SKKN một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói trong môn tiếng việt 1 - Pdf 37

Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

THÔNG TIN CHUNG

Họ và tên tác giả sáng kiến:

Đinh Thị Kiều Khương

Ngày, tháng, năm sinh:

08/05/1980

Đơn vị công tác:

Trường PT Đoàn Thị Điểm Ecopark

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học
Quyền hạn, nhiệm vụ được giao hoặc đảm nhận: Giáo viên
Đề nghị xét, công nhận sáng kiến: (Cấp tỉnh, ngành, huyện/TP hoặc Trường)
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
Tên đề tài SKKN, lĩnh vực áp dụng: Một số biện pháp nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói trong môn Tiếng Việt 1 – Lĩnh
vực áp dụng môn Tiếng Việt.

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

1


có cách thức tổ chức và phương pháp dạy học hợp lý, tích cực nhằm nâng cao chất
lượng dạy - học môn Tiếng Việt, giúp học sinh sử dụng thành thạo Tiếng Việt.
Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 mới trên toàn quốc
đã lâu nhưng phần lớn giáo viên vẫn tỏ ra lúng túng, e ngại khi tổ chức dạy luyện
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

2


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

nói cho học sinh, còn học sinh rất khó khăn khi học phần này. Nhìn chung, việc
dạy học nội dung này vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
Đây cũng là lý do tôi viết sáng kiến kinh nghiệm với chủ đề: “Một số biện
pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói
trong môn Tiếng Việt ở lớp 1”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và nội
dung luyện nói nói riêng ở lớp 1.
- Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói trong môn
Tiếng Việt 1.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nội dung luyện nói và phương pháp dạy luyện nói môn Tiếng Việt lớp 1.
4. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM:
- Học sinh lớp 1A3 trường Phổ thông Đoàn Thị Điểm Ecopark.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liêu:
Nghiên cứu sách Tiếng Việt 1, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo khác



Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

PHẦN II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt mới đã thể hiện được quan điểm mới trong
dạy học đó là quan điểm giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi nhận
thông tin và phát thông tin. Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằng
hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết). Dạy học theo quan
điểm giao tiếp là xu thế phổ biến trong các tài liệu dạy tiếng mẹ đẻ cũng như dạy
ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay. Quan điểm này được thể hiện trên cả hai
phương diện nội dung và phương pháp dạy học.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp nhưng tựu chung thì về
vấn đề cốt lõi của các định nghĩa là: giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa
con người với con người trong xã hội, nhằm truyền đạt cho nhau những nhận thức,
những tư duy hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình cảm, thái độ, đối với nhau
cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Như vậy, điều
kiện trước tiên đảm bảo cho một cuộc giao tiếp diễn ra bình thường là phải có ít
nhất hai đối tượng tham gia:1 đóng vai người nói và 1 đóng vai người nghe. Hai
vai này sẽ luân phiên thay đổi nhau trong suốt quá trình giao tiếp, họ cũng phải sử
dụng một thứ ngôn ngữ nhất định, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội
dung giao tiếp để hướng tới mục đích đã đề ra.
Trong quá trình dạy học luyện nói, lý thuyết giao tiếp giúp giáo viên có sự
định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học
đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo
viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tình huống giao tiếp gần gũi,
giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó


mạch cả câu.
-Sử dụng nghi thức lời nói - Có thái độ lịch sự, mạnh dạn,

Ghi chú

- Nói đúng lượt

tự nhiên khi nói.

