A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU
Hoà chung với sự phát triển công nghệ thông tin trên toàn cầu.đất nước ta
hiện nay cần phải có con người lao động mới, năng động , sáng tạo. Để đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của xã hội, đi cùng với sự phát triển của đất nước, giáo
dục cần đòi hỏi phải đổi mới, cả về nội dung, hình thức, phương pháp, để phù
hợp với từng đối tượng học sinh. Trong đó ngành Vật lý là cơ sở của nhiều
ngành kỹ thuật, sự phát triển của khoa học vật lý gắn bó chặt chẽ với sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, vì vậy những hiểu biết và nhận thức vật lý có giá trị rất
lớn trong đời sống và sản xuất cũng như trong công cuộc CNH - HĐH đất nước.
Môn vật lý một trong những bộ môn khoa học thực nghiệm và tính toán,
yêu cầu rất khó đối với học sinh bậc THCS. Vậy nhiệm vụ trọng tâm của công
tác dạy và học hiện nay là tích cực hoá hoạt động của học sinh trong quá trình
học tập.Vì thế người ta dạy biết phát huy sự tìm tòi, chủ động sáng tạo của học
sinh trong mỗi giờ học là góp phần thiết thực việc đổi mới phương pháp dạy học
trong su thế hiện nay.
II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.thực trạng
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn vật lý ở THCS tôi nhận
thấy trong quá trình học tập, các em còn gặp những khó khăn và hạn chế sau:
- Mỗi giờ học vật lý các em phải thường xuyên hoạt động nhóm trong đó
phòng học thí nghiệm chưa đáp ứng với việcdạy và học nên chỉ có một số em
làm việc, còn lại chưa phát huy được tính tự chủ, thậm chí chưa hoạt động.
- Trong quá trình tiến hành thao tác thí nghiệm các em còn nhiều hạn chế,
chưa tích cực, mạnh dạn tham gia vào các hoạt động để tìm ra kiến thức mới.
- Học sinh chỉ biết tiếp thu kiến thức trong SGK một cách hời hợt không
chịu tư duy độc lập chưa có sáng tạo.
2.Kết quả của thực trạng
1
Lớp Số HS Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
- Một là: Xác định tiến trình hoạt động dạy học cụ thể( tiến trình hoạt
động)
- Hai là: Tổ chức các tình huống học tập ( định hướng các hoạt động học
tập của học sinh).
2.Các biện pháp tổ chức thực hiện
2.1 Xác định tiến trình hoạt động cụ thể.
Việc xác định phương pháp dạy học cụ thể đối với mỗi tiết học vật lí là
quan trọng. Để đạt được mục đích của bài, đòi hỏi học sinh thu nhận tái tạo theo
cái có sẵn hay đòi hỏi học sinh phải tham gia tìm tòi, phát hiện giải quyết vấn đề.
Là tiết dạy thực nghiệm nên cần phải hiểu rõ nội dung của phương pháp
này. Phải đòi hỏi học sinh tham gia tìm tòi, suy luận, phát hiện, học sinh phải
được trực tiếp tham gia làm thí nghiệm, qua đó giải quyết các vấn đề mà giáo
viên đặt ra. Muốn vậy cần phải xác định rõ mục tiêu của tiết dạy là gì? làm thế
nào để giác ngộ vấn đề. Đinh hướng nhiệm vụ nhận thức học sinh, kiến thức cần
thiết của học sinh.
2.2 Tổ chức các tình huống học tập.
Đây là một vấn đề then chốt trong giờ vật lí có thí nghiệm. Yêu cầu học
sinh phải thao tác, tư duy, suy luận để giải quyết các vấn đề mà giáo viên nêu
ra.
Do vậy để tiết học có hiệu quả cao, phát huy tối đa tính tự giác, tích cực,
chủ động sáng tạo của học sinh cần tiến hành các bước sau:
Trước tiên chúng ta phải xác định phương tiện quan trọng nhất để định
hướng hoạt động nhận thức của học sinh là " câu hỏi". Câu hỏi đưa ra phải đảm
bảo tính chính xác nội dung khoa học, diễn đạt chính xác điều định hỏi. Câu hỏi
phải vừa sức học sinh. Câu hỏi phải mang tính phát hiện, phải xây dựng hệ
thống câu hỏi hợp lí, logic theo nguyên tắc từ khái quát đến cụ thể, từ khó đến
dễ.
3
Phát huy óc sáng tạo, tôn trọng ý kiến trả lời của học sinh, không gò ép
học sinh vào khuôn phép cứng nhắc. Giáo viên cần tránh thái độ yêu cầu học
lại kết quả thí nghiệm. Từ các số liệu quan sát, ghi chép được ở thí nghiệm, sử
dụng thao tác tư duy, các suy luận lôgic, thảo luận nhóm thông qua các câu hỏi
là giáo viên đặt ra để vạch ra cái nét bản chất. Sau đó các em học sinh các nhóm
trình bày ý kiến, các học sinh khác hoạc các nhóm khác nhận xét, bổ sung. Lúc
này người thầy đóng vai trò là trọng tài, tự các em tranh luận đã phát hiện ra
chân lý, cái đích mà chúng ta đang hướng tới.
- Đánh giá kết quả học tập của từng nhóm, của từng học sinh bằng cách
dựa và tinh thần thái độ của các em cho điểm theo từng nhóm. Công bố điểm
cho từng nhóm trước lớp, tuyên dương những học sinh hoạc những nhóm học
sinh hoạt động kết quả cao. Phê bình những nhóm làm việc chưa được tích cực
và những cá nhân còn dựa dẫm, chưa tự mình hoạt động để tìm ra kiến thức mới.
Tránh tình trạng nhận xét chung chung. Biện pháp này tạo ra không khí làm việc
của các em rất tích cực, thi đua lẫn nhau giữa các nhóm.
- Phải tăng cường thời gian luyện tập độc lập của học sinh trên lớp, điều
này giúp học sinh hoàn thiện những tri thức mới và biết vận dụng những tri thức
đó giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn. Coi trọng các bài tập, các câu hỏi có nội
dung thực tế gắn với đời sống để giúp học sinh vận dụng kiến thức giải quyết
những nhiệm vụ hàng ngày. Đây cũng là quá trình giúp giáo viên tiếp nhận
thông tin được từ phía học sinh để có sự điều chỉnh bổ sung kiến thức còn thiếu,
uốn nắn những sai lầm học sinh còn mắc phải. Giáo viên cũng phải vận dụng hệ
thống câu hỏi, bài tập phù hợp với từng đối tượng, có như vậy mới giúp học sinh
vận dụng tối đa tính độc lập của học sinh trong học tập.
Tuy nhiên việc tổ chức hoạt động học tập đối với các tiết dạy cần phải kết
hợp lồng ghép các nội dung trên một cách hợp lý theo một trình tự nhất định bởi
hệ thống các câu hỏi nêu vấn đề mà giáo viên đã chuẩn bị thì mới phát huy được
những chủ động sáng tạo của học sinh trong giờ vật lí có thí nghiệm.
Dưới đây là một bài soạn của 1 tiết vật lí có thí nghiệm:
5
Bài 23: THỰC HÀNH ĐO NHIỆT ĐỘ:
I- MỤC TIÊU: Học sinh:
+ Phạm vi đo của nhiệt kế.
+ Độ chia nhỏ nhất của nhiệt kế.
+ Nhiệt độ được ghi màu đỏ.
- Ghi 4 đặc điểm của nhiệt kế dầu:
+ Nhiệt độ thấp nhất ghi trên nhiệt kế.
+ Nhiệt độ cao nhất ghi trên nhiệt kế.
+ Phạm vi đo của nhiệt kế.
+ Độ chia NN của nhiệt kế.
(Học sinh trả lời được các câu hỏi này từ bài học nhiệt kế - nhiệt giải).
6
2. Tiến hành:
Giáo viên kiểm tra mẫu báo cáo của học sinh đã chuẩn bị ở nhà trước.
Nhắc nhở học sinh về thái độ cần có trong giờ thực hành nhất là thái độ
trung thực và cẩn thận.
Mặc dù nhiệt kế y tế học sinh đã được biết nhưng cách sử dụng nhiệt kế
và cách đọc kết quả còn nhiều lúng túng, còn có nhiều học sinh chưa biết sử
dụng. Giáo viên giới thiệu cách dùng nhiệt kế như sau:
- Kiểm tra xem mục thuỷ ngân đã tụt hết xuống bầu chưa, nếu còn trên
ống quản thì cầm vào phần thân nhiệt kế, vẩy mạnh cho thuỷ ngân tụt hết xuống
bầu.
(Chú ý không để nhiệt kế va đập vào vật khác và văng ra ngoài, cần cầm
chặt nhiệt kế).
- Dùng bông y tế lau sạch thân và bầu nhiệt kế.
- Dùng tay phải cầm thân nhiệt kế, đặt bầu nhiệt kế vào nách trái, kẹp
cánh tay lại để giữ nhiệt kế (hoặc cũng có thể đo bằng cách kẹp khuỷu tay lại).
Chú ý khi đo cần cho bầu nhiệt kế tiếp xúc trực tiếp và chặt với da.
- Giữ nhiệt kế trong tình trạng đó từ 4-5 phút rồi lấy nhiệt kế ra để đọc.
Cần chú ý cách đọc nhiệt độ của nhiệt kế cho chính xác.
Phát dụng cụ thí nghiệm cho tất cả các nhóm, yêu cầu các nhóm tiến hành
thí nghiệm. Ghi kết quả vào báo cáo thí nghiệm.
sinh về nhà báo cáo và nộp vào buổi sau.
C- KẾT LUẬN:
Trong thời gian làm đề tài này, tôi đã áp dụng và dạy cho cả khối 6 trường
THCS Phúc Thịnh -Ngọc lặc. Kết quả là những tiết học sau học sinh không còn bỡ
ngỡ nữa, thậm chí các em còn đề ra phương án thí nghiệm phù hợp đơn giản hơn.
Việc học tập của học sinh phụ thuộc vào cách thức tổ chức giờ học của
giáo viên, phương pháp tổ chức giờ học linh hoạt, khoa học sẽ đem lại kết quả
học tập cao.
Giáo viên nói ít, giảng giải ít, học sinh được làm việc nhiều, một cách tích
cực, sôi nổi. Qua tiết dạy môn vật lí có thí nghiệm thì giáo viên tưởng chừng
nhàn đi rất nhiều so với những giờ học lí thuyết khác. Nhưng thực chất để có
những giờ học có thí nghiệm đạt kết quả cao người giáo viên phải vất vả hơn
8
nhiều. Từ khâu thiết kế bài giảng đến khâu chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm, có
những dụng cụ có sẵn và có những dụng cụ giáo viên phải tự tìm kiếm.
Trong một thời gian ngắn cùng với công việc giảng dạy, tự học, tự bồi
dưỡng tôi đã hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình sau khi vận dụng các biện
pháp nêu trên vào quá trình soạn giảng các giờ vật lí có thí nghiệm ở lớp 6. Tôi
thấy đa số học sinh đều hiểu bài và đã vận dụng được lí thuyết để giải thích được
các hiện tượng ngoài thực tế có liên quan đến nội dung bài học và làm hầu hết
các bài tập trong sách giáo khoa.
Khi các em được trực tiếp nghiên cứu làm thí nghiệm thì các em rất hứng
thú học tập bộ môn này.
Sau khi phối hợp sử dụng các biện pháp trên trong quá trình giảng dạy kết
quả khảo sát chất lượng thông qua bài kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm,
kết quả đạt được cụ thể như sau :
Lớp Số HS
Giỏi Khá TB Yếu
SL % SL % SL % SL %
6A 34 4 11.7% 10 29.7% 17 50% 3 8.7%