LUẬN VĂN:
Những giải pháp cơ bản để thực hiện kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm
2001-2005 tỉnh Yên Bái
Lời nói đầu
Qua 10 năm phát triển, kinh tế Yên Bái đã phát triển và tăng trưởng với nhịp độ
khá cao và ổn định so với các tỉnh thuộc miền núi phía Bắc (tốc độ tăng trưởng
GDP/người từ 1991-2000 đạt 7.81%) cơ cấu kinh tế có sư chuyển dịch tích cực, đời sống
nhân dân tiếp tục được cải thiện.
Bên cạnh những kết quả đạt được Yên Bái là tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó
khăn, điểm xuất phát nền kinh tế thấp, vẫn là tỉnh nghèo, kinh tế hàng hoá chậm phát
triển.
Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân đáng quan tâm là do
chúng ta chưa xem xét đầy đủ đến một chiến lược phát triển toàn diện mà trong đó kế
hoạch 5 năm đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế xã
hội.
Xuất phát từ luận cứ trên cùng với thời gian thực tập ở Cục Thống Kê Yên Bái,
Vì vậy Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế là một tất yếu khách quan. Nhà nước
thường sử dụng các công cụ sau để điều tiết thị trường đó là : kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội, luật pháp các chính sách kinh tế các đòn bẩy kinh tế , lực lượng kinh tế của Nhà
nước. Trong hệ thống các công cụ nói trên kế hoạch phát triển Kinh Tế -Xã Hội có
nhiệm vụ xác định mục tiêu phương hướng phát triển toàn bộ nền Kinh Tế Quốc Dân và
đề ra các giải pháp để thực hiện dước các mục tiêu và phương hướng đó.
Dựa vào định hướng phát triển kinh tế xã hội nhà nước sử dụng đồng bộ các
công cụ khác nhau nhằm thực hiện định hướng đã vạch ra với hiệu qủa kinh tế cao.
a .Khái niệm
Kế hoạch hoá là sự thể hiện ý đồ phát triển của chủ thể quản lý đối với 1
đối tượng quản lý và phương thức tác động để đạt được các mục tiêu đặt ra: làm gì? làm
như thế nào? khi nào? ai làm ?
Kế hoạch phát triển Kinh Tế- Xã Hội là một phương thức quản lý nhà nước
bằng mục tiêu. Nó thể hiện ở việc chính phủ xác định về các mục tiêu kinh tế xã hội cần
phải hướng đến trong một thời kỳ nhất định (trong một năm, 5 năm) và cách thức để đạt
được mục tiêu đó thông qua các chính sách, các biện pháp và định hướng cụ thể .
Kế hoạch phát triển Kinh Tế Xã Hội là một trong những công cụ chính sách
quan trọng nhất của Nhà nước nhằm tác động ,hướng dẫn , kiểm soát (một số) hoạt động
của tư nhân để đảm bảo sự thống nhất của khu vực tư nhân với các mục tiêu phát triển dài
hạn. Nó thể hiện sự cố gắng có ý thức của chính phủ trong việc thiết lập các mối quan hệ
giữa nhu cầu của Xã Hội và các giới hạn nguồn lực để chọn một phương án nhằm đáp
ứng tối đa được nhu cầu của Xã Hội trong điều kiện sử dụng có hiệu quả hiệu quả nhất
các yếu tố nguồn lực hiện có.
Nó bao gồm 2 vấn đề :
- Lập kế hoạch: là quá trình lựa chọn các phương án có thể có để xác định một
phương án tối ưu cho quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải xây dựng
nhiều phương án rồi từ đó chọn lựa ra một phương án tối ưu nhất .
mục đích cụ thể. Qua đó ta có thể đưa ra các giải pháp lựa chọn phương án tối ưu. Mặt
khác chỉ tiêu kế hoạch phải được xây dựng trong một khoảng và phải tạo ra được các
phương án thay thế khác nhau . - Trong việc triển khai thực hiện kế hoạch áp dụng nguyên tắc thay đổi theo
kiểu (hàng hải ) nghĩa là dựa vào mục tiêu theo dõi mục tiêu và điều khiển theo sự
biến động của bên ngoài.
- Trong việc tổ chức hệ thống quản lý kế hoạch lựa chọn cán bộ kế hoạch
giao quyền cho các đơn vị trực thuộc .Tạo điều kiện thuận lợi cho cấp dưới phát huy
hết khả năng của mình.
