Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hoá
Trường THPT Hoằng Hoá 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC CỦA HỌC SINH QUA DẠY PHẦN LỊCH SỬ VIỆT
NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 (LỚP 12 THPT)
@@@
Người thực hiện: Lê Thị Hồng
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
Đơn vị công tác: Tổ Sử - Địa – GDCD
SKKN thuộc môn: Lịch sử
Thanh Hoá năm 2013
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài.
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong
ngành giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ XX. Trong cuộc cải cách giáo
1
dục lần 2, năm 1980, phát huy tính tích cực đã là một trong các phương hướng cải
cách, nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước.
Cho đến nay trong lí luận cũng như thực tiễn, không ai phủ nhận vai trò to
lớn của người học, bởi suy cho cùng kết quả thu lượm kiến thức khoa học của học
sinh càng cao bao nhiêu, càng bền vững bao nhiêu thì chất lượng dạy học tốt bấy
nhiêu. Song thực tế cho thấy việc dạy học ở trường phổ thông vẫn còn nhiều điều
đáng lo ngại, chất lượng dạy học còn thấp, việc dạy học theo cách thức truyền
thống còn phổ biến, hiện tượng “thầy đọc, trò chép”, nhồi nhét kiến thức vẫn còn
tồn tại nhiều nơi.
Mặc dù phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng đã được
chú trọng đổi mới, cải tiến nhiều, tuy nhiên nhìn chung phương pháp dạy học lịch
sử vẫn chưa theo kịp các cải tiến về nội dung, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo. Có thể
III. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Do điều kiện về mặt thời gian ,đề tài chỉ đi vào đề cập một số biện pháp khi
dạy học phần: Lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 (SGK Lịch sử 12
THPT)
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
Vấn đề phát huy năng lực hoạt động độc lập, tích cực của học sinh trong dạy
học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng từ lâu đã được các nhà lí luận dạy học
cũng như giáo viên ở trường phổ thông đặc biệt quan tâm. Họ đều thừa nhận rằng
một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học là phải chú
trọng đến vai trò của người học, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học.
3
Vấn đề đặt ra cần giải quyết là: thế nào là tính tích cực trong hoạt động học
tập của học sinh? Với đặc trưng bộ môn, học sinh có thể hoạt động tích cực độc lập
được không? Làm thế nào, với phương pháp dạy học cụ thể nào để học sinh tích
cực hoạt động độc lập, tự mình lĩnh hội kiến thức?
Trong học tập lịch sử, quá trình nhận thức của học sinh được bắt đầu bằng
quan sát (tri giác) tài liệu, từ đó nhớ, hình dung lại để hình thành những mối liên hệ
tạm thời tương ứng (biểu tượng). Biểu tượng là dấu ấn ghi lại trong ý thức các em
những hình ảnh về sự kiện, hiện tượng lịch sử đã được tri giác. Song để hiểu sự
kiện, hiện tượng quá khứ, phải tìm ra bản chất của chúng, tức là hình thành khái
niệm lịch sử. Muốn làm được việc này phải thông qua các thao tác tư duy như: đối
chiếu, so sánh, phân tích, tổng hợp vạch ra dấu hiệu bản chất. Quá trình này không
tự diễn ra mà đòi hỏi phải có sự kích thích nhất định cho tư duy. Yêu cầu tìm ra bản
chất của sự kiện, hiện tượng quá khứ là những biểu hiện của những nhiệm vụ nhận
thức nảy sinh ra trên cơ sở tri giác. Chính các câu hỏi “như thế nào?”, “tại sao?”
sẽ kích thích óc tìm tòi, sự phân tích, so sánh và khái quát hoá của học sinh. Như
vậy, trong các hoạt động nhận thức lịch sử của học sinh (tri giác, nhớ, hình dung,
tưởng tượng, tư duy ) thì tư duy có vai trò quan trọng. Nếu không có hoạt động
của tư duy thì không thể nhận thức được bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử.
phát huy các năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của các
em. Song về biện pháp phát huy tính tích cực trong nhận thức của các em thì chưa
tốt. Thường giáo viên quan niệm rằng, đặt nhiều câu hỏi là đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích cực. Vì vậy, giờ học biến thành giờ “hỏi – đáp” quá căng
thẳng, khô khan, làm học sinh không hứng thú học tập. Bởi vì, hỏi – đáp chỉ là một
cách, muốn phát huy cách dạy học này phải kết hợp với các phương pháp khác, đặc
biệt là phương pháp bộ môn.
