Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
THÔNG TIN CHUNG
Họ và tên tác giả sáng kiến:
Đinh Thị Kiều Khương
Ngày, tháng, năm sinh:
08/05/1980
Đơn vị công tác:
Trường PT Đoàn Thị Điểm Ecopark
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Đại học
Quyền hạn, nhiệm vụ được giao hoặc đảm nhận: Giáo viên
Đề nghị xét, công nhận sáng kiến: (Cấp tỉnh, ngành, huyện/TP hoặc Trường)
.......................................................................................................................
.......................................................................................................................
Tên đề tài SKKN, lĩnh vực áp dụng: Một số biện pháp nhằm phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói trong môn Tiếng Việt 1 – Lĩnh
vực áp dụng môn Tiếng Việt.
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
1
có cách thức tổ chức và phương pháp dạy học hợp lý, tích cực nhằm nâng cao chất
lượng dạy - học môn Tiếng Việt, giúp học sinh sử dụng thành thạo Tiếng Việt.
Cho đến nay, việc triển khai chương trình Tiếng Việt 1 mới trên toàn quốc
đã lâu nhưng phần lớn giáo viên vẫn tỏ ra lúng túng, e ngại khi tổ chức dạy luyện
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
2
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
nói cho học sinh, còn học sinh rất khó khăn khi học phần này. Nhìn chung, việc
dạy học nội dung này vẫn chưa đạt hiệu quả cao.
Đây cũng là lý do tôi viết sáng kiến kinh nghiệm với chủ đề: “Một số biện
pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói
trong môn Tiếng Việt ở lớp 1”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và nội
dung luyện nói nói riêng ở lớp 1.
- Phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học luyện nói trong môn
Tiếng Việt 1.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Nội dung luyện nói và phương pháp dạy luyện nói môn Tiếng Việt lớp 1.
4. ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT THỰC NGHIỆM:
- Học sinh lớp 1A3 trường Phổ thông Đoàn Thị Điểm Ecopark.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liêu:
Nghiên cứu sách Tiếng Việt 1, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo khác
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
PHẦN II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Mục tiêu của môn Tiếng Việt mới đã thể hiện được quan điểm mới trong
dạy học đó là quan điểm giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bao gồm các hành vi nhận
thông tin và phát thông tin. Trong ngôn ngữ mỗi hành vi đều có thể thực hiện bằng
hai hình thức là khẩu ngữ (nghe, nói) và bút ngữ (đọc, viết). Dạy học theo quan
điểm giao tiếp là xu thế phổ biến trong các tài liệu dạy tiếng mẹ đẻ cũng như dạy
ngoại ngữ ở các nước tiên tiến hiện nay. Quan điểm này được thể hiện trên cả hai
phương diện nội dung và phương pháp dạy học.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp nhưng tựu chung thì về
vấn đề cốt lõi của các định nghĩa là: giao tiếp là hoạt động tiếp xúc, trao đổi giữa
con người với con người trong xã hội, nhằm truyền đạt cho nhau những nhận thức,
những tư duy hoặc nhằm bày tỏ, chia sẻ những tình cảm, thái độ, đối với nhau
cũng như đối với các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan. Như vậy, điều
kiện trước tiên đảm bảo cho một cuộc giao tiếp diễn ra bình thường là phải có ít
nhất hai đối tượng tham gia:1 đóng vai người nói và 1 đóng vai người nghe. Hai
vai này sẽ luân phiên thay đổi nhau trong suốt quá trình giao tiếp, họ cũng phải sử
dụng một thứ ngôn ngữ nhất định, cùng chịu sự chi phối của hoàn cảnh và nội
dung giao tiếp để hướng tới mục đích đã đề ra.
Trong quá trình dạy học luyện nói, lý thuyết giao tiếp giúp giáo viên có sự
định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học
đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo
viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành những tình huống giao tiếp gần gũi,
giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó
Ghi chú
-Nói rõ ràng đủ nghe. Nói liền
mạch cả câu.