2. Vị trí của kế hoạch 5 năm phát triển Kinh Tế Xã Hội
Hệ thống Kinh Tế Quốc Dân xét theo thời gian gốm có :
- Chiến lược phát triển
- Kế hoạch 5 năm
- Kế hoạch hàng năm
Giữa chiến lược phát triển kế hoạch 5 năm kế hoạch hàng năm phải có sự ăn
khớp về phương hướng phát triển. Mối quan hệ hưũ cơ giữa chiến lược, kế hoạch 5 năm,
kế hoạch hàng năm được đảm bảo nhờ có mục tiêu chung và những giải pháp chủ yếu
giải quyết các vấn đề Kinh Tế- Xã Hội theo những nguyên tắc và phương pháp luận
thống nhất của Kế hoạch hoá Kinh Tế- Quốc Dân.
Tuy mỗi loại kế hoạch có một đặc điểm nhiệm vụ chức năng riêng. Nhưng kế
hoạch 5 năm là hình thức kế hoạch chủ yếu của hệ thống Kế Hoạch Hoá Quốc Dân, là
loại kế hoạch có vị trí quan trọng. Điều này được thể hiện ở những phân tích sau:
Chiến lược phát triển là tổng hợp sự phân tích, đánh giá và lựa chọn về căn
cứ, các quan điểm, các mục tuêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong một khoảng
thời gian dài trên 10 năm và những chính sách thể chế để thực hiện các nội dung đề ra.
Thời gian xây dựng chiến lược từ 20 năm đến 30 năm còn gọi là tầm nhìn.
Chiến lược cụ thể hoá tầm nhìn là cơ sở để xây dựng chiến lược một cách thuận lợi.
Ngay từ đầu những năm 1990, chúng ta đã xây dựng chiến lược phát triển
Kế hoạch tạo ra những thay đổi lớn trong cơ cấu đồng thời thường xuyên duy
trì tính cân đối của các yếu tố và các lĩnh vực kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đến nay chúng ta đang thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ 7(2001-2005). Qua những
chặng đường 5 năm kinh tế lại có sự chuyển dịch đáng kể .
Từ những trình bày ở trên cho thấy kế hoạch 5 năm là yếu tố kết dính trong hệ
thống kế hoạch hoá và là trọng tâm là công cụ quản lí vĩ mô quá trình phát triển trong
thời hạn 5năm. Kế hoạch 5 năm được xây dưng trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xã
hội và quy hoạch phát triển. Cho nên có thể nói rằng kế hoạch 5 năm là bước đi cơ bản để
thực hiện chiến lựoc phát triển .
Trong công cuộc đôỉ mới của dất nược chúng ta đã qua hai kỳ kế hoạch đó là
kế hoạch 5 năm lần thứ 5&6, đây được coi là bước đi hết sức quan trọng của quá trình đổi
mới .Hai thời kỳ kế hoạch đó mang lại cho chúng ta nhiều thành tựu to lớn và bên cạnh
đó là những bài học kinh nghiệm để chúng ta tiếp tục đổi mới công tác kế hoạch hoá ở
những chặng đường tiếp theo.
Đại Hội Đảng lần thứ IX đã định hướng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp. Trong khoảng thời gian đó chúng ta xây dựng chiến lược
2001-2010 từ đó xây dựng kế hoạch lần thứ 7(2001-2005) lần thứ 8 (2006-2010) .
Kế hoạch 5năm 2001-2005 là hết sức quan trọng vỉ nó là bước đi đầu tiên xây
dựng nền móng cho một nước Việt nam cơ bản trở thành nước công nghiệp.
Mặt khác nghị quyết đại hội 8 đã đặt ra yêu cầu chuyển dần sang kế hoạch 5 năm
là chính, có phân ra từng năm.
Vậy nhằm nâng cao chất lượng công tác Kế Hoạch Hoá ở nước ta cần coi trọng
Kế Hoạch 5 năm và lấy Kế Hoạch 5 năm là hình thức chủ yếu quản lý nền Kinh Tế Quốc
Dân .
Kế hoạch hàng năm.
Kế hoạch hàng năm là công cụ triển khai cụ thể hoá kế hoạch 5 năm là phân đoạn
5 năm.
Mặt khác kế hoạch hàng năm còn là công cụ hoàn thiện kế hoạch 5 năm, có
- Xác định các phương án phát triển kinh tế vĩ mô dài hạn và trung hạn, trong đó
có các chỉ tiêu cơ bản như tốc độ tăng trưởng GDP, định hướng kinh tế đối ngoại, phát
triển xã hội,
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thành phần kinh tế, hợp tác đầu tư đối
với toàn bộ nền kinh tế cũng như các địa bàn trọng điểm và các ngành quan trọng.