5
Thứ ba, không ít giáo viên, nhất là giáo viên ở các vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa… ít được cập nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức được tầm quan
trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay và chưa hiểu rõ nội dung của
công việc này. Vì vậy trong giờ học lịch sử, thầy làm việc là chủ yếu, trò thụ động
ghi chép còn khá phổ biến. Thậm chí, hiện tượng đọc chép còn tràn lan. Mặt khác,
một số giáo viên tuy nhận thức được vấn đề của đổi mới phương pháp dạy học nói
chung, dạy học lịch sử nói riêng nhưng lại lấy nguyên nhân học sinh yếu kém
không thể vận dụng các biện pháp đổi mới nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh được, cũng chỉ đọc chép, nhồi nhét kiến thức cho học sinh, cho nên không rèn
luyện cho các em năng lực độc lập chiếm lĩnh kiến thức và trang bị phương pháp
học tập tốt. Đây là một thực tế đáng buồn hiện nay, dẫn tới tình trạng học sinh
không thích học môn lịch sử.
Thứ tư, hiện nay SGK lịch sử đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới, được
sử dụng đại trà. Thực tiễn sử dụng SGK mới ở trường phổ thông cho thấy phương
pháp dạy học của giáo viên chưa theo kịp việc đổi mới nội dung của sách. Bài viết
trong sách trình bày ngắn gọn có tính gợi mở thì giáo viên chưa có đủ độ sâu về
kiến thức để hướng dẫn học sinh tìm ra những kiến thức chìm trong sách (ví như:
nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của sự kiện, đánh giá nhân vật…). Kênh
hình tăng lên so với sách cũ rất nhiều làm đa dạng nhận thức và bài học sinh động
hơn, học sinh học tập nhẹ nhàng hơn, song nhiều giáo viên chưa hiểu hết nội dung
kênh hình, hiệu quả sử dụng chưa cao. Vẫn còn nhiều giáo viên quan niệm: hỏi thật
nhiều là đổi mới, cho nên chỉ sử dụng câu hỏi mà không khai thác hết các nguồn
mong muốn ở học sinh về từng mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng. Khi đã có cái nhìn
toàn cục, khái quát, cần đi sâu từng mục nhằm tìm ra kiến thức cơ bản của mục đó,
7
sự liên quan của kiến thức đó với kiến thức toàn bài. Không nên dàn đều về mặt
thời gian cũng như khối lượng kiến thức của từng phần mà xác định phần nào lướt
qua, phần nào là trọng tâm. Mỗi bài cần phải xác định rõ phần đóng góp cụ thể về
mặt nội dung, tư tưởng, kĩ năng, kĩ xảo, các khái niệm cần giải thích cho học sinh
hiểu.
Như vậy, SGK là điểm tựa để người giáo viên xác định những kiến thức cơ
bản, xác định các khái niệm cần hình thành cho học sinh trong giờ học, là sự gợi ý
để lựa chọn phương pháp dạy học vừa phù hợp với đối tượng, vừa phát huy tính
tích cực hoạt động độc lập của học sinh.
1.2. Sử dụng SGK trong quá trình dạy học trên lớp.
Trong quá trình học bài ở trên lớp, học sinh thường theo dõi bài giảng của
giáo viên rồi đối chiếu, so sánh với SGK, thậm chí nhiều học sinh không ghi theo
bài giảng của giáo viên mà lại chép trong SGK. Vì vậy, bài giảng của giáo viên
không nên lặp lại ngôn ngữ trong SGK mà nên diễn đạt bằng lời của mình.
