Đề tài "Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực trong học tập môn tiếng Anh cho học sinh khối 8” pot - Pdf 12

A.ĐẶT VẤN ĐỀ.
Hiện nay tiếng Anh được sử dụng ở hầu hết mọi lĩnh vực trong cuộc sống và
nó được coi là ngôn ngữ quốc tế số một trên thế giới. Vì thế việc dạy và học ngoại
ngữ đang đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Trước
đây, việc giảng dạy ngôn ngữ chỉ chú tâm vào ngữ pháp và cấu trúc câu. Ở thời
điểm đó, việc giảng dạy ngoại ngữ bị chi phối bởi phương pháp dạy truyền thống,
trong đó giáo viên là người chi phối mọi hoạt động dạy và học trên lớp và môi
trường học tập chủ yếu là môi trường lấy người dạy làm trung tâm.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của xã hội, phương pháp dạy học cũng thay đổi
để đáp ứng nhu cầu sử dụng thành thạo các kĩ năng giao tiếp tiếng Anh ngày càng
tăng. Chính nhu cầu này đã tạo ra đòi hỏi cao về chất lượng giảng dạy, cũng như về
các nguồn và tài liệu phục vụ giảng dạy ngoại ngữ. Ngoài ra nhu cầu về phương
pháp giảng dạy phù hợp hiện nay cũng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chính vì
thế phương pháp giảng dạy chuyển từ phương hướng lấy người dạy làm trung tâm
sang người học làm trung tâm. Ở đó người học được giao tiếp trong môi trường
giao tiếp thật sự, được hoạt động theo cặp hay theo nhóm nhỏ để thực hiện các
công việc cụ thể. Người học có cơ hội để bày tỏ ý kiến hay cảm xúc của mình và
được đặt câu hỏi nếu chưa hiểu một vấn đề nào đó.

Xuất phát từ thực tiễn và lý do trên, trong quá trình giảng dạy tôi đã tích
cực tham khảo tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn cũng như tham khảo ý
kiến của bạn bè đồng nghiệp ở trong và ngoài nhà trường. Đặc biệt là sự cố gắng,
nỗ lực của bản thân qua quá trình giảng dạy, tôi đã có thể khơi gợi được niềm đam
mê, sự hứng thú, tích cực học tập trong các giờ học ngoại ngữ đối với các em học
sinh lớp 8. Nhờ đó mà chất lượng và hiệu quả của môn học được nâng lên rõ rệt.
Xin được nêu lên những kinh nghiệm đó qua đề tài "Một số biện pháp nhằm phát
huy tính tích cực trong học tập môn tiếng Anh cho học sinh khối 8” để bạn bè đồng
nghiệp cùng tham khảo và đóng góp ý kiến bổ sung.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ.

hoặc cảm giác “chợt hiểu ra”.
Học tập qua “làm” có vai trò như sau:
- Nói cho tôi nghe -> tôi sẽ quên
- Chỉ cho tôi thấy -> tôi sẽ nhớ
- Cho tôi tham gia -> tôi sẽ hiểu
Hay nói cách khác:
- Ta nghe- ta sẽ quên
- Ta nhìn - ta sẽ nhớ
- Ta làm - ta sẽ học được
Đối với mô hình này học sinh sẽ phải tự tìm tòi, sáng tạo và giải quyết vấn đề.
Có như vậy các em mới nhớ và hiểu bản chất của vấn đề.
Học tập đa giác quan chính là việc học sinh vận dụng các giác quan sử dụng
trong học tập. Trong đó:
- Thị giác : 65%
- Thính giác: 25%
- Xúc giác: 6%
2
- Khứu giác: 2%
- Vị giác: 2%
Từ đó ta có mô hình sau: Quan sát -> diễn giải -> thực hành -> chứng minh.
Nói chung, để làm tốt được điều này thì giáo viên cần xây dựng tập thể lớp tự
giác học tập. Từ đây các em thấy được tầm quan trọng của tính tự giác trong học
tập và cảm thấy ham học, nỗ lực thi đua trong học tập. Thành công của một tiết dạy
phụ thuộc rất nhiều vào sự tích cực của học sinh.
II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.Thực trạng chung:
Việc dạy và học ngoại ngữ đang là mối quan tâm hàng đầu của nền giáo dục
nước nhà để đáp ứng được với sự phát triển của xã hội. Thực tế cho thấy học sinh
chỉ chú trọng học cấu trúc ngữ pháp cho nên các em không thể giao tiếp tiếng Anh
thành thạo ngoài cuộc sống. Và các em còn khá chậm trong phản xạ nghe-nói tiếng