1.3. Xây dựng quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các vùng và
các ngành kinh tế là xây dựng khung vĩ mô về xây dựng và tổ chức không gian, nhằm
cung cấp những căn cứ khoa học cho các cấp để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các
kế hoạch, các chương trình và dự án đầu tư, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh,
bền vững và có hiệu quả. Các dự án quy hoạch là những đề tài khoa học lớn, phối hợp sự
cộng tác nghiên cứu của các ngành, các bộ và các địa phương, nhằm phân tích đúng thực
trạng kinh tế - xã hội, các lợi thế của các ngành, các vùng: trên cơ sở đó đề ra phương
hướng phát triển các ngành, các vùng: trên cơ sở đó đề ra phương hướng phát triển các
ngành và vùng cho từng giai đoạn nhất định và xác định những điều kiện cần thiết (vốn,
chính sách ) để thực hiện các quy hoạch này.
Các quy hoạch phát triển được xây dựng dựa trên chiến lược hướng tới xuất khẩu,
tìm ra và phát huy lợi thế từng vùng và liên kết giữa các vùng, nhằm nâng cao hiệu qủa
và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Các giải pháp thực hiện quy hoạch không chỉ quan tâm tới nguồn và hướng đầu tư
xây dựng cơ sở vật chất mà còn chú trọng đến nhân tố con ngươì, đến sự phát triển của
khoa học công nghệ và đổi mới quản lý sản xuất.
1.4. Xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm.
Xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm là một nhiệm vụ quan trọng của công tác
kế hoạch hoá nhưng với phạm vi, phương pháp và nội dung ở tầm vĩ mô.
* Về phạm vi kế hoạch hoá: phạm vi kế hoạch hoá không chỉ bao quát các doanh
nghiệp thuộc khu vực Nhà nước mà phần nào đã bao quát được các doanh nghiệp thuộc
các thành phần kinh tế khác.
Kế hoạch kinh tế hàng năm bao hàm các chính sách linh hoạt, phù hợp với những
thay đổi ở trong và ngoài nước mà không dự kiến hết trong khi xây dựng kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch bổ sung và thúc đẩy cho kế hoạch 5 năm thực hiện thành công.
1.5. Xây dựng các chương trình quốc gia và dự án phát triển.
Các chương trình quốc gia được tiến hành đồng thời với việc xây dựng kế hoạch 5
năm và hàng năm.
Chương trình quốc gia là tập hợp các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ về
kinh tế , xã hội, khoa học và công nghệ, môi trường, cơ chế, chính sách để tổ chức thực
hiện một hoặc một số mục tiêu đã được xác định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội chung của đất nước. Khi xây dựng một chương trình quốc gia đòi hỏi phải xác định
rõ các mục tiêu của chương trình đối với sự phát triển của đất nước; xác định rõ các giải
pháp cần thiết đảm bảo thực thi chương trình như giải pháp về vốn, phương thức vay và
hoàn vốn, nguyên liệu, máy móc, ; hiệu quả của chương trình thông qua các chỉ tiêu về
lợi ích kinh tế - xã hội đem lại, đối tuợng được hưởng thụ kết quả của toàn bộ chương
trình Các chương trình quốc gia phải được Chính phủ xem xét và được Quốc hội thông
qua trước khi vào thực hiện.
Trong quá trình thực hiện chương trình, nếu cần thay đổi mục tiêu xã hội và điều
kiện cân đối, các cơ quan chức năng sẽ xem xét và điều chỉnh trong thời gian xây dựng
kế hoạch 5 năm và hàng năm. Nếu các vấn đề kinh tế - xã hội cụ thể từng khu vực, từng
vùng thì có thể chuyển sang cho các Bộ, Ngành địa phương để tập trung làm tốt các
chương trình đã được xác định, tránh chồng chéo, bảo đảm hiệu quả và tính thiết thực của
chương trình.