Ví dụ: ở mục 1 “Cuộc chiến đấu ở các đô thị phía bắc vĩ tuyến 16”(phần II)
Bài 18 “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp
(1946 – 1950)”, giáo viên lược thuật cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội giam
chân địch: “ Từ đầu tháng 12.1946, thực dân Pháp liên tục gây xung đột với công
an và tự vệ của ta, đặc biệt nghiêm trọng là vụ thảm sát tại Yên Ninh, Hàng Bún
ngày 17.12.1946. Trước hành động láo xược đó, ngày 19.12.1946, Hồ Chủ tịch đã
ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến “…chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định
không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đáp lại lời kêu gọi, các
chiến sĩ tự vệ Hà Nội đã thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Suốt hơn 20 ngày,
cuộc chiến đấu không cân sức giữa ta và địch đã diễn ra ác liệt tại các cửa ô, thực
dân Pháp sau khi chiếm được các cửa ngõ, chúng tập trung định tiêu diệt lực
lượng của ta ở Liên khu I.
Ngày 7.2.1947, từ 4 mặt quân Pháp mở cuộc công kích vào Liên khu I. Trên
tắt lại diễn biến chiên dịch, những sự kiện nổi bật của trận đánh, sau đó giáo viên tổ
chức, hướng dẫn cho các em tìm hiểu kĩ hơn trên lược đồ kết hợp với lời giảng sinh
động.
Trong SGK, phần lớn các bài đều có những đoạn trích chữ nhỏ. Kiến thức
được thể hiện trong những đoạn trích này nhiều khi rất quan trọng. Thường nó là
nguồn tư liệu làm nổi bật nội dung cơ bản của bài. Ví dụ, ở đoạn trích chữ nhỏ
trang 139 mục 2 “Kế hoạch Đờ lát đơ Tátxinhi”, thì nội dung của kế hoạch này đều
thể hiện qua đoạn chữ nhỏ. Vì vậy giáo viên buộc phải làm rõ cho học sinh nắm
được. Hoặc đoạn trích chữ nhỏ trang 154 ở mục 1 “Hội nghị Giơnevơ” Bài 20
“Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)”, giáo
viên cần làm rõ cuộc đấu tranh trên bàn hội nghị diễn ra gay gắt do lập trường các
bên trái ngược nhau. Phía ta kiên quyết lập trường độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương. Phía Pháp – Mĩ tỏ ra thiếu thiện
chí, ngoan cố, Pháp vẫn muốn duy trì quyền lợi ở Đông Dương. Thậm chí giáo viên
còn phải phân tích, bổ sung, nêu thái độ ngoan cố của Pháp – Mĩ: không chịu mời
phái đoàn của Lào và Campuchia, không dám công khai bác bỏ ta nhưng tìm mọi
cách phá hoại.
Giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc đoạn trích chữ nhỏ trong quá trình
kết hợp giảng bài.
Như vậy, những đoạn chữ nhỏ trong SGK phải được sử dụng triệt để. Nếu nó
đề cập đến những kiến thức khó, phức tạp thì giáo viên lấy làm nguồn tư liệu dùng
để miêu tả hoặc kể chuyện. Nếu dễ có thể cho học sinh đọc. Điều quan trọng là
không nên làm một cách hình thức mà phải kiểm tra khả năng cảm thụ, nhận thức
của học sinh như thế nào sau khi đọc xong đoạn đó.
1.3. Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa học ở nhà.
Do ở nhà học sinh phải học nhiều môn khác nhau, vì vậy việc hướng dẫn tự
10
học cho học sinh là khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Thông thường ở nhà,
học sinh chỉ học vở ghi, đọc qua SGK mà không biết tự học, vì vậy cần hướng dẫn
các em biết sử dụng SGK một cách có hiệu quả.
Khi được giao công việc cụ thể, các em sẽ phải hoàn thành và phải học tập
một cách độc lập, sáng tạo.
Tóm lại, sử dụng sách giáo khoa như thế nào, trong thực tế nó được biểu hiện
sinh động ở mỗi cá nhân và tùy thuộc rất nhiều vào sự linh hoạt, sáng tạo của mỗi
giáo viên. Tuy nhiên, những quan điểm lí luận cơ bản, những kinh nghiệm là cơ sở
cho lao động sư phạm của chúng ta nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, phát huy tính
tích cực, chủ động trong hoạt động học tập của học sinh.