-Sử dụng nghi thức lời nói - Có thái độ lịch sự, mạnh dạn,
-Đặt và trả lời câu hỏi
- Nói đúng lượt
tự nhiên khi nói.
lời, nhìn vào
- Biết nói lời chào hỏi, chia tay
người nghe khi
trong gia đình, trường học.
nói.
- Biết trả lời đúng vào nội dung
câu hỏi. Nói thành câu.
-Thuật việc, kể chuyện
- Kể được một đoạn hoặc cả
mẩu chuyện có nội dung đơn
luyện nói. Ở phần này yêu cầu luyện nói được lặp đi lặp lại và cách trình bày đơn
giản cho phù hợp với giai đoạn học chữ của trẻ. Mục tiêu của phần này là giúp học
sinh làm quen với không khí học tập mới, mạnh dạn nói cho các bạn nghe và lắng
nghe bạn nói.
Phần Luyện tập tổng hợp
- Trong phần luyện tập tổng hợp được bố trí các bài theo tuần với ba chủ điểm lớn:
Nhà trường, Gia đình, Thiên nhiên – Đất nước (từ tuần 25 trở về sau) Các bài của
mỗi tuần tập trung vào một chủ điểm – Cứ ba tuần hết một lượt chủ điểm. Việc
quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt mà vòng sau mở rộng hơn
vòng trước. Cụ thể:
Loại I: Luyện nói câu chứa tiếng có vần ôn trong bài tập đọc:
+ Kiểu 1: Nói câu chứa tiếng có vần cho trước. Kiểu này có 14 bài.
VD: Nói câu chứa tiếng có vần anh – ach.
M:- Nước chanh mát và bổ.
- Quyển sách này rất hay.
(Tiếng Việt 1 tập hai trang 59).
+Kiểu 2: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần cho trước. Kiểu này có 1 bài.
VD: Nhìn tranh nói câu chứa tiếng có vần ăc- ăt. (Tiếng Việt 1 tập hai trang 110).
Loại II: Luyện nói theo đề tài.
+ Kiểu 1: Bài tập nói theo bài
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
7
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
Dạng 1: Trả lời câu hỏi theo tranh: Dạng này có 1 bài. Ví dụ: trả lời các câu hỏi
8
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
Là một giáo viên đã nhiều năm liền dạy lớp 1 nên tôi biết luyện nói là một
nội dung cần thiết, có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển ngôn ngữ
cho học sinh, là tiền đề cho môn Tập làm văn sau này nhưng không phải là phần dễ
dạy. Nhiều giáo viên cũng xác định đây là một bộ phận quan trọng trong giờ học
học vần hoặc tập đọc lớp 1, song vì lượng thời gian dành cho nội dung này còn hạn
chế (khoảng 10 phút cuối trong tiết học), nên đôi lúc bị “bỏ qua” hoặc có tiến hành
thì chỉ được tổ chức một cách qua quýt. Còn về phần học sinh thì khả năng luyện
nói trong các giờ học này thường chỉ dừng lại ở việc trả lời các câu hỏi trong sách
hoặc của giáo viên, rất hiếm có học sinh nào biết tự nói một số câu về chủ đề bài
học đưa ra.
3. TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN:
3.1. Về phía giáo viên:
- Xét về nguyên nhân chủ quan đầu tiên cần phải kể đến là quan niệm của giáo
viên, một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp, chỉ chú
trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học Tiếng Việt thời lượng dành cho hoạt
động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học sinh tham gia
nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em mạnh dạn, hay
phát biểu mà thôi.
- Giáo viên chưa tập trung tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lý, môi trường sống của
học sinh, chưa thật sự thông cảm với những khó khăn mà học sinh gặp phải nên
khi tiến hành hỏi đáp chỉ yêu cầu những học sinh nói hay hoặc hay nói trả lời.