Để thực hiện được các chương trình phát triển kinh tế - xã hội thì cần thiết phải
xây dựng các dự án phát triển. Mỗi chương trình cần được cụ thể hoá bằng nhiều dự án
phát triển. Mỗi dự án phát triển hướng tới một mục tiêu nào đó của chương trình. Tuy
nhiên một số dự án có thể xác định từ kế hoạch 5 năm và hướng tới mục tiêu của kế
hoạch 5 năm. Vì vậy dự án có vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định phát triển, đó
là:
- xã hội trong và ngoài nước, mối tác động của các yếu tố liên quan, những thuận lợi và
khó khăn trong quá trình phát triển của thời kỳ kế hoạch.
- Lựa chọn các phương án phát triển, phân tích từng phương án dựa trên việc dự
báo các tình huống phát triển. Có phương án phát triển dựa vào khả năng vượt những khó
khăn, tồn tại và duy trì, phát triển những yếu tố thuận lợi. Đồng thời cũng xây dựng
những phương án với những dự báo có nhiều khó khăn, để chủ động trong việc điều hành
kế hoạch trong suốt thời gian thực hiện.
- Xây dựng hệ thống các quan điểm phát triển dựa vào chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội cuả đất nước và sự phân kỳ các giai đoạn phát triển. Nội dung này bao gồm
thiết lập hệ thống các tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế hoạch xuyên suốt trong thời kỳ kế
hoạch. Một số quan điểm cần phải được nghiên cứu là.
+ Quan điểm về việc kết hợp tăng trưởng ổn định bền vững và tạo điều kiện phát
triển cho giai đoạn sau :
Quan điểm về kết hợp hài hoà kinh tế và xã hội .
Quan điểm về phát triển diện và điểm .
Quan điểm về kết hợp nguồn nội lực và khai thác nguồn nội lực bên
ngoài .
- Xác định mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của nền kinh tế : ở cấp tổng thể nền
kinh tế, cần xác định hệ thống mục tiêu kinh tế vĩ mô, bao gồm một số mục tiêu cơ bản :
+ Tăng trưởng kinh tế mà mục tiêu tổng quát là tốc độ gia tăng GDP, theo đó là
tốc độ gia tăng ngành công nghiệp, nông, lâm, ngư nghiệp, dịch vụ.
+ ổn định tài chính trong tỉnh, tăng khả năng và tiềm lực tài chính, xử lý hài hoà
quan hệ tích luỹ - tiêu dùng, tăng khả năng đầu tư phát triển.
+ Tăng khả năng đối ngoại, xuất - nhập khẩu và thu hút nguồn vốn từ bên ngoài.
+ Bảo đảm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, phát triển dân trí, cải thiện dân
sinh và các mặt xã hội. - Xây dựng hệ thống các cân đối vĩ mô chủ yếu, bao gồm việc tính toán và xác
định các cân đối về tích luỹ tiêu dùng, cân đối ngân sách, cân đối về đầu tư phát triển
3. Các Phương pháp Kế Hoạch Hoá.
3.1 Phương pháp theo mô hình Tăng trưởng tổng quát .
a. Nội dung
Bản chất của phương pháp này là nghiên cứu và mô tả nền kinh tế dưới sự tác
động của một loạt các biến số kinh tế quan trọng có liên quan đến mức và tỷ lệ tăng
trưởng GDP như S(tiết kiệm)I (đầu tư)X(xuất khẩu)M(nhập khẩu)Trợ giúp và đầu tư
nước ngoài
Đây là mô hình biến dạng khác của mô hình HARROD DORMAR cải cách
trường phái J.Keynes(1940)
Nền kinh tế luôn luôn cân đối ở mức dưới cân bằng đó là nguyên nhân luôn
luon tồn tại yếu tố du thừa nguồn lực. Vậy muốn tăng GDP thì phải huy động được các
yếu tố dư thừa đó vào quá trình sản xuất.
Để có thể huy động được các nguồn lực dư thừa thì phải có các biện pháp để
kích cầu(tăng quy mô của đầu tư)đầu tư tư nhân và đầu tư xã hội, từ đó tạo điều kiện tăng
tiết kiệm
b.Vận dụng phương pháp
* ) Xây dựng được các chỉ tiêu trong kế hoạch tăng trưởng kinh tế (g
k
,y
k
)
- Dự báo một hệ số ICOR cho thời kỳ kế hoạch
+ Căn cứ vào hệ số ICOR kỳ gốc
+ Khả năng dự trữ nguồn lực
+ Sự phát triển trong thời kì kế hoạch của các yếu tố công nghệ và kỹ thuật Từ đó chúng ta đưa ra dự báo nhiều phương án về hệ số ICOR
- Thống kê tổng hợp các số liệu về mức đầu tư kỳ gốc. Tăng đầu tư xã hội kỳ
gốc để mức vốn đầu tư chuyển thành mức vốn sản xuất
+ Đầu vào tiêu dùng xã hội.