2. Sử dụng hệ thống câu hỏi để phát huy tính tích cực học tập của học
sinh trong dạy học lịch sử
Câu hỏi được sử dụng phổ biến trong cuộc sống cũng như trong dạy học,
song câu hỏi trong cuộc sống không hoàn toàn giống với câu hỏi trong dạy học.
Trong cuộc sống khi người ta muốn hỏi ai một điều gì thì đối tượng hỏi chưa biết
điều đó, hoặc biết chưa rõ ràng. Nhưng câu hỏi trong dạy học lại khác, câu hỏi giáo
viên đưa ra cho học sinh đã được nhân loại khám phá, ghi trong sách vở. Vì vậy,
câu hỏi trong dạy học bao giờ cũng mang yếu tố mở, yếu tố nhận biết, yếu tố khám
phá hoặc khám phá lại, học sinh chỉ cần trả lời một cách thông minh, sáng tạo là
đủ.
Thứ hai, sử dụng câu hỏi có tác dụng to lớn trong việc giáo dục cho học sinh
tư tưởng, tình cảm, đạo đức, hình thành nhân cách học sinh như thái độ tự tin trong
học tập, tính kiên trì…
12
Thứ ba, sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông còn có tác
dụng rèn luyện năng lực nhận thức, đặc biệt là tư duy độc lập, hình thành kĩ năng
giải quyết vấn đề, diễn đạt một vấn đề và hứng thú học tập cho học sinh.
Ví dụ, khi dạy bài “Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp (1946 – 1950)”, mục “Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch Biên
giới thu – đông 1950”, giáo viên đưa ra câu hỏi: Tại sao Đảng ta lại chủ động mở
chiến dịch Biên giới thu – đông 1950? Diễn biến, kết quả và ý nghĩa của chiến dịch
như thế nào? Muốn trả lời được câu hỏi này, học sinh phải chăm chu nghe giảng,
nghiên cứu sách giáo khoa, lược đồ và tranh ảnh, độc lập suy nghĩ tìm ra nội dung
bài tập, muốn trả lời cần phải huy động kiến thức cơ bản của toàn bài. Nêu câu hỏi
đầu giờ học có 2 tác dụng lớn: thứ nhất là nó xác định rõ ràng nhiệm vụ nhận thức
của học sinh trong giờ học, thứ hai là hướng học sinh vào những kiến thức trọng
tâm của bài, huy động cao nhất các hoạt động của các giác quan học sinh trong quá
trình học tập: nghe, nhìn, kết hợp với tư duy có định hướng. Đương nhiên khi đặt
câu hỏi, không yêu cầu học sinh trả lời ngay mà chỉ sau khi giáo viên đã cung cấp
đầy đủ sự kiện thì học sinh mới trả lời được. Ví dụ khi dạy bài 17 “ Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2.9.1945 đến trước ngày 19.12.1946”, vào đầu giờ
học giáo viên đưa ra câu hỏi: “ Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta tiếp
tục làm gì để bảo vệ nền độc lập và chính quyền vừa giành được?” Trong quá trình
dạy học, chúng ta vẫn tuân thủ trình tự cấu tạo của SGK song cần khai thác, nhấn
mạnh giúp học sinh trả lời câu hỏi nêu trên. Sau khi dạy xong, phần cuối bài giáo
viên mới quay trở lại yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi trên. Đáp án mà học sinh cần
trả lời được đó là “ nhân dân ta vừa xây dựng vừa bảo vệ chính quyền cách
mạng”. Học sinh trả lời được tức là đã hiểu được kiến thức chủ yếu của bài.
Ví dụ, khi dạy mục 2 “Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954) ở Bài 20
14
“Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)”, giáo
viên dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề: Thắng lợi của ta trong đông xuân
1953 – 1954 buộc địch phải phân tán lực lượng ra nhiều nơi. Chúng quyết định
xây dựng Điên Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, biến
Điện Biên Phủ trở thành một “điểm hẹn lịch sử”. Vậy tại sao chiến dịch lịch sử
đựơc xem là chiến dịch lịch sử có tính chất quyết định trong cuộc chiến tranh
Đông Dương. Các em cùng tìm hiểu.