lời, nhìn vào

- Biết nói lời chào hỏi, chia tay

người nghe khi

-Đặt và trả lời câu hỏi

trong gia đình, trường học.
nói.
- Biết trả lời đúng vào nội dung

-Thuật việc, kể chuyện

câu hỏi. Nói thành câu.
- Kể được một đoạn hoặc cả
mẩu chuyện có nội dung đơn
giản được nghe thầy, cô kẻ trên
lớp (kết hợp với nhìn tranh
minh hoạ, đọc lời gợi ý dưới

nghe bạn nói.
Phần Luyện tập tổng hợp
- Trong phần luyện tập tổng hợp được bố trí các bài theo tuần với ba chủ điểm lớn:
Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên – Đất nước (từ tuần 25 trở về sau) Các bài của
mỗi tuần tập trung vào một chủ điểm – Cứ ba tuần hết một lượt chủ điểm. Việc
quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt mà vòng sau mở rộng hơn
vòng trước. Cụ thể:
Loại I: Luyện nói câu chứa tiếng có vần ôn trong bài tập đọc:
+ Kiểu 1: Nói câu chứa tiếng có vần cho trước. Kiểu này có 14 bài.
VD: Nói câu chứa tiếng có vần anh – ach.
M:- Nước chanh mát và bổ.
- Quyển sách này rất hay.
(Tiếng Việt 1 tập hai trang 59).
+Kiểu 2: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần cho trước. Kiểu này có 1 bài.
VD: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần ăc- ăt. (Tiếng Việt 1 tập hai trang 110).
Loại II: Luyện nói theo đề tài.
+ Kiểu 1: Bài tập nói theo bài
Dạng 1: Trả lời câu hỏi theo tranh: Dạng này có 1 bài. Ví dụ: trả lời các câu hỏi
theo tranh:
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

7


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

M: Tranh 1: Ai nấu cơm cho bạn ăn?
-Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn



Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

dạy. Nhiều giáo viên cũng xác định đây là một bộ phận quan trọng trong giờ học
học vần hoặc tập đọc lớp 1, song vì lượng thời gian dành cho nội dung này còn hạn
chế (khoảng 10 phút cuối trong tiết học), nên đôi lúc bị “bỏ qua” hoặc có tiến hành
thì chỉ được tổ chức một cách qua quýt. Còn về phần học sinh thì khả năng luyện
nói trong các giờ học này thường chỉ dừng lại ở việc trả lời các câu hỏi trong sách
hoặc của giáo viên, rất hiếm có học sinh nào biết tự nói một số câu về chủ đề bài
học đưa ra.
3. TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN:
3.1. Về phía giáo viên:
- Xét về nguyên nhân chủ quan đầu tiên cần phải kể đến là quan niệm của giáo
viên, một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp, chỉ chú
trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học Tiếng Việt thời lượng dành cho hoạt
động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học sinh tham gia
nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em mạnh dạn, hay
phát biểu mà thôi.
- Giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống của
học sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên
khi tiến hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh nói hay hoặc hay nói trả lời.
Không mấy quan tâm đến những học sinh ít nói, nghèo nàn về ngôn ngữ, nói
ngọng vì sợ gọi những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian. Vấn đề này vô
tình giáo viên đã làm cho những học sinh rụt rè ngày càng trở nên nhút nhát hơn.
- Nêu câu hỏi chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp, câu hỏi dễ lại
dành cho học sinh khá, câu hỏi khó đôi khi muốn học sinh yếu trả lời,…
- Dạy phần luyện nói chỉ đơn giản là gọi học sinh trả lời 2, 3 câu hỏi; chưa hướng

lời thầy cô dạy là chưa vững chắc.
3.3. Một số hạn chế của sách giáo khoa và sách giáo viên
3.3.1. Sách giáo khoa lớp 1:
- Có bài chủ đề luyện nói không liên quan đến chữ, vần của bài đó. Ví dụ: Bài 20k, kh, kẻ, khế thì chủ đề luyện nói lại là “ù ù, vo vo, vù vù, ro ro, tu tu”.
- Một số chủ đề nói chưa gần gũi,chưa phù hợp với học sinh của từng vùng miền.
Ví dụ: Bài 8- le le, bài 9- vó bè, bài 33- Lễ hội, bài 34 – Đồi, núi.
- Phần luyện tập tổng hợp: Số lượng từng dạng bài tập còn chưa hợp lý. Bài tập về
nghi thức lời nói còn ít (chỉ có 2 bài, chỉ xoay quanh vấn đề nói lời chào, lời chia tay)
đó là bài Mẹ và cô - Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 73 và bài Bác đưa thư - sách Tiếng
Việt 1 tập 2 trang 136. Số lượng nói theo đề tài nhiều và chủ yếu là độc thoại (đây lại
là mức độ cao của dạng thức lời nói, sẽ rất khó với học sinh lớp 1).
- Những đề tài hội thoại có tranh gợi ý không còn phù hợp với thông tư 30. Ví dụ :
Bài 65 trang 133 sách Tiếng Việt 1 tập một
Chủ đề luyện nói : Điểm mười
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

10


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

Hay trong bài tập đọc: Bàn tay mẹ -sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 56

-Ai nấu cơm cho bạn ăn?

Ai mua quần áo mới cho bạn?

-Mẹ tôi nấu cơm cho tôi ăn

hỏi: Vịt, ngan được người nuôi ở ao, hồ. Còn loài vịt sống tự do không có người
chăn được gọi là gì?
+ Có câu hỏi quá dài, khiến người nghe khó theo dõi, trong khi đáp án trả lời lại là
“có” hoặc “không”: Ra giữa nắng bắt chuồn chuồn, châu chấu, cào cào, tối về sụt
sịt, mai không đi học được, có tốt không?

Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

12


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

+ Có câu hỏi trong cùng một hệ thống trùng lặp nhau: Chủ đề “Phim hoạt hình có
câu hỏi 1: Em thấy cảnh gì trong tranh?, câu hỏi 2: Trong cảnh đó em thấy những
gì?, câu hỏi 3: có ai ở trong cảnh? Họ đang làm gì?
Chính vì những khó khăn, hạn chế trên mà giáo viên thêm phần ngại và lúng
túng khi dạy luyện nói cho học sinh. Hơn nữa, nội dung luyện nói còn được coi là
khó dạy, khó học. Dạy nói cho học sinh lớp 1 phải gắn với cả việc dạy đọc, dạy
viết, dạy nghe. Vì vậy khi dạy nội dung này người giáo viên phải có nhiều sáng
tạo, linh hoạt, biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp, biết
điều chỉnh những nội dung cần thiết để giờ học đạt kết quả tốt.
4. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
4.1. Giúp học sinh phát triển lời nói
Để giúp học sinh phát triển lời nói, giáo viên cần biết vận dụng lý thuyết hội
thoại vào dạy luyện nói:
4.1.1. Phải tạo được nhu cầu hội thoại cho học sinh
- Việc tạo ra nhu cầu nói năng cho học sinh hết sức quan trọng. Khi có nhu

Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói. Gợi ý sao cho tất cả học
sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề. Chẳng hạn như chủ đề. “Nói lời
cảm ơn; Con ngoan trò giỏi; Giúp đỡ cha mẹ”…..nếu đi quá sâu sẽ lẫn sang tiết
Đạo đức. Để khắc phục điều này tôi chỉ định hướng các em câu hỏi gợi ý xoay
quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói.
Ví dụ:
Với chủ đề: Nói lời cảm ơn:
+ Em hãy kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm ơn ai
đó về điều gì?
Với chủ đề Giúp đỡ cha mẹ tôi hỏi:
+ Hai bạn nhỏ đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?
+ Em thường giúp đỡ cha mẹ vào những lúc nào?
+ Em đã giúp đỡ cha mẹ những việc gì? Hãy nói cho các bạn cùng nghe nhé!
Còn với chủ đề: Con ngoan, trò giỏi tôi có câu hỏi gợi ý:
+ Em đã làm được những việc gì để cố gắng là một người con ngoan trong gia
đình?
+ Em đã làm gì để cố gắng trở thành một trò giỏi ở trường học?
4.2.2. Nắm bắt thực tế về khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp,
hình thức dạy cho phù hợp.
Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng tuỳ nội
dung của từng bài. Tuỳ theo từng chủ đề mà tôi có định hướng cho học sinh khi
luyện nói, khi đặt câu hỏi để giúp các em biết cách nói cho sát nội dung bài và
nói một cách tự nhiên, chủ động không gượng ép. Tôi phải chuẩn bị và dự trù
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