+ Tái đầu tư tích luỹ.
+ Xuất khẩu.
Sản phẩm A phục vụ cho tiêu dùng. Sử dụng các yếu tố đầu vào là sản phẩm
của các ngành khác.
b. Nội dung bản cân đối liên ngành
Nguyên tắc:
- hàng ngang: Sản xuất(Đầu ra).
- Hàng dọc : Tiêu dùng(đầu vào)
- Góc 1/4 bên trái phía trên mô tả các hoạt động trao đổi và giao dịch mang
tính chất trung gian.
- Cộng theo hàng ngang, ngành A cung cấp cho các ngành khác và là đầu vào
trung gian.
- Cột dọc: cơ cấu đầu vào của một ngành nào đó(giá trị thu mua của một
ngành đối với các ngành khác)
Tổng giá trị thu mua bằng tổng giá trị trung gian.
- Góc 1/4 bên phải phía trên là mô tả các hoạt động trao đổi và cung cấp
hàng hoá cuối cùng.
- Cộng theo hàng ngang của góc 1/4 bên trái cộng 1/4 bên phải phía trên ta
được tổng đầu ra.
- Một phần hai phía dưới mô tả các hoạt động thanh toán ban đầu và thanh
toán cho tiêu dùng cuối cùng.
+ Góc 1/ 4 bên trái: thanh toán ban đầu.
+ Góc 1/4 bên phải : thanh toán cuối cùng.
- Cộng góc 1/4 bên trái phía trên và dưới theo cột được tổng giá trị (GO đầu
vào) tiêu dùng. - Cân đối GO sản xuất và tiêu dùng:
GO = VA + IE
hoặc tính chỉ tiêu cho các năm cuối.
+ Ưu điểm:
Phương pháp này dễ tính toán vì muốn xây dựng kế hoạch cho 5 năm tiếp theo thì
lấy số liệu kế hoạch và thực tế của kỳ trước rồi nhân với hệ số phát triển bình quân của
các giai đoạn trước. Bên cạnh đó, là cũng dễ quản lý, dễ theo dõi đánh giá hơn khi dựa
vào các chỉ số bình quân khi thực hiện kế hoạch.
+ Nhược điểm:
Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp này được cho là duy ý trí, cứng nhắc,
mất đi tính linh hoạt và mềm dẻo của kế hoạch. Vì là chỉ tiêu bình quân và được xác định
trong khoảng thời gian dài (5 năm) nên có nhiều tác động bên ngoài vào thực hiện kế
hoạch (như khủng hoảng, lạm phát, sự thay đổi của chính sách ) mà ta khó có thể dự
đoán trước được nên các chỉ tiêu đưa ra bị gò bó, khó điều chỉnh thay thế cho phù hợp
với thay đổi ngoại cảnh.
Phương pháp 2 : Kế hoạch 5 năm “Cuốn chiếu”.
Khoảng thời gian cố định là 5 năm nhưng thời gian cụ thể thì thay đổi (luân
chuyển sau mỗi một năm của thời kỳ 5 năm).
Cách tính toán chỉ tiêu - Xây dựng cụ thể các chỉ tiêu kế hoạch cho một năm đầu.
Dự tính, tính toán một số chỉ tiêu năm sau và dự báo một số chỉ tiêu cho những năm còn
lại.
- Kế hoạch 5 năm điều chỉnh khi hoàn thành kế hoạch một năm đầu, sau đó,
chuyển mốc thời gian mới bằng cách thêm một năm. Ví dụ: Xây dựng kế hoạch 2001 - 2005, khi thực hiện xong kế hoạch năm 2001 thì
xây dựng tiếp kế hoạch 2002 - 2006. Sau khi đã điều chỉnh (nếu có) một số thay đổi bên
ngoài ở năm 2001.