III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Sau đây là một số giải pháp mà tôi đã áp dụng trong quá trình giảng dạy bộ
môn tiếng Anh khối 8 học kì I năm học 2012-2013 .
1. Giải pháp thực hiện.
a) Phần vào bài (Getting started).
Trong tiếng Anh 8, phần vào bài được thể hiện ở mục “Getting started”. Mục
đích của phần này là để học sinh cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài và
để giáo viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho hoạt động của bài mới.
Phần khởi động thường chỉ chiếm một thời gian ngắn so với cả bài học song
vô cùng quan trọng. Nó có mục đích là chuẩn bị về tâm lý, kiến thức cho bài học
mới, gây hứng thú cho bài học mới, là tiền đề để tạo một giờ học sôi nổi tích cực.
Nếu làm tốt được phần này thì học sinh sẽ có hứng thú và sôi nổi hơn ở các phần
sau.
Vì thế, giáo viên cần phải đầu tư và lựa chọn các thủ thuật khác nhau để tránh
gây nhàm chán cho học sinh. Tích cực sử dụng tranh ảnh hoặc vật thật (nếu có thể)
để gây hấp dẫn cho bài học. Hoặc giáo viên cũng có thể cho học sinh chơi một số
trò chơi nhỏ để khai thác các kiến thức cũ và dẫn dắt vào bài mới.
- Ví dụ: Unit 8: Country life and city life (Lesson: Getting started, listen and
read)
Đầu tiên giáo viên sẽ dán hai bức tranh về thành phố và nông thôn lên bảng,
rồi đặt câu hỏi cho từng bức tranh.
- Where is this?
-> This is the city/ This is the country.
Sau đó giáo viên dán các từ cho trước về chủ đề thành phố và nông thôn lên
bảng nhưng không theo trật tự để yêu cầu học sinh sắp xếp. Giáo viên có thể lấy
thêm các từ mà các em đã học ở các lớp trước để ôn lại các từ vựng luôn.
4

Noisy fresh air friendly tall buildings kinds of goods
fresh foods beautiful views entertainments traffic jam

cấu trúc và giải thích cho học sinh một cách dễ dàng hơn vì lúc này các em đã hiểu
được vấn đề và các em cũng có thể tự đặt các từ khác như: fire-making, water-
fetching….
c) Dạy kĩ năng nói (speak).
Sau phần giới thiệu ngữ liệu là phần luyện tập nói, với các hình thức bài tập
và hoạt động ở mỗi bài khác nhau nhằm luyện tập sử dụng các trọng tâm cấu
trúc ngữ pháp, hay từ vựng để diễn đạt các chức năng ngôn ngữ theo các chủ đề
và tình huống có liên quan đến bài học. Giáo viên cần phải sử dụng thường
xuyên các hình thức luyện tập theo cặp, theo nhóm để các em có cơ hội được
giao tiếp bằng tiếng Anh. Giáo viên cần phải xếp nhóm xen kẽ giữa học sinh
yếu và học sinh học khá hơn để các em bổ trợ cho nhau. Học sinh học yếu có
thể học hỏi các bạn học khá ở trong nhóm. Giáo viên nên tổ chức thi đua giữa
các nhóm để tạo không khí sôi nổi và để học sinh thỏa sức diễn đạt bằng tiếng
6
Anh. Đặc biệt trong bài này giáo viên cố gắng chỉnh phát âm và ngữ điệu cho
học sinh để các em tiếp cận được phong cách của người bản ngữ.
Ví dụ: Unit 13: Festivals (lesson: Speak)
Sau khi giới thiệu ngữ liệu và ngữ cảnh giáo viên chuẩn bị tranh, bìa cứng có
sẵn đoạn hội thoại được đảo trật tự các câu như sau: Sau đó giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ, mối nhóm 6 học sinh yêu cầu
các em sắp xếp lại trật tự của đoạn hội thoại vào tờ giấy A4 rồi dán đáp án lên
bảng. Yêu cầu hai em trong đội đóng vai đọc lại đoạn hội thoại. Đội nào nhanh nhất
và nói đúng ngữ âm, ngữ điệu nhất sẽ là đội chiến thắng.
Từ đoạn hội thoại mẫu này giáo viên lại tiếp tục yêu cầu học sinh làm việc
theo cặp và xây dựng đoạn hội thoại theo chủ đề tự chọn:
• A village festival.
• A school festival.
• A spring festival.

lực chắp cánh ước mơ trở thành MC cho một số học sinh có năng khiếu.
e) Dạy kĩ năng đọc (read).
Giáo viên cũng thực hiện ba bước dạy đọc (trước khi đọc, trong khi đọc và
sau khi đọc). Giáo viên nên đơn giản hóa bài đọc bằng cách đưa ra một số bài tập
đơn giản như đưa ra một số câu nhận định đúng sai (T/F statements), sắp xếp lại vị
8
trí các câu theo đúng trình tự nội dung câu chuyện (Odering), dùng tranh và đặt câu
hỏi để học sinh đoán nội dung, yêu cầu học sinh đặt một số câu hỏi mà các em hi
vọng bài đọc sẽ trả lời….Để tránh nhàm chán, giáo viên nên thay đổi các thủ thuật
sao cho phù hợp với nội dung kiểu bài. Các bài đọc trong sách lớp 8 tương đối dài
với lượng từ mới phong phú nên học sinh dễ chán và không tích cực. Do đó, giáo
viên phải tạo ra các hoạt động để thu hút sự chú ý của học sinh và để các em tích
cực trong giờ học là vô cùng quan trọng.
Ví dụ: Unit 13: Festivals (Lesson read)
Trước khi dạy bài mới, thay vì một số các hoạt động quen thuộc giáo viên có
thể tổ chức trò chơi đoán tên bài hát “We wish marry chrismas” vì học sinh sắp
được học bài về lễ giáng sinh nên giáo viên sử dụng bài hát này để tạo sự hứng thú
cho các em. Giáo viên cho biết tên bài hát sẽ có 4 từ, sau đó cho cả lớp nghe bài hát
và yêu cầu học sinh đưa ra câu trả lời. Tiếp đó giáo viên có thể bắt đầu vào bài đọc
một cách dễ dàng. Sau bài học nếu còn thời gian giáo viên cho học sinh học hát bài
này :
We wish you a Merry Christmas
We wish you a Merry Christmas;
We wish you a Merry Christmas;

We wish you a Merry Christmas and a Happy New Year.
Good tidings we bring to you and your kin;
Good tidings for Christmas and a Happy New Year.