Không mấy quan tâm đến những học sinh ít nói, nghèo nàn về ngôn ngữ, nói
ngọng vì sợ gọi những em này trả lời sẽ làm mất nhiều thời gian. Vấn đề này vô
bạn bè chê cười khi nói không đúng hoặc nói ngọng nên học sinh cũng rất ít thể
hiện mình, rất ít nói thậm chí đến giờ luyện nói có học sinh còn không nói được
câu nào.
- Học sinh lớp 1 đa số rất hiếu động, dễ nhớ nhưng lại mau quên nên việc ghi nhớ
lời thầy cô dạy là chưa vững chắc.
3.3. Một số hạn chế của sách giáo khoa và sách giáo viên
3.3.1. Sách giáo khoa lớp 1:
- Có bài chủ đề luyện nói không liên quan đến chữ, vần của bài đó. Ví dụ: Bài 20k, kh, kẻ, khế thì chủ đề luyện nói lại là “ù ù, vo vo, vù vù, ro ro, tu tu”.
- Một số chủ đề nói chưa gần gũi,chưa phù hợp với học sinh của từng vùng miền.
Ví dụ: Bài 8- le le, bài 9- vó bè, bài 33- Lễ hội, bài 34 – Đồi, núi.
- Phần luyện tập tổng hợp: Số lượng từng dạng bài tập còn chưa hợp lý. Bài tập về
nghi thức lời nói còn ít (chỉ có 2 bài, chỉ xoay quanh vấn đề nói lời chào, lời chia tay)
đó là bài Mẹ và cô - Sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 73 và bài Bác đưa thư - sách Tiếng
Việt 1 tập 2 trang 136. Số lượng nói theo đề tài nhiều và chủ yếu là độc thoại (đây lại
là mức độ cao của dạng thức lời nói, sẽ rất khó với học sinh lớp 1).
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
10
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
- Những đề tài hội thoại có tranh gợi ý không còn phù hợp với thông tư 30. Ví dụ :
Bài 65 trang 133 sách Tiếng Việt 1 tập một
Chủ đề luyện nói : Điểm mười
Hay trong bài tập đọc: Bàn tay mẹ -sách Tiếng Việt 1 tập 2 trang 56
Hoặc: Với bài luyện nói “Bạn đã làm gì để bảo vệ loài chim?” (Sách Tiếng Việt 1
tập hai - trang 152), sách giáo viên chỉ hướng dẫn: Chia nhóm, các nhóm kể cho
nhau xem bạn đã làm gì để bảo vệ các loài chim. Cử người kể trước lớp.
- Hệ thống câu hỏi ở một số bài còn hạn chế:
+ Câu hỏi không kích thích tính tư duy của học sinh. Ví dụ: Bài “Le le”- có câu
hỏi: Vịt, ngan được người nuôi ở ao, hồ. Còn loài vịt sống tự do không có người
chăn được gọi là gì?
+ Có câu hỏi quá dài, khiến người nghe khó theo dõi, trong khi đáp án trả lời lại là
“có” hoặc “không”: Ra giữa nắng bắt chuồn chuồn, châu chấu, cào cào, tối về sụt
sịt, mai không đi học được, có tốt không?
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
12
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
+ Có câu hỏi trong cùng một hệ thống trùng lặp nhau: Chủ đề “Phim hoạt hình có
câu hỏi 1: Em thấy cảnh gì trong tranh?, câu hỏi 2: Trong cảnh đó em thấy những
gì?, câu hỏi 3: có ai ở trong cảnh? Họ đang làm gì?
Chính vì những khó khăn, hạn chế trên mà giáo viên thêm phần ngại và lúng
túng khi dạy luyện nói cho học sinh. Hơn nữa, nội dung luyện nói còn được coi là
khó dạy, khó học. Dạy nói cho học sinh lớp 1 phải gắn với cả việc dạy đọc, dạy
viết, dạy nghe. Vì vậy khi dạy nội dung này người giáo viên phải có nhiều sáng
tạo, linh hoạt, biết kết hợp nhiều phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp, biết
điều chỉnh những nội dung cần thiết để giờ học đạt kết quả tốt.
4. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
4.1. Giúp học sinh phát triển lời nói
hoặc uốn nắn khi các em đã kết thúc phần nói của mình.
4. 2. Rèn kĩ năng nói cho học sinh:
Để rèn kĩ năng nói và khả năng diễn đạt cho học sinh thì giáo viên cần phải
làm những việc sau:
4.2.1. Xác định và nắm rõ mục tiêu chính của chủ đề luyện nói
Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần luyện nói. Gợi ý sao cho tất cả học
sinh đều được nói, không đi quá xa với chủ đề. Chẳng hạn như chủ đề. “Nói lời
cảm ơn; Con ngoan trò giỏi; Giúp đỡ cha mẹ”…..nếu đi quá sâu sẽ lẫn sang tiết
Đạo đức. Để khắc phục điều này tôi chỉ định hướng các em câu hỏi gợi ý xoay
quanh vấn đề trọng tâm cần luyện nói.
Ví dụ:
Với chủ đề: Nói lời cảm ơn:
+ Em hãy kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm ơn ai
đó về điều gì?
Với chủ đề Giúp đỡ cha mẹ tôi hỏi:
+ Hai bạn nhỏ đã làm gì để giúp đỡ cha mẹ?
+ Em thường giúp đỡ cha mẹ vào những lúc nào?
+ Em đã giúp đỡ cha mẹ những việc gì? Hãy nói cho các bạn cùng nghe nhé!
Còn với chủ đề: Con ngoan, trò giỏi tôi có câu hỏi gợi ý:
+ Em đã làm được những việc gì để cố gắng là một người con ngoan trong gia
đình?
+ Em đã làm gì để cố gắng trở thành một trò giỏi ở trường học?
4.2.2. Nắm bắt thực tế về khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp,
hình thức dạy cho phù hợp.
Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng tuỳ nội
dung của từng bài. Tuỳ theo từng chủ đề mà tôi có định hướng cho học sinh khi
luyện nói, khi đặt câu hỏi để giúp các em biết cách nói cho sát nội dung bài và
nói một cách tự nhiên, chủ động không gượng ép. Tôi phải chuẩn bị và dự trù
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
lớp để có sự sẻ chia, thông cảm, động viên các em nói nhiều và mạnh dạn hơn bắt
đầu từ những điều đơn giản nhất, dần dần tăng mức độ khó lên theo thời gian.
4.2.3. Phân các chủ đề thành nhiều nhóm để lựa chọn phương pháp và hình
thức khác thay đổi cho phù hợp với cá nhân, nhóm, đối thoại, độc thoại,…
Với những chủ đề gần gũi với học sinh như: Chủ đề: bố mẹ, ba má; Quà
quê; Nhà trẻ; Bé và bạn bè; Người bạn tốt; Bữa cơm, Hãy kể với cha mẹ hôm nay
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
15
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
ở lớp con đã ngoan thế nào?;…Giáo viên gợi mở cho học sinh nói qua vốn hiểu
biết thực tế của các em, lựa chọn những hình thức học tập, trò chơi v.v…
Chẳng hạn:
- Chủ đề nói về gia đình: “Bố mẹ - Ba má, Bà cháu”…có thể cho học sinh sắm vai
nhân vật thể hiện tình cảm của ông bà, bố mẹ đã yêu thương, quan tâm, chăm sóc
em hoặc những tình cảm, việc làm của em thể hiện sự hiếu thảo của một người
cháu, người con đối với ông bà, cha mẹ mình.
- Với chủ đề “Vó bè”: Cho học sinh quan sát thật kĩ bức tranh và giới thiệu trực
tiếp đó chính là vó bè. Phân biệt thêm hình ảnh chiếc vó và bè. Gợi ý để các em nói
được dụng cụ đó được đặt ở đâu? Dùng để làm gì?