Một ví dụ khác, khi dạy bài 19 “Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)” sau khi giới thiệu khái quát qua về giai
đoạn 1951 – 1953 của cuộc kháng chiến, giáo viên đặt câu hỏi: Vì sao nói đây là
giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông –
xuân 1953 – 1954? Để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải chú ý nghe
giảng, tích cực trong quá trình học tập để hiểu rõ bản chất của vấn đề đặt ra.
giảng, bởi vì bất kì một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào cũng đều xuất hiện trong
một hoàn cảnh lịch sử nhất định, đều có nguyên nhân phát sinh của nó. Đây cũng là
một đặc điểm của tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh. Nó đòi hỏi
các em khi xem xét bất kì một sự kiện nào cũng phải được đặt trong hoàn cảnh lịch
sử cụ thể, tìm ra những nguyên nhân làm nảy sinh sự kiện đó. Ví dụ, khi dạy bài 18
“Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946 –
1950)” mục “Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ”, giáo viên đưa
ra câu hỏi “Vì sao cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19.12.1946?”. Học
sinh dựa vào sách giáo khoa, suy nghĩ và trả lời. Giáo viên củng cố, mở rộng kiến
thức để học sinh thấy được hành động lấn tới trắng trợn của thực dân Pháp, thể hiện
rõ mưu đồ xâm lược nước ta.
- Loại câu hỏi về quá trình diễn biến, phát triển của sự kiện – hiện tượng lịch
16
sử như diễn biến của cuộc khởi nghĩa, diễn biến các cuộc cách mạng, cuộc chiến
tranh…. Loại này cũng thường gặp ở tất cả các loại bài. Ví dụ: cuộc tấn công lên
căn cứ địa Việt Bắc của thực dân Pháp diễn ra như thế nào?, Từ sau chiến thắng
Biên giới thu – đông 1950 đến trước đông – xuân 1953 – 1954 ; Tình hình hậu
phương kháng chiến phát triển như thế nào? Chẳng hạn khi dạy bài 20 “Cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)” mục “ Chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)”, giáo viên đưa ra câu hỏi: “ Chiến dịch Điện
Biên Phủ đã diễn ra như thế nào?” Giáo viên kết hợp với việc sử dụng lược đồ
hướng dẫn học sinh tìm hiểu diễn biến, tổ chức cho các em trao đổi, thảo luận câu
hỏi đưa ra. Điều đó giúp các em nắm vững nội dung sự kiện diễn ra, phát triển các
thao tác tư duy…
- Loại câu hỏi nêu lên đặc trưng, bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử,
bao gồm sự đánh giá, thái độ của học sinh đối với các hiện tượng lịch sử ấy.
Thường thì những câu hỏi này khó đối với học sinh. Nó đòi hỏi các em học sinh
phải biết phân tích, đánh giá, biết bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện
tượng lịch sử. học sinh rất ngại trả lời những câu hỏi này. Tuy nhiên giáo viên cần
kiên trì, đưa thêm những câu hỏi gợi mở giúp các em trả lời câu hỏi chính.
trên cơ sở sách giáo khoa và sách giáo viên nêu ra các ý nhỏ: chủ quan – khách
quan.
Giáo viên hướng dẫn, điều khiển các em phân tích từng ý nhỏ và để làm nổi
bật từng nguyên nhân, như ở nguyên nhân thứ nhất “sự lãnh đạo sáng suốt của
Đảng ta trong cuộc kháng chiến”, giáo viên cần cho các em thấy rõ sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng ta được thể hiện như thế nào? Đó là: đường lối kháng chiến
toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính; vạch kế hoạch đánh địch
trong từng chiến dịch; xây dựng, phát triển lực lượng 3 thứ quân và kết hợp chiến
18
đấu trên chiến trường chính và vùng sau lưng địch; chính sách đoàn kết quốc tế.
Tóm lại, sử dụng câu hỏi trong dạy học lịch sử ở trường THPT không chỉ
có tác dụng giúp học sinh từng bước chiếm lĩnh tri thức lịch sử mà còn phát triển tư
duy độc lập của học sinh. Đây là phương tiện quan trọng làm cho bài học trở nên
sôi động hấp dẫn, phát huy tính tích cực học tập của HS.
3. Sử dụng đồ dùng trực quan nhằm phát triển tư duy học sinh
Trong dạy học lịch sử, phương pháp trực quan góp phần quan trọng tạo biểu
tượng cho học sinh, cụ thể hoá các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại hoá lịch
sử của học sinh.
Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu
những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc
trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Ví dụ,
xem bức ảnh “Cảm tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đón đánh xe tăng Pháp” chúng
ta không thể quên được cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân Hà Nội chống
thực dân Pháp trở lại xâm lược.
Trên cơ sở biện pháp chung về đồ dùng trực quan, tôi đưa ra một số biện
pháp khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử phần Lịch sử Việt Nam
từ năm 1945 đến 1954 (SGK Lịch sử 12 THPT)
3.1 Sử dụng đồ dùng trực quan để tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức
mới.
- Sử dụng câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung kênh
- Quan sát lược đồ, nhận xét vị trí Điên Biên Phủ?
- Tại sao địch quyết định xây dựng Điên Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm
20
mạnh?
- Biểu hiện nào chứng tỏ điều đó?
- Em suy nghĩ như thế nào về cuộc chiến đấu của ta ở Điện Biên Phủ?
Với các câu hỏi gợi mở trong từng phần giảng học sinh sẽ phải suy nghĩ một
cách tích cực, chủ động trong hoạt động nhận thức để tìm hiểu các nội dung đưa ra.
- Kết hợp bản đồ với tường thuật, thảo luận.
Khi khai thác và sử dụng bản đồ, lược đồ phản ánh một biến cố, sự kiện nào
đó không thể thiếu việc lược thuật hay tường thuật của giáo viên hoặc học sinh,
điều đó làm bài học trở nên sinh động, chân thực, khơi dậy những cảm xúc lịch sử
cho các em. Những sự kiện lịch sử được tường thuật sẽ tạo ra cảm giác cho các em
như đang tham gia hay chứng kiến diễn biến một sự kiện lịch sử.
Ví dụ: khi dạy học mục 2 “Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950” ( Bài 18)
đối với các lớp có học lực khá giỏi, thời gian cho phép, giáo viên yêu cầu học sinh
nghiên cứu lược đồ Chiến dịch Biên giới thu đông 1950 kết hợp với SGK để trả lời
các câu hỏi gợi mở do giáo viên đặt ra. Sau khi học sinh tìm hiểu, giáo viên yêu cầu
một em lên bảng lược thuật, giáo viên và các bạn ở dưới bổ sung. Còn đối với đối
tượng học sinh học trung bình hoặc thời gian bài học không cho phép, giáo viên
nên giới thiệu khái quát lược đồ, tường thuật ngắn gọn rồi cho các em trao đổi. Ví
dụ, khi tường thuật diễn biến của chiến dịch Biên giới thu – đông 1950, giáo viên
nên sử dụng lược đồ, sau đó giới thiệu khái quát về bản đồ cũng như các kí hiệu và
đưa ra các câu hỏi: Em có suy nghĩ gì về địa bàn chiến dịch và lực lượng quân địch
tại đây? Với câu hỏi này học sinh sẽ xác định được địa bàn chiến dịch cũng như
hiểu được nhiệm vụ của chiến dịch. Sau đó giáo viên sử dụng lược đồ kết hợp với
tài liệu tham khảo, tranh ảnh, đàm thoại để trình bày diễn biến của chiến dịch biên
giới, trong đó tập trung vào tường thuật hoặc lược thuật trận Đông Khê:
Biên giới Việt – Trung là một dải núi rừng từ tây đến đông bắc Bắc bộ.
21
thuật sự kiện 16.9.1950:
Đứng trên núi cao nhìn xuống đồn Đông Khê như một tuần dương hạm
khổng lồ giữa biển xanh biên giới. Đông Khê nằm giữa đường số 4, cách Cao
Bằng 45km, cách Thất Khê 24km, xung quanh có vị trí kiên cố, đóng trên đồi cao
như một bức tường vững chắc bao bọc. Đồn Đông Khê có hàng chục lô cốt thấp
sát mặt đất, nắp dày trên 1 mét, có hầm ngầm, tường cao, dây thép gai xung
quanh. 6 giờ sáng ngày 16.9.1950, đạn pháo ta nổ vang trên cứ điểm Đông Khê.
Trận đánh mở màn chiến dịch bắt đầu. Sau những cuộc chiến ác liệt, quân ta
chiếm được các vị trí xung quanh, nhưng đợt thứ nhất tấn công lên đồi cao không
thành. 17 giờ ngày 17.9.1950, các chiến sĩ ta tấn công lần thứ hai lên đồi cao. Phía
tây là đại đội bộc phá Trần Cừ, phía đông là đại đội La Văn Cầu cùng xung phong
mở đường cho xung kích tiến lên.
Mũi nhọn do Trần Cừ chỉ huy tiến lên mở hàng rào nhưng bị đại bác của
địch chặn đứng mọi đợt xung phong. Bốn chiến sĩ xông lên đều bị thương vong, cả
mũi nhọn nằm ùn lại phía trước mũi súng của kẻ thù. Súng vừa ngớt thì một toán
địch từ hầm ngầm xông ra phản kích, Trần Cừ bị trúng đạn vào ngực trong khi lô
cốt địch vẫn không ngừng nhả đạn. Trời đã sáng rõ, xung kích vẫn chưa lọt vào
được, mọi người đều lo lắng. Lúc này, Trần Cừ cố lê người sát lô cốt, anh lại bị
thương lần nữa song vẫn cố nhoài người lên rồi gục xuống và lấy hết sức dùng
thân mình bịt lỗ chấu mai địch. Hỏa lực của địch ngừng lại và xung kích liên tiếp
xông lên. Lời hô: “noi gương Trần Cừ, trả thù cho Trần Cừ” vang lên, các chiến sĩ
như nước vỡ bờ, các tổ 3 người tràn vào, nhanh chóng tiêu diệt lô cốt. 7 giờ sáng
hôm sau, quân địch trong chiến hầm cố thủ cuối cùng vẫn ngoan cố chống cự. Một
quả bộc phá đánh sập chiếc hầm ngầm vững chắc đó, những tên chỉ huy run sợ
23
chui ra hàng. Sau hơn 2 ngày đêm chiến đấu dũng cảm quân ta đã hoàn toàn giành
thắng lợi ở trân Đông Khê.
Đến đây, giáo viên hỏi học sinh: “Chiến thắng Đông Khê có ý nghĩa như thế
nào?”
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt lại: Chiến thắng Đông Khê chứng tỏ
Việt Minh – Liên Việt (1951)” Bài 19 “Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp (1951 – 1953)”, bức ảnh này được sử dụng khi dạy mục
III “Hậu phương kháng chiến phát triển về mọi mặt” để cụ thể hóa sự kiện thống
nhất mặt trận Việt Minh và hội Liên Việt.
Trước hết giáo viên giới thiệu về bức ảnh ghi lại hình ảnh các đại biểu tham
dự đại hội thống nhất mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt rồi hướng dẫn học sinh
quan sát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Giáo viên đưa ra câu hỏi gợi mở để
học sinh trả lời:
- Quan sát trang phục, nét mặt của những người trong ảnh, chúng ta thấy
thành phần tham dự đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh – Liên Việt như thế
nào?
Học sinh trao đổi đàm thoại qua những câu gợi mở, quá trình đó sẽ giúp các
em có biểu tượng ban đầu về các thành phần tham gia. Sau đó giáo viên miêu tả
khái quát: Trong ảnh là quang cảnh ở bên ngoài hội trường. Ở trên cửa ra vào hội
trường có gắn tấm biển đề hàng chữ “Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh –
Liên Việt”, có 29 đại biểu chụp ảnh kỉ niệm. Quan sát bức ảnh ta thấy rõ các đại
biểu tham dự gồm đủ mọi giới: phụ nữ, nam giới, người già, người trẻ, có cả
những người theo tôn giáo (phía trái bức ảnh), những người dân tộc thiểu số (bên
phải bức ảnh)… Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ngồi giữa. Giáo viên tiếp tục gợi
mở “Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi ở giữa nói lên điều gì?”. Điều đó nói lên Bác và
25