+ Ưu điểm :
Kế hoạch được xây dựng theo phương pháp này khắc phục được hạn chế của kế
hoạch 5 năm “Thời kỳ” đó là nó đã là kế hoạch mang tính linh hoạt, mềm dẻo. Các thông
tin mang tính cập nhập, ứng biến xử lý kịp thời các tác động chưa lường trước được vào
năm 22-23
0
c. Lượng mưa lớn trung bình 1500-2000mm/năm, độ ẩm trung bình 83-87%
rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Yên Bái có 3 hệ thống sông suối lớn: Sông Hồng, sông chảy và suối Nậm kim
(1nhánh của sông Đà ) với tổng chiều dài 320km. Hệ thống chi lưu của nó được phân bố
đều trên toàn lãnh thổ ngoài hệ thống sông suối Yên Bái còn có 20.100ha diện tích mặt
nước hồ ao ( trong đó hề Thác Bà có diện tích mặt nước là 19.000ha) lợi thế này được
khai thác nhà máy thuỷ điện thác bà được xây dựngtừ năm 1960- 1995 với sản lượng điện phát ra 0,5 tỷ kw là cơ sở để xây dựng hệ thống nước sạch, xây dựng thuỷ lợi phục
vụ phát triển nông nghiệp, xây dựng cơ sở du lịch trước mắt và lâu dài.
Về tài nguyên khoáng sản phong phú đa dạng ( than, đá vôi, cát, sỏi đá quý, sát,
vàng, nước khoáng không là cơ sở để phát triển các ngành công nghiệp . về tài nguyên
đất và rừng là tỉnh có diện tích đất tự nhiên 6.882,92 km
2
, trong đó đất nông nghiệp
66,92km
2
chiếm 9,69%, đất có rừng 2,587km
2
chiếm 37,6%, diện tích đất chưa sử dụng
3,307km
2
chiến 485. Đặc biệt đất có thế mạnh trong sản xuất hàng hoá và xuất khẩu, là
cơ sở để xây dựng trang trại tư nhân trong thập kỷ tới.
Tóm lại với vị trí địa lý thuận lợi, với tại nguyên phong phú và do cơ chế mở cửa
với sự quan tâm của trung ương, của các tổ chức quốc tế. Yên Bái có thể xây dựng một
tỉnh có cơ cấu kinh tế hợp ký (công nông nghiệp, dịch vụ ) đảm bảo mức tăng trưởng
750 tỷ, Hiệu quả đầu tư vào lĩnh vưc xây dựng hạ tầng cơ sở, sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp xây dựng giao thông, phúc lợi công cộng nhằm mục đích thúc đẩy nên sản xuất
phát triển, chuyển dịch cơ cấu đúng hướng để nâng cao đời sống vật chất tinh thân cho
nhân dân.
- Về xã hội.
Với số dân hơn 60 vạn người, Yên Bái có 29,2 vạn người trong độ tuổi lao động,
trong đó số lao động được giải quyết việc làm chỉ có 1,3 vạn người. Số lao động có trình
độ Đại học và Cao đẳng chiến 8,9%. Trung học chuyên nghiệp 8,9%, công nhân kỹ thuật
7,21%.
Công tác kế hoạch hoá gia đình được thực hiện tốt, chăm sóc Ytế cũng được phát
triển.
Đưa GDP bình quân đầu người vào năm 2000 tăng 2,5 lần so với năm 1990
khoảng 300USD trở lên, đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm 11%, có cơ cấu
nông nghiệp 4,5%, công nghiệp - Xây dựng - Thương mại - Dịch vụ 55% ( công nghiệp
25% dịch vụ thương mại 30%) xoá đói giáp hạt rút ngắn khoảng cách giàu và nghèo, tăng
số hộ khá giàu lên 30%, giảm số hộ nghèo xuống 50% so với hiện nay” II. Thực trạng
1>. Đánh giá tổng quát tình hình phát triển Kinh Tế - Xã Hội tỉnh Yên Bái thời kỳ
1996- 2000.
Thực hiện kế hoạch phát triển Kinh Tế- Xã Hội 5 năm 1996 - 2000 trong điều
kiện nền kinh tế nước ta đang trên đà từng bước phát triển, trên cơ sở thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển mạnh sang sản xuất
hàng hoá. Trong những năm qua tỉnh chỉ đạo tập trung đầu tư vào các ngành sản xuất,
dịch vụ, đạt tổng giá trị tăng thêm từ 895116 triệu đồng năm 1995 lên 1323.965 triệu
đồng/ năm 2000, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996 - 2000 lên 8,14%/năm,
vướt so với thời kỳ 1991 - 1995: 0,64%, những thấp hơn mục tiêu 2,86%.
Đối với các nghành kinh tế chủ yếu thời kỳ 1996 - 2000 vẫn giữ được tốc độ
tăng trưởng khá : Nghành Nông lâm nghiệp tăng bình quân 5,34%, cao hơn thời kỳ 1991