Với một số chủ đề khó hơn, chưa thật phù hợp với thực tế địa phương (Ví
dụ bài 20, bài 22, bài 30, bài 34, bài 40, bài 54,…) Thì giáo viên cần hướng dẫn
học sinh nghe - nói một cách linh hoạt, khai thác những nội dung gần gũi với học
sinhvà ít nhiều liên quan đến chủ đề (không nhất thiết phải có trong tranh minh hoạ
tranh trang 56 sách Tiếng Việt 1 tập 2; Hãy kể với cha mẹ hôm nay ở lớp con đã
ngoan thế nào trang 101 sách Tiếng Việt 1 tập hai. Đây là một phần mới vì thông
tư 30 hiện nay là không chấm điểm mà chỉ nhận xét. Vậy khi có chủ đề này giáo
viên phải giải thích cho học sinh biết được những năm học trước giáo viên hàng
ngày chấm điểm cho học sinh thì điểm 10 là số điểm cao nhất tương ứng với
những bạn nắm chắc kiến thức, thể hiện tốt kiến thức bài học. Bên cạnh đó giáo
viên có thể định hướng để học sinh nói ra những câu khen học sinh nắm kiến thức
và thể hiện tốt bài làm của mình mà hàng ngày giáo viên vẫn làm.
4.2.4. Chuẩn bị đồ dùng học tập đầy đủ và phong phú:
- Hình ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu
- Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để làm phương tiện giảng
dạy. Ví dụ khi dạy về chủ đề: Dế, cá cờ, bi ve, lá đa tôi có thể chuẩn bị sẵn những
vật thật đó để học sinh có thể quan sát trực tiếp tạo hứng thú cho các em. Từ đó gợi
ý các em có thể lấy những đồ dùng đó làm những trò chơi dân gian mà trẻ em xưa
vẫn chơi. Hoặc khi dạy chủ đề: Đèn dầu, đèn điện, đèn huỳnh quang, chủ đề: Rổ
rá, chủ đề: Chuối, bưởi, vú sữa… tôi cũng tiến hành tương tự .
- Tận dụng những tranh ảnh, đồ dùng mà học sinh có thể cùng sưu tầm được. Ví
dụ: tranh ảnh về lễ hội khi dạy về chủ đề Lễ hội, các đoạn video clip về gió, mây,
mưa, bão, lũ……
- Khi phương tiện dạy học đầy đủ, phong phú, sát với thực tế sẽ tạo cho các em hào
hứng, chủ động và tích cực tham gia vào quá trình luyện nói.
4.2.5. Lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp:
a. Gợi ý bằng hệ thống câu hỏi qua phương pháp đàm thoại. Trong quá trình
đàm thoại giữa giáo viên và học sinh dựa trên lời nói của học sinh giáo viên sẽ
chỉnh sửa câu nói sao cho rõ, gọn, đủ ý diễn đạt theo nội dung của chủ đề.
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
17
nói đúng chủ đề, rõ ý, to rõ ràng nhưng nếu con biết kết hợp cử chỉ, điệu bộ trong
khi nói thì thật là tuyệt vời….
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
18
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
4.3. Sử dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào dạy luyện nói trong
môn Tiếng Việt.
4.3.1. Vận dụng phương pháp đóng vai
- Phương pháp đóng vai là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức
cho học sinh giải quyết một tình huống của nội dung học tập gắn liền với cuộc
sống thực tế bằng cách diễn xuất ngẫu hứng không cần luyện tập kịch bản trước.
- Phương pháp đóng vai nhằm giúp học sinh thể hiện tình huống giao tiếp
bằng cách đóng vai nhân vật giao tiếp, trau dồi trí tưởng tượng, rèn kỹ năng nói
trong hội thoại, biết thể hiện ngữ điệu, cử chỉ, hành động khi vào vai nhân vật.
Phương pháp này thường dùng khi dạy các bài nói kiểu tình huống giao tiếp, hoặc
trò chuyện, hỏi - đáp về một đề tài.
