốn vẫn đợc coi là khó khăn cơ bản đối với
sự phát triển của DNNQD. Mặc dù DNNQD nói chung chiếm 97% tổng số doanh
nghiệp trong nền kinh tế nhng nguồn vốn chỉ chiếm 30% đồng vốn của khu vực
doanh nghiệp. Điều này chứng tỏ rằng DNNQD đang đối mặt với khó khăn thiếu
vốn cho sự hoạt động và phát triển. Mặt khác ta lại thấy rằng, theo quy định hiện
hành có liên quan đến chính sách tín dụng, các doanh nghiệp kể cả DNNQD đều
có thể tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng. Tuy nhiên do những hạn chế trong thể
lệ tín dụng, các DNNQD không thể tiếp cận đợc với các nguồn tín dụng để thành
25