14


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1

quê; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Bữa cơm, Hãy kể với cha mẹ hôm nay
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

15


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

ở lớp con đã ngoan thế nào?;…Giáo viên gợi mở cho học sinh nói qua vốn hiểu
biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập, trò chơi v.v…
Chẳng hạn:
- Chủ đề nói về gia đình: “Bố mẹ - Ba má, Bà cháu”…có thể cho học sinh sắm vai
nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, bố mẹ đã yêu thương, quan tâm, chăm sóc
em hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của một người
cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ mình.
- Với chủ đề “Vó bè”: Cho học sinh quan sát thật kĩ bức tranh và giới thiệu trực
tiếp đó chính là vó bè. Phân biệt thêm hình ảnh chiếc vó và bè. Gợi ý để các em
nói được dụng cụ đó được đặt ở đâu? Dùng để làm gì?
Với một số chủ đề khó hơn, chưa thật phù hợp với thực tế địa phương (Ví
dụ bài 20, bài 22, bài 30, bài 34, bài 40, bài 54,…) Thì giáo viên cần hướng dẫn
học sinh nghe - nói một cách linh hoạt, khai thác những nội dung gần gũi với học
sinhvà ít nhiều liên quan đến chủ đề (không nhất thiết phải có trong tranh minh hoạ
ở sách giáo khoa) Ví dụ:
Bài 20: Luyện nói về âm thanh của một số sự vật (ù ù, vo vo, vù vù, ro ro, tu
tu) Trước hết cần khai thác vốn hiểu biết của các em về các sự vật vẽ trong tranh
(Em biết sự vật nàovẽ trong tranh? Khi chuyển động sự vật đó phát ra âm thanh
như thế nào?) Giáo viên cũng có thể mở rộng, liên hệ đến các sự vật khác không vẽ
trong tranh nhưng gần gũi với cuộc sống của các em. Ví dụ: Gió thổi vào rặng tre

viên có thể định hướng để học sinh nói ra những câu khen học sinh nắm kiến thức
và thể hiện tốt bài làm của mình mà hàng ngày giáo viên vẫn làm.
4.2.4. Chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú:
- Hình ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu
- Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để làm phương tiện giảng
dạy. Ví dụ khi dạy về chủ đề: Dế, cá cờ, bi ve, lá đa tôi có thể chuẩn bị sẵn những
vật thật đó để học sinh có thể quan sát trực tiếp tạo hứng thú cho các em. Từ đó gợi
ý các em có thể lấy những đồ dùng đó làm những trò chơi dân gian mà trẻ em xưa
vẫn chơi. Hoặc khi dạy chủ đề: Đèn dầu, đèn điện, đèn huỳnh quang, chủ đề: Rổ
rá, chủ đề: Chuối, bưởi, vú sữa… tôi cũng tiến hành tương tự .
- Tận dụng những tranh ảnh, đồ dùng mà học sinh có thể cùng sưu tầm được. Ví
dụ: tranh ảnh về lễ hội khi dạy về chủ đề Lễ hội, các đoạn video clip về gió, mây,
mưa, bão, lũ……
- Khi phương tiện dạy học đầy đủ, phong phú, sát với thực tế sẽ tạo cho các em hào
hứng, chủ động và tích cực tham gia vào quá trình luyện nói.
4.2.5. Lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp:
a. Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại. Trong quá trình
đàm thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên lời nói của học sinh giáo viên sẽ
chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý diễn đạt theo nội dung của chủ đề.
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

17


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

b. Sử dụng tranh ảnh, đồ dùng trực quan: Học sinh quan sát và diễn đạt
những gì đã đạt được quan sát khi nhìn tranh. Mỗi tình huống trong tranh là một



Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

4.3. Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy luyện nói trong
môn Tiếng Việt.
4.3.1. Vận dụng phương pháp đóng vai
- Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức
cho học sinh giải quyết một tình huống của nội dung học tập gắn liền với cuộc
sống thực tế bằng cách diễn xuất ngẫu hứng không cần luyện tập kịch bản trước.
- Phương pháp đóng vai nhằm giúp học sinh thể hiện tình huống giao tiếp
bằng cách đóng vai nhân vật giao tiếp, trau dồi trí tưởng tượng, rèn kỹ năng nói
trong hội thoại, biết thể hiện ngữ điệu, cử chỉ, hành động khi vào vai nhân vật.
Phương pháp này thường dùng khi dạy các bài nói kiểu tình huống giao tiếp, hoặc
trò chuyện, hỏi - đáp về một đề tài.
Ví dụ:

- Bài 31(Học vần): Bé tự giới thiệu
- Bài 60 (Học vần): Nói lời cảm ơn
- Bài: “Bác đưa thư - sách Tiếng Việt 1 tập hai trang 137”: Tập nói lời

chào hỏi của Minh:

+ Khi gặp bác đưa thư
+ Khi mời bác uống nước.

- Nhìn chung, vận dụng phương pháp đóng vai trong dạy luyện nói sẽ tạo
môi trường tự nhiên để rèn luyện kỹ năng nói, học sinh sẽ sáng tạo lời thoại của

VNEN trong dạy học nội dung luyện nói ở lớp 1:
- Đặc trưng phương pháp dạy học hợp tác nhóm là học sinh trước hết phải
làm việc các nhân để có chính kiến riêng của mình, sau đó nói với nhau, đưa ra ý
kiến của mình và lắng nghe ý kiến của các bạn để hoàn thiện thêm ý kiến của mình
…. do vậy học sinh được tạo nhiều cơ hội hơn để diễn đạt, khám phá ý tưởng, mở
rộng suy nghĩ và rèn luyện kĩ năng nói; tự tìm tòi để phải đưa ra được ý kiến của
mình, tạo cơ hội để học hỏi từ các bạn, cũng từ đây các em có kĩ năng giao tiếp tốt
hơn. Việc học tập trong nhóm tăng cường tính tích cực, chủ động, linh hoạt hơn.
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo
viên tạo điều kiện cho học sinh học tập theo từng nhóm nhằm luyện tập khả năng
giao tiếp bằng cách trao đổi, hợp tác, tranh luận, bàn bạc… với nhau để giải quyết
các vấn đề học tập và tìm ra được những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo mới cho bản
thân. Qua thảo luận nhóm, ngôn ngữ và năng lực tư duy của học sinh trở nên linh
hoạt hơn, đồng thời còn giúp các em luyện tập tính tự giác, tính đoàn kết tập thể,
có sự mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp.
- Các buổi học thảo luận nhóm bao giờ cũng rất sôi nổi. Những học sinh
nhút nhát, ít phát biểu trong lớp sẽ có môi trường tham gia xây dựng bài. Hơn thế
nữa, hầu hết các hoạt động nhóm đều mang cơ chế tự sửa lỗi và học sinh học lẫn
nhau, theo đó các lỗi sai được giải đáp trong bầu không khí thoải mái.
- Khi tổ chức học nhóm giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến và
kinh nghiệm của học sinh. Khi đó học sinh có lợi thế hơn khi làm việc độc lập, các
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

20


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..


Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

21


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

- GV chia lớp thành các nhóm (nhóm đôi, ba, tư)
- Câu hỏi thảo luận:
+ Hãy chia sẻ cách giữ gìn sách vở của mình cho bạn. (Gợi ý: Bạn đã làm gì
để giữ gìn sách vở? Để sách vở luôn sạch, đẹp không bị quăn mép, long bìa thì bạn
cần làm gì?...)
- Từng cá nhân trình bày trong nhóm cách làm của mình, các thành viên
khác nhận xét góp ý bổ sung cho bạn rồi thống nhất cách làm. Nhóm trưởng lên
báo cáo kết quả làm việc (các thành viên trong nhóm luân phiên làm nhóm trưởng).
- Các nhóm sau khi thảo luận sẽ trình bày trước lớp dưới sự điều khiển của
trưởng ban học tập. Các nhóm sẽ giao lưu bổ sung ý kiến. Cuối cùng giáo viên nêu
ý kiến và đánh giá tinh thần làm việc của các nhóm.
Ví dụ 2: Bài luyện nói “Trò chuyện về trời mưa” sách Tiếng việt 1 tập hai trang 125.
- Tiến hành tương tự. Giáo viên cũng có thể phát phiếu học tập cho các
nhóm, trong đó có nêu các câu hỏi thảo luận:
+ Bạn thích trời nắng hay trời mưa? Vì sao?
+ Bạn thích trời mưa như thế nào?
+ Sau cơn mưa cây cối và cảnh vật như thế nào?
4.3.3.Vận dụng phương pháp thông qua trò chơi học tập trong dạy học nội dung
luyện nói ở lớp 1:
- Trò chơi là hoạt động của con người nhằm mục đích vui chơi, giải trí, thư
giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Thông qua trò chơi, người chơi còn có thể

truyền điện, nói và viết lên bảng lớp….
Ví dụ: + Thi nói tiếp sức về đề tài trong bài: “Nói về các con vật mà em
biết” ( Tiếng Việt 1 tập hai - trang 149)
+ Hoặc thi tiếp sức (theo đội) điền vào chỗ chấm tên các con vật mà
em biết:
Ví dụ: Nhanh như…..
Dữ như……
Hiền như…….
Chạy như……..
Hót như……..
Đen như…..
Nhát như…..
+ Thi nói tiếp câu về đề tài sen: Nói tiếp vào các câu sau để được ý trọn vẹn
- Đầm sen rộng……
- Lá sen………
- Hoa sen…
- Nhị sen….
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016

23


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

- Hương sen…..
Ở mỗi câu trên có thể gọi nhiều em nói để tạo ra sự phong phú, đa dạng qua
đó học sinh thấy rằng có nhiều cách diễn đạt một ý hoặc cùng một sự vật có thể
được nhìn bằng nhiều góc độ khác nhau. Như vậy còn rèn được cho học sinh óc


Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..

cho chính xác, rõ ràng, hợp logic. Giáo viên cần biết cách động viên, khuyến khích
học sinh trả lời, tập thành thói quen trả lời một cách đầy đủ, đúng ý, sáng tạo, tránh
trả lời rập khuôn, máy móc, không đủ ý, đủ câu.
+ Giáo viên cần tổng kết phần hỏi đáp bằng cách yêu cầu học sinh độc thoại,
nói một đoạn ngắn về chủ đề đó (thường là học sinh giỏi) để rèn kỹ năng độc thoại
cho các em.
Ví dụ: Bài luyện nói: “Bữa cơm” (Tiếng Việt 1 tập một - trang 127). Giáo
viên có thể tổ chức bằng phương pháp hỏi đáp như sau:
- Yêu cầu học sinh nêu chủ đề luyện nói.
- Yêu cầu học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa, giáo viên nêu câu
hỏi cho HS trả lời:
+ Tranh vẽ cảnh gì?
+ Có những ai đang ăn cơm?
+ Bữa cơm trong gia đình em có những ai? (nhiều học sinh trả lời)
+ Trong bữa cơm có những món gì?
+ Em cảm thấy thế nào khi được ăn cơm cùng gia đình.
Với học sinh khá giỏi có thể yêu cầu học sinh kể về một bữa cơm bán trú….
- Những câu hỏi đầu thường dành cho những học sinh yếu hoặc ít nói. Sau
mỗi câu trả lời giáo viên cần động viên, khuyến khích để học sinh tự tin, mạnh dạn.
Cuối cùng giáo viên yêu cầu một vài em tự nói một số câu về chủ đề “Bữa cơm”.
Đây chính là phần nâng cao, dành cho những học sinh khá, giỏi.
4.3.5. Vận dụng phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề trong dạy
luyện nói ở lớp 1:
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp dạy
học mà trong đó giáo viên đặt ra những vấn đề của bài học thông qua các tình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status