Ví dụ:
- Bài 31(Học vần): Bé tự giới thiệu
- Bài 60 (Học vần): Nói lời cảm ơn
- Bài: “Bác đưa thư - sách Tiếng Việt 1 tập hai trang 137”: Tập nói lời
chào hỏi của Minh:
không chỉ có lời nói của bé mà còn có cả lời nói của bác đưa thư đáp lại khi được
Minh chào hỏi và mời nước. Tình huống này có yêu cầu cao hơn, có nhiều em được
tham gia đóng vai hơn.
+ Sau khi học sinh đóng vai, giáo viên tổ chức cho nhận xét, đánh giá, rút
kinh nghiệm, khen ngợi những em thể hiện vai diễn tốt.
4.3.2. Bước đầu vận dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm theo mô hình
VNEN trong dạy học nội dung luyện nói ở lớp 1:
- Đặc trưng phương pháp dạy học hợp tác nhóm là học sinh trước hết phải
làm việc các nhân để có chính kiến riêng của mình, sau đó nói với nhau, đưa ra ý
kiến của mình và lắng nghe ý kiến của các bạn để hoàn thiện thêm ý kiến của mình
…. do vậy học sinh được tạo nhiều cơ hội hơn để diễn đạt, khám phá ý tưởng, mở
rộng suy nghĩ và rèn luyện kĩ năng nói; tự tìm tòi để phải đưa ra được ý kiến của
mình, tạo cơ hội để học hỏi từ các bạn, cũng từ đây các em có kĩ năng giao tiếp tốt
hơn. Việc học tập trong nhóm tăng cường tính tích cực, chủ động, linh hoạt hơn.
Phương pháp thảo luận nhóm là một phương pháp dạy học trong đó giáo
viên tạo điều kiện cho học sinh học tập theo từng nhóm nhằm luyện tập khả năng
giao tiếp bằng cách trao đổi, hợp tác, tranh luận, bàn bạc… với nhau để giải quyết
các vấn đề học tập và tìm ra được những tri thức, kỹ năng , kỹ xảo mới cho bản
thân. Qua thảo luận nhóm, ngôn ngữ và năng lực tư duy của học sinh trở nên linh
hoạt hơn, đồng thời còn giúp các em luyện tập tính tự giác, tính đoàn kết tập thể,
có sự mạnh dạn, tự tin trong học tập và giao tiếp.
- Các buổi học thảo luận nhóm bao giờ cũng rất sôi nổi. Những học sinh
nhút nhát, ít phát biểu trong lớp sẽ có môi trường tham gia xây dựng bài. Hơn thế
nữa, hầu hết các hoạt động nhóm đều mang cơ chế tự sửa lỗi và học sinh học lẫn
nhau, theo đó các lỗi sai được giải đáp trong bầu không khí thoải mái.
- Khi tổ chức học nhóm giáo viên cũng có cơ hội tận dụng những ý kiến và
kinh nghiệm của học sinh. Khi đó học sinh có lợi thế hơn khi làm việc độc lập, các
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
20
nhiên hơn. Giáo viên cần chú ý đến câu hỏi có nhiều ý kiến.
+ Giáo viên nên để học sinh có nhận xét về bài nói của các nhóm, sau đó
mới đưa ra đánh giá của mình và có thể khen ngợi ý kiến đóng góp của các em,
động viên tinh thần làm việc của các nhóm.
Ví dụ 1: Bài luyện nói về chủ đề: “Giữ gìn sách vở” Sách Tiếng Việt 1 tập
một trang 165.
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
21
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
- GV chia lớp thành các nhóm (nhóm đôi, ba, tư)
- Câu hỏi thảo luận:
+ Hãy chia sẻ cách giữ gìn sách vở của mình cho bạn. (Gợi ý: Bạn đã làm gì
để giữ gìn sách vở? Để sách vở luôn sạch, đẹp không bị quăn mép, long bìa thì bạn
cần làm gì?...)
- Từng cá nhân trình bày trong nhóm cách làm của mình, các thành viên
khác nhận xét góp ý bổ sung cho bạn rồi thống nhất cách làm. Nhóm trưởng lên
báo cáo kết quả làm việc (các thành viên trong nhóm luân phiên làm nhóm trưởng).
- Các nhóm sau khi thảo luận sẽ trình bày trước lớp dưới sự điều khiển của
trưởng ban học tập. Các nhóm sẽ giao lưu bổ sung ý kiến. Cuối cùng giáo viên nêu
ý kiến và đánh giá tinh thần làm việc của các nhóm.
Ví dụ 2: Bài luyện nói “Trò chuyện về trời mưa” sách Tiếng việt 1 tập hai trang 125.
- Tiến hành tương tự. Giáo viên cũng có thể phát phiếu học tập cho các
nhóm, trong đó có nêu các câu hỏi thảo luận:
+ Bạn thích trời nắng hay trời mưa? Vì sao?
sinh. Luật cũng cần được phổ biến rõ ràng trước cuộc chơi.
- Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng trò chơi quá nhiều trong giờ học, chỉ
nên chơi vào ít phút cuối của giờ học, khi xuất hiện yêu cầu củng cố kiến thức, kỹ
năng, khi học sinh đã có dấu hiệu mệt mỏi. Lúc đó trò chơi sẽ tạo sự hưng phấn để
kết thúc tiết học và tạo thư giãn cho các em bước vào tiết học tiếp theo.
- Trò chơi học tập trong giờ luyện nói có thể kết hợp các vận động như:
truyền điện, nói và viết lên bảng lớp….
Ví dụ: + Thi nói tiếp sức về đề tài trong bài: “Nói về các con vật mà em
biết” ( Tiếng Việt 1 tập hai - trang 149)
+ Hoặc thi tiếp sức (theo đội) điền vào chỗ chấm tên các con vật mà
em biết:
Ví dụ: Nhanh như…..
Dữ như……
Hiền như…….
Chạy như……..
Hót như……..
Đen như…..
Nhát như…..
+ Thi nói tiếp câu về đề tài sen: Nói tiếp vào các câu sau để được ý trọn vẹn
- Đầm sen rộng……
- Lá sen………
- Hoa sen…
- Nhị sen….
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
23
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
+ Không chỉ chú ý đến kết quả câu trả lời của học sinh mà phải chú ý đến cả
cách diễn đạt câu trả lời của các em. Từ đó cần sửa lỗi diễn đạt cho học sinh sao
Sáng kiến kinh nghiệm năm học 2015 – 2016
24
Một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh khi học
luyện nói trong môn Tiếng Việt 1
……………………………………………………………………..………………………..
cho chính xác, rõ ràng, hợp logic. Giáo viên cần biết cách động viên, khuyến khích
học sinh trả lời, tập thành thói quen trả lời một cách đầy đủ, đúng ý, sáng tạo, tránh
trả lời rập khuôn, máy móc, không đủ ý, đủ câu.
+ Giáo viên cần tổng kết phần hỏi đáp bằng cách yêu cầu học sinh độc thoại,
nói một đoạn ngắn về chủ đề đó (thường là học sinh giỏi) để rèn kỹ năng độc thoại
cho các em.
Ví dụ: Bài luyện nói: “Bữa cơm” (Tiếng Việt 1 tập một - trang 127). Giáo
viên có thể tổ chức bằng phương pháp hỏi đáp như sau:
- Yêu cầu học sinh nêu chủ đề luyện nói.
- Yêu cầu học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa, giáo viên nêu câu
hỏi cho HS trả lời:
+ Tranh vẽ cảnh gì?
+ Có những ai đang ăn cơm?
+ Bữa cơm trong gia đình em có những ai? (nhiều học sinh trả lời)
+ Trong bữa cơm có những món gì?
+ Em cảm thấy thế nào khi được ăn cơm cùng gia đình.
Với học sinh khá giỏi có thể yêu cầu học sinh kể về một bữa cơm bán trú….
- Những câu hỏi đầu thường dành cho những học sinh yếu hoặc ít nói. Sau
mỗi câu trả lời giáo viên cần động viên, khuyến khích để học sinh tự tin, mạnh dạn.