Thay cho tranh ảnh trong sách giáo khoa giáo viên nên chuẩn bị nhiều tranh

sinh chuẩn bị các từ ngữ liên quan tới một lễ hội mà các em từng tham gia hoặc
nhìn thấy.
Nếu học sinh chuẩn bị kĩ ở nhà thì khi tới lớp các em không cần phải mất thời
gian tìm từ và bài viết sẽ trôi chảy hơn. Các em sẽ có cơ hội để trình bày bài viết
của mình trước lớp và sẽ có được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn bè. Có
như vậy các em mới có thể tiến bộ và phát huy hết khả năng của mình.
2. Các biện pháp tổ chức thực hiện:
a) Sử dụng tối đa các phương tiện dạy học.
Có thể nói một trong những yếu tố quan trọng để phát huy tính tích cực của
học sinh chính là các giáo cụ trực quan. Do đó giáo viên cần phải tận dụng tối đa
các phương tiện dạy học như: Tranh, loa, đài, băng đĩa và máy chiếu. Giáo viên
cũng cần phải đầu tư dùng vật thật để dạy.
Ví dụ: Để dạy bài Đọc Unit 3 tôi đã mang các thứ sẵn có trong nhà như thuốc
tây, diêm, kéo, hạt tròn… để dạy “Đề phòng an toàn trong gia đình”.
Nhờ những vật thật này học sinh sẽ tiếp thu bài nhanh hơn, thú vị hơn, đồng
thời các em đỡ bị gò bó trong khuôn khổ sách giáo khoa. Qua đó, các em có thể
hiểu được luôn nội dung của bài đọc muốn nói tới cái gì.
Tóm lại, giáo viên phải luôn luôn biết tận dụng những thứ xung quanh mình
có thật ngoài cuộc sống để thay thế cho tranh ảnh trong sách giáo khoa. Những cái
học sinh nhìn thấy thì các em sẽ nhớ lâu hơn, tiếp thu bài nhanh hơn.
b) Lựa chọn kĩ thuật dạy học khéo léo.
Kĩ thuật dạy học là một trong những phần không thể thiếu trong dạy và học
ngoại ngữ. Giáo viên cần phải sử dụng một cách khéo léo và đúng với kiểu bài lên lớp.
Ví dụ khi dạy kĩ năng đọc hiểu giáo viên cần phải sử dụng kĩ thuật cho phù
hợp với ba bước:
- Trước khi đọc: Giáo viên có thể dùng các kĩ thuật như:
+ True/False statement prediction.
+ Odering the sentences.
+ Ordering the picture.
+ Answer the question.

hứng thú cho học sinh, khiến học sinh luôn trong tư thế sẵn sàng tham gia giờ học.
Trò chơi ngôn ngữ giúp học sinh biết cộng tác nhóm và cạnh tranh với những nhóm
khác. Sự cạnh tranh chính là sự khích lệ, thúc đẩy họ hoàn thành nhiệm vụ được
giao. Và hơn nữa khi tham gia vào trò chơi học sinh như được xóa đi khoảng cách
giữa thầy và trò, giữa những học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém, giúp các em tự
tin khi giao tiếp bằng tiếng Anh. Đó cũng là biểu hiện của một môi trường thân
thiện, lành mạnh trong giờ học.
Sau đây tôi xin giới thiệu một số những trò chơi mà tôi áp dụng từ các
“game show” trên truyền hình mà học sinh hưởng ứng rất tích cực.
Trò chơi “đối mặt”: Trò này có thể áp dụng cho Unit 4: Our past. Mục đích
của trò này là ôn lại các động từ bất quy tắc mà các em đã học. Giáo viên chọn 8
học sinh lên chơi trò chơi và đứng thành vòng tròn. Các em sẽ được bốc thăm thứ
tự và bắt đầu chơi. Các em sẽ phải lần lượt đưa ra cặp động từ thường và động từ
bất quy tắc của nó mà không được phép lặp lại. Ai không có câu trả lời hay trả lời
lặp lại sẽ bị loại khỏi trò chơi. Em còn lại cuối cùng sẽ dành chiến thắng.
12
Trò chơi “Ai là triệu phú”. Trò chơi này có thể áp dụng như sau: giáo viên
đặt câu hỏi và đưa ra 4 phương án trả lời để học sinh lựa chọn. Giáo viên có thể
chia lớp thành hai đội nhỏ và thi giữa hai đội. Mỗi câu trả lời đúng là 10 điểm. Đội
nào nhiều điểm nhất sẽ là đội chiến thắng.
Trò chơi “Chiếc nón kì diệu”. Trò chơi này là để đoán từ, có thể là từ chủ đề
của bài.
Ví dụ: Unit15: Computers.
Giáo viên cho 9 ô chữ để ghép thành từ: “computers”.

Giáo viên chia lớp thành 3 đội và đoán các chữ cái, đội nào đoán sai sẽ mất
lượt, đội nào đoán đúng một chữ cái được 10 điểm, đội nào đoán được cả từ sẽ
được 20 điểm và đội nhiều điểm nhất sẽ là đội chiến thắng.
13
Make-made

Thông thường học ngoại ngữ chỉ với 3 tiết trên lớp mỗi tuần theo tôi là
không đủ. Về nhà các em sẽ quên những gì mình đã học nếu như các em không trao
đổi thường xuyên với nhau. Bởi vậy tôi yêu cầu học sinh học theo nhóm ở nhà hai
lần mỗi tuần và giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm. Tôi cho các nhóm bốc thăm các chủ
đề gần gũi với bài học trên lớp để ở nhà các em thảo luận và đóng góp ý kiến cho
chủ đề đó. Ví dụ: khi học bài Unit 11: Travelling around Viet Nam. Tôi yêu cầu
học sinh bắt thăm 4 địa danh: Sa Pa, Da Lat, Nha Trang, Ha Long bay. Mỗi nhóm
phải giả sử nói về chuyến đi của mình tới nơi này và kể lại trước lớp vào hôm sau.
Theo tôi cách học nhóm này thật sự có hiệu quả phát huy tối đa khả năng
giao tiếp bằng tiếng Anh của học sinh.
IV. KIỂM NGHIỆM
Qua quá trình áp dụng những biện pháp mới vào thực tế giảng dạy, tôi nhận
thấy học sinh ngày càng có nhiều tiến bộ về học tập:
- Học sinh có hứng thú và tích cực hơn trong mọi hoạt động.
- Các tiết học trở nên sôi nổi và sinh động hơn.
14
- Cỏc em hc sinh yu kộm cng t tin hn khi hi thoi m khụng cũn s sai
hay t ty vi cỏc bn khỏc.
So sỏnh kt qu 2 ln kho sỏt cht lng:
* Ln 1: KSCL vo u nm hc 2012-1013 (thi im cui thỏng 9 nm
2012):

Tng s Gii Khỏ TB Yu Kộm
50 em 4 7 24 8 7
3.4% 15.3% 55.9% 13.6% 11.8%
* Ln 2: KSCL cui hc kỡ I nm hc 2012 -2013:

Tng s Gii Khỏ TB Yu Kộm
50em 10 21 26 2 0
8.5% 30.5% 52.5% 8.5% 0%

kiến này ngày càng đợc hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao chất lợng dạy học bộ
môn.
II. xut, kin ngh:
1. Mặc dù sáng kiến đã đem lại những kết quả rất tích cực nh đã nêu trên,
song cũng không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong đợc bạn bè
đồng nghiệp đóng góp ý kiến để sáng kiến đợc đầy đủ hoàn chỉnh hơn.
2. Kính mong lãnh đạo ngành Giáo dục quan tâm hơn nữa, đầu t, cung cp
thêm cỏc thit b nghe, nhỡn, mỏy chiu cho phũng hc ngoi ng. Thc t nu hc
sinh c hc thờm ting Anh qua bng hỡnh thỡ s ci thin c kh nng phỏt
õm rt nhiu, v hc sinh s d thuc bi hn.
3. Nh trng v cp trờn cng cần hỗ trợ thêm kinh phớ t chc cỏc bui
ngoi khúa ngoi ng cho hc sinh cỏc em cú c hi trao i kin thc v cú
mụi trng giao tip tht s.
Trờn õy l tt c nhng kinh nghim v xut nõng cao cht lng
dy v hc mụn ngoi ng. Tụi rt mong c s chia s ca cỏc bn.
XC NHN CA
HIU TRNG

Bn Thnh , ngy 20 thỏng 03 nm 2013
.
Ngi thc hin

Nguyn Th Thanh

MC LC
Trang
16
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. Cơ sở lý luận của vấn đề.

6
8
9
10
11
11
11
12
14
14
15
17


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status