DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AIA : Khu vực đầu tư ASEAN
APEC : Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
ASEM : Diễn đàn hợp tác kinh tế Á - Âu
BTA : Hiệp định thương mại song phương
CNH : Công nghiệp hoá
EU : Liên minh châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HĐH : Hiện đại hoá
HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế
IMF : Quỹ tiền tệ Quốc tế
M&A : Thôn tính và sáp nhập
MIGA : Cơ quan đảm bảo đầu tư đa biên
NAFTA : Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ
NDT : Nhân dân tệ
NIEs : Các nền kinh tế công nghiệp mới
JETRO : Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
R&D : Nghiên cứu và Phát triển
SARS : Bệnh dịch viêm đường hô hấp cấp
TNCs : Công ty xuyên quốc gia
UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc
UNCTAC : Tổ chức Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển
USD : Đô la Mỹ
WB : Ngân hàng thế giới
WIR : Báo cáo đầu tư thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
MPDF : Chương trình phát triển kinh tế tư nhân
FIAS : Bộ phận tư vấn dịch vụ đầu tư nước ngoài
đầu tư phát triển tại Lào giai đoạn 2000-2006.
2
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ
yếu là các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê, tổng
hợp và lối tư duy phân tích logic.
5. Những đóng góp của luận văn
- Luận văn đã góp phần làm rõ thêm tính lý luận thực tiễn về nguồn
vốn ODA và tình hình thu hút vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào.
- Đánh giá được thực trạng thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát
triển tại Lào giai đoạn 2000-2006.
- Đưa ra được các giải pháp có tính thực tiễn đối với việc tăng cường
thu hút nguồn vốn ODA vào đầu tư phát triển tại Lào.
6. Kết cấu luận văn
Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vốn ODA
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn ODA tại Cộng hoà dân chủ nhân
dân Lào giai đoạn 2000-2006
Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn ODA tại Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VỐN ODA ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG
PHÁT TRIỂN
1.1. TỔNG QUAN VỀ ODA
1.1.1. Quá trình hình thành và xu hướng phát triển ODA trên thế giới
1.1.1.1 Nguồn gốc ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hình thành từ
những năm sau của Chiến tranh thế giới II, khi nền kinh tế của các nước đều
lâm vào tình trạng khủng hoảng trên toàn thế giới và tại các khu vực dần hình
tại Pari, các nước Châu Âu đệ xuất một chương trình hợp tác hồi phục kinh tế
tài trợ, và Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC), ngày nay được biết đến
như là Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), được thành lập để thực
hiện kế hoạch Marshall. Mục tiêu của kế hoạch là trợ giúp những nước Châu
Âu khôi phục lại nền kinh tế đã bị tàn phá trong chiến tranh, cụ thể là:
- Đạt được một sự phát triển kinh tế cao bền vững, lao động và mức
sống tăng trưởng cao nhất tại các nước thành viên, đồng thời duy trì được ổn
định tài chính, góp phần hơn nữa vào phát triển kinh tế thế giới.
- Hỗ trợ phát triển kinh tế các nước thành viên cũng như các nước
không phải là thành viên trong quá trình phát triển kinh tế chung.
- Tăng cường phát triển thương mại thế giới trên cơ sở đa phương phù
hợp với những nghĩa vụ quốc tế
OECD bao gồm 20 nước thành viên, ban đầu đã đóng góp phần quan
trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương và đa phương. Trong
khuôn khổ hợp tác phát triển , các nước OECD đã lập ra những uỷ ban
chuyên môn, trong đó có Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) nhằm giúp các
nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Thành
viên ban đầu của DAC gồm 18 nước hiện nay gồm : Áo, Bỉ, Canada, Đan
Mạch, Pháp, Đức, Ailen, Ý, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Anh, Mỹ, Úc,
5
Niu Dilan, Nhật Bản, Phần Lan, Luxămbua, Tây Ban Nha và Uỷ ban của
Cộng đồng Châu Âu. IBRD, IMF, và UNDP tham dự các cuộc họp của DAC
với tư cách là các quan sát viên thường trực. Ba nước OECD là Hy lạp,
Aixơlen và Thổ Nhĩ Kỳ không phải là thành viên của DAC nhưng vẫn tham
dự trong các cuộc họp quan trọng. Thường kỳ các nước thành viên DAC
thông báo cho uỷ ban các khoản đóng góp của họ cho các chương trình viện
trợ phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới chính sách viện trợ
phát triển và trao đổi với nhau các vấn đề liên quan tới chính sách viện trợ
phát triển. Năm 1996, DAC đã cho ra đời bản báo cáo “Kiến tạo thế kỷ XXI-
Vai trò của hợp tác phát triển”. Báo cáo này đã nói tới một vai trò khác của
cấp vốn chủ yếu. ODA là hình thức viện trợ chính thức không bao gồm các
khoản tài trợ tư nhân kể cả khi Chính phủ nước đó đứng ra bảo lãnh. Cũng như
vậy viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (NGOs) cũng được tính vào ODA
mặc dù các tổ chức này vẫn nhận được sự hỗ trợ về tài chính của Chính phủ.
Có hai điều kiện chung nhất cho các nước đang và chậm phát triển
nhận được ODA tài trợ của Cộng đồng tài trợ:
Điều kiện 1: Các nước được nhận ODA phải có mức GDP bình quân
đầu người thấp (< 525USD/ năm). Chỉ tiêu này càng thấp thì khả năng nhận
được ODA càng nhiều.
Theo quy định của DAC thì có các mức phân loại nước nhận ODA như sau:
Các nước chậm phát triển nhất ( LDCs – Lowest Developing
Countries): Các nước này chủ yếu tập trung ở Châu Phi và một vài nước Châu
Á như Lào, Myanma, Bangladet…
Các nước có mức thu nhập thấp ( LICs – Lowest Income Countries ), là
những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp hơn 675 USD. Có thể kể
đến một vài nước như Ấn độ, Nigiêria, Kennia, Guana, trong các nước này có
cả Lào.
7
Các nước có thu nhập trung bình thấp ( LMICs – Low Middle Income
Countries ): Những nước này có thu nhập bình quân đầu người thường từ 676
đến 2.695 USD. Các nước này tập trung chủ yếu ở Nam Mỹ, Trung Đông,
Châu Á, một số nước ở Châu Phi và Đông Âu…
Các nước có thu nhập trên trung bình ( UMICs – Upper Middle Income
Countries) có thu nhập bình quân đầu người từ 2.696 đến 8.355 USD. Những
nước này nằm ở châu Mỹ như Braxin, Mexico, Châu Á như Malaixia, Cộng
hoà dân chủ nhân dân Triều tiên, và ở các Châu lục khác.
Điều kiện 2: Mục tiêu sử dụng vốn của các nước đang và chậm phát
triển phải phù hợp với phương hướng ưu tiên, tiêu chí này được xem xét trong
mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA.
Thường thì yêu cầu của các nước, các tổ chức tài trợ quốc tế đặt ra cho
- Lãi suất vay: 3%
- Lãi suất vay: 4%
- Lãi suất vay: 2,5%
- Lãi suất vay: 0%
7
11
25
30
25-50
3
3
7
8
7-12
100
0
25
35
45
60
76
Nguån: Ng©n hµng Nhµ níc
Mục tiêu tổng quát của ODA là hỗ trợ các nước nghèo thực hiện những
chương trình phát triển và tăng phúc lợi của mình. Tuy nhiên, tính ưu đãi
dành cho vốn này thường đi kèm các điều kiện ràng buộc tương đối khắt khe
như tính hiệu quả của dự án, thủ tục chuyển giao vốn và thành toán…Đôi khi
ODA được cung cấp từ các Chính phủ còn gắn với những ràng buộc nào đó
về chính trị, xã hội thậm chí về quân sự. Với những điều kiện đó không phải
nước nào cũng có thể nhận được viện trợ hoặc sử dụng nó có hiệu quả trong
hoàn cảnh riêng của mình. Trong một số trường hợp, các điều kiện, thực chất
10
giáo dục, y tế, năng lượng, văn hoá…
Viện trợ có hoàn lại: Hay còn gọi là vốn vay ưu đãi. Nguồn vốn này
thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng số vốn vay của các nhà tài trợ. Yếu
tố cho không trong nguồn vốn này thường thấp hơn 25% tổng số vốn vay.
Loại này thường có lãi suất thấp từ 0,7-3%/năm, thời gian cho vay dài trên 10
năm, có khi lên đến 40 năm và có thời gian ân hạn. Nguồn vốn đầu tư chủ yếu
cho các dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các chương trình thuộc dạng ưu tiên
của chính phủ.
Viện trợ hỗn hợp: Cơ cấu của nguồn vốn bao gồm cả phần vốn hoàn lại
và không hoàn lại (yếu tố cho không). Hiện nay các nhà tài trợ có xu hướng
cấp vốn theo hình thức này. Loại vốn này có ưu điểm là lãi suất cho vay
tương đối thấp từ 4-7,5%/năm. Do vẫn còn tính chất ưu đãi cho nên việc sử
dụng nguồn vốn này vẫn còn phải tuân theo một số quy tắc của phía nhà tài
trợ quy định
1.1.1.4.2 Phân theo hình thức sử dụng
Hình thức dự án đầu tư: Đây là hình thức chủ yếu hỗ trợ phát triển
chính thức, bao gồm:
- Hỗ trợ cơ bản: Hỗ trợ cơ bản thường gắn với xây dựng cơ bản tập trung
như đường xã, cầu cống, đê đập, trường học, bệnh viện, hệ thống viễn thông
- Hỗ trợ kỹ thuật: Thường có nội dung chủ yếu là tăng cường năng lực
thể chế, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu cơ bản…
Hỗ trợ kỹ thuật thường có 3 phần:
Cung cấp chuyên gia
Đào tạo cán bộ
Cung cấp trang thiết bị
Trên thực tế có dự án kết hợp cả hai loại hình hỗ trợ trên.
Hình thức chương trình: Hình thức này còn gọi là hình thức viện trợ phi
11
dự án, viện trợ khi đã đạt được một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung
khối lượng ODA trên thế giới tăng chậm, giữa thế kỷ 80 thì khối lượng viện
trợ cho các nước đang và chậm phát triển đạt mức tăng trưởng gấp hai lần so
với lượng ODA đầu thập kỷ 70. Những năm này nguồn viện trợ của các nước
thành viên DAC và các nước Ả Rập tăng liên tục. Nửa sau thập kỷ 80, khối
lượng ODA trên thế giới bắt đầu bị giảm sút do tình hình thế giới có nhiều
thay đổi, sau đó đến đầu thập kỷ 90, khối lượng ODA trên thế giới mới bắt
đầu tăng trở lại.
Điều đáng chú ý là trong suốt 40 năm qua, khối lượng ODA của các
nước thành viên DAC tăng liên tục trong khi đó lượng ODA từ Liên xô cũ
(CIS) và các nước Đông Âu (CEECs) bị giảm mạnh và đến cuối năm 80 thì
mất hẳn, thậm chí các nước này trở thành nước nhận ODA
Mục tiêu phấn đấu đầu tiên về tỷ lệ ODA/GNP là 1% đã được chấp
nhận tại Hội đồng Nhà thờ thế giới (1958). Năm 1960, Liên Hợp Quốc cũng
khuyến nghị tỷ lệ ODA/GNP là 1% như trên và về sau mục tiêu này cũng
được OEACD/DAC và UNCTAD chấp nhận. Đây chính là thời điểm mà
nguồn tài chính cho các nước đang phát triển vượt quá 1%
Năm 1969, để làm rõ các khoản tài chính này, Hội đồng Pearson đề
nghị mục tiêu 1% GNP cho mọi nguồn vốn và trong đó 0,7% GNP cho hỗ trợ
phát triển chính thức. Tỷ lệ ODA/GNP năm 1961 là 0,54% và hiện nay nó giữ
ở mức hợp lý khoảng 0,32-0,33%. Mục tiêu 0,7% đang đặt ra thách thức lớn
và rất khó để đạt tới. Tuy nhiên đã diễn ra sự chuyển dịch đáng kể tỷ lệ này ở
từng nước thành viên DAC. Trong khi tỷ lệ này tiếp tục giảm đáng kể ở Mỹ
13
và Anh, thì các nước Bắc Âu và Hà Lan lại duy trì được ở mức gần 1%.
Trong những năm 80 các nước Phần Lan, Ý, Thuỵ Sỹ cũng gia tăng đáng kể
các khoản viện trợ.
Nói đến sự phân bố ODA trên thế giới, ta thấy kể từ thập kỷ 70, việc
phân phối các khoản viện trợ chủ yếu hướng vào vùng Sahara của Châu phi
và Trung Đông, bao gồm cả Ai Cập. Bên cạnh khu vực Trung Mỹ, nơi nhận
được không đáng kể các khoản viện trợ, tỷ trọng này đã thực sự bị giảm mạnh
Hai là, Mức độ cạnh tranh thu hút ODA đang tăng lên giữa các nước
đang phát triển. Trên thế giới số nước giành được độc lập, bắt đầu xây dựng
kinh tế phát triển xã hội tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA. Sự tan
rã của Liên Xô và Đông Âu đã hình thành một loạt nước mới, các nước Cộng
hoà thuộc Nam Tư cũ bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh sắc tộc đòi hỏi sự
hỗ trợ quốc tế. Ở Châu Á, Trung Quốc cũng đang cần đến nguồn vốn ODA
lớn để xây dựng kinh tế. Ở Đông Nam Á, mặc dù một số nước như Singapore,
Malaisia, Thái Lan đã giảm dần nguồn tiếp nhận ODA, song bên cạnh đó lại
nổi lên các quốc gia khác với yêu cầu ODA lớn hơn như các nước Đông
Dương, Myanma. Theo Ngân hàng thế giới thì trong giai đoạn 1995-2004, các
nước đang phát triển ở Châu Á sẽ cần tới 1400 tỉ đôla cho xây dựng cơ sở hạ
tầng để có thể duy trì được tốc độ phát triển như hiện nay. Trong khi đó thị
trường vốn vay dài hạn từ 20-30 năm cho cơ sở hạ tầng ở Châu Á vẫn chưa
hình thành. Đây sẽ là một trong những yếu tố cạnh tranh gay gắt giữa các
nước đang phát triển trong việc thu hút vốn ODA
Ba là, Triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan. Mặc dù Đại hội
đồng liên hợp quốc đã khuyến nghị dành 0,7% của các nước phát triển để
cung cấp cho các nước đang phát triển. Song khả năng này ít hiện thực. Thực
15
tế cho thấy các nước có khối lượng ODA lớn nhất như Nhật Bản, Mỹ… thì tỷ
lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dưới 0,3% trong nhiều năm qua. Tuy có một số
nước như Thuỵ Điển, Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch…đã có tỷ lệ ODA chiếm
hơn 1% GNP song khối lượng ODA tuyệt đối của các nước này không lớn
nhất là trong giai đoạn này, khi mà cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Đông
Nam Á đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới các nước khu vực châu Á như Thái
Lan, Inđônêxia, Philippin, Hồng Kông, Hà Quốc và nhất là tới Nhật Bản, một
trong những nhà cung cấp ODA lớn nhất hiện nay. Nền kinh tế các nước ở
những Châu lục khác cũng bị ảnh hưởng ít nhiều bởi cuộc khủng hoảng này
như các nước ở Châu Âu, kinh tế Mỹ và các nước khu vực Nam Mỹ… Chắc
chắn trước tình hình suy thoái kinh tế nghiêm trọng này trên thế giới, nguồn
thực hiện dưới hình thức viện trợ không hoàn lại, ưu tiên cho các nước đang
phát triển có thu nhập thấp và không ràng buộc điều kiện chính trị một cách lộ
liễu. Viện trợ thường tập trung cho các như cầu có tính chất xã hội như văn
hoá, giáo dục, sức khoẻ, dân số, xoá đói giảm nghèo…
Liên minh Châu Âu (EU) là tổ chức có tính chất kinh tế - xã hội của 15
nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu (chủ yếu là Tây - Bắc Âu) có quỹ lớn
song chủ yếu dành ưu tiên cho các thuộc điạ cũ ở Châu Phi, Caribe, Nam Thái
Bình Dương, nay bắt đầu chú ý đến Đông Âu.
c. Các tổ chức phi Chính phủ (NGOs): Trên thế giới có hàng trăm tổ
chức phi Chính phủ hoạt động theo các mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện,
nhân đạo, y tế, thể thao, tôn giáo…). Vốn của các tổ chức này thường nhỏ,
chủ yếu dựa vào quyên góp hoặc nhờ sự tài trợ của các Chính phủ. Do vậy,
viện trợ của các NGOs thường có đặc điểm:
- Đa dạng: có thể là vật tư thiết bị hoặc lương thực, thực phẩm, thuốc
17
men, cũng có thể là tiền mặt, quần áo, đồ dùng.
- Quy mô nhỏ: từ vài ngàn đến vài chục trăm ngàn đôla, nhưng thủ tục
đơn giản thực hiện nhanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu khẩn cấp (khắc phục
thiên tai, dịch bệnh…)
Khả năng cung cấp viện trợ và thực hiện viện trợ thất thường và nhất
thời (do phụ thuộc vào kết quả quyên góp). Ngoài mục đích nhân đạo trong
một số trường hợp viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ còn mang mầu sắc
tôn giáo, chính trị khác nhau.
d. Các tổ chức tài chính quốc tế: Các tổ chức tài chính quốc tế thường
cung cấp các khoản ODA lớn là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế
giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), tổ chức các nước xuất khẩu
dầu mỏ (OPEC), Quỹ Co-Oet…
1.1.2.2 Khối lượng ODA trên thế giới
Trong các nguồn cung cấp ODA nói ở trên, ODA từ các nước thành
viên của DAC là lớn nhất. Năm 2003, DAC cung cấp 62,711 tỷ đola chiếm
Phần Lan 644 379 0,64 0,33
Pháp 8270 6307 0,63 0,45
Đức 7583 5857 0,38 0,28
Ailen 70 187 0,16 0,31
Italia 4122 1266 0,34 0,11
Nhật Bản 11151 9358 0,3 0,22
Lúcxambua 38 95 0,26 0,55
Hà Lan 2753 2947 0,86 0,81
Niudilan 97 154 0,26 0,26
NaUy 1273 1306 1,16 0,86
Bồ Đào Nha 293 250 0,35 0,25
Tây Ban Nha 1518 1234 0,27 0,23
Thuỵ Điển 2460 1731 1,03 0,79
Thuỵ Sĩ 1139 911 0,45 0,34
Anh 3243 3433 0,31 0,26
Mỹ 11709 6878 0,2 0,09
Tổng Cộng 62711 48324 0,34 0,22
Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 351- tháng 9/2006
Trong những năm tiếp theo của năm 1997, nguồn vốn ODA tiếp tục
được mở rộng từ các tổ chức đa phương do phải trợ giúp các nước đang khó
khăn và ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính - tiền tệ Đông Nam Á. Ngân
hàng Thế giới thông báo rằng, năm 1998, WB tiếp tục mở rộng các khoản
vay tín dụng, vay ưu đãi và nhanh chóng giải ngân các khoản vay này cho
19
các nước nằm trong khu vực ảnh hưởng bất lợi của cuộc khủng hoảng, trong
đó có Lào. Đến tháng 6/1998, WB cam kết cung cấp khoản vay lên tới 28,6
tỷ đôla và số vốn giải ngân lên tới 25,5 tỷ đôla cho các nước châu Á, và cho
vay hỗ trợ phát triển cho các nước nghèo lên tới 7,5 tỷ đôla.
Trong khi đó lượng ODA lại giảm từ phía các nhà tài trợ song phượng
lớn trên thế giới. Được biết, vốn ODA của Nhật Bản đã giảm 34,8% trong
( Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 351 – tháng 9/2006)
* Phân phối ODA theo nhóm nước
20
Viện trợ từ các nước DAC tập trung rót vào các nước có thu nhập thấp
(LICs). Các nước chậm phát triển nhất (LDCs) cũng được viện trợ ngày càng
tăng kể từ những năm 70. Nhật Bản, Anh, Thuỵ Sĩ và các nước Bắc Âu tập
trung viện trợ chủ yếu cho các nước LICs, trong đó các nước Bắc Âu tập
trung vào các nước LDCs
* Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực
Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của từng nước tài trợ có khác nhau
song nhìn chung các nhà tài trợ đều quan tâm tới giáo dục, y tế, vận tải, viễn
thông, hỗ trợ chương trình…Các nhà tài trợ cũng không quên dành một phần
đáng kể trong ODA để xoá nợ.
Mặc dù có sự nhất trí về tầm quan trọng của đầu tư cho phát triển
nguồn nhân lực, ODA dành cho lĩnh vực này dù đánh giá bằng tiều chí nào
cũng còn nhiều hạn chế. Tính từ năm 1993 đến năm 1996, hàng năm, chỉ có
Na Uy và Thuỵ Điển là hai nước có tỷ lệ viện trợ dành cho giáo dục phố cập
trong tổng chi phí dành cho giáo dục lớn hơn 30%, và Hà Lan cũng đã giữ
được mức bình quân là 23%, còn DAC trong cùng thời gian này chỉ đạt bình
quân là 13%.
Bảng 1.4: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực của 10 nhà tài trợ lớn
Ngành
và lĩnh vực
Nhật Mỹ Đức Pháp
Hà
Lan
Anh Italia
Thuỵ
Điển
Canada
cấu tư bản và kỹ thuật, mà ở các nước đang phát triển nhìn chung 4 nhân tố
trên là khan hiếm, chưa thoả mãn. Hơn nữa, trong “cái vòng luẩn quẩn”, việc
kết hợp chúng càng gặp trở ngại lớn. Để có được sự phát triển, ngoài những
nỗ lực của bản thân, các nước đang phát triển cần có đầu tư và hỗ trợ của
nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, FDI và ODA là hai nguồn vốn
quan trọng nhất, các nguồn vốn còn lại nhỏ và thất thường. Mặc dù có tỷ
trọng nhỏ hơn FDI trong tổng nguồn vốn ngoài nước nhưng ODA lại có
những ưu điểm riêng. Trái với FDI là nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước
ngoài thường lựa chọn các dự án kinh doanh nhanh chóng mang lại lợi
nhuận, do tính ưu đãi, vốn ODA thường được các nước sử dụng để nâng cấp
và cải tạo cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, như đầu tư vào đường sá, cầu cống,
công trình điện, cấp thoát nước và lĩnh vực giáo dục, y tế ,văn hoá phát triển
nguồn nhân lực…Đây là những ngành nền tảng cho sự tăng trưởng vì có giải
22
quyết tồn tại về cơ sở hạ tầng thì mới có khả năng thu hút mạnh nguồn vốn
FDI cũng như có thể sử dụng hiệu quả hơn nguồn vốn này.
Vai trò của ODA đối với các nước đang phát triển
* Bổ sung cho nguồn vốn trong nước:
Đối với các nước đang phát triển, các khoản viện trợ và cho vay theo
điều kiện ODA là nguồn tài chính quan trọng giữ vai trò bổ sung vốn cho
quá trình phát triển. Chẳng hạn, trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp
hoá ở các nước NICs và ASEAN viện trợ nước ngoài đã có một tầm quan
trọng đáng kể.
Đài Loan, trong thời kỳ của quá trình công nghiệp hoá đã dung viện
trợ và nguồn vốn nước ngoài để thoả mãn gần 50% tổng khối lượng vốn đầu
tư trong nước. Sau khi nguồn tiết kiệm trong nước tăng lên, Đài Loan mới
giảm dần sự lệ thuộc vào viện trợ. Đối với Hàn Quốc, nhờ có mối quan hệ
đặc biệt với Mỹ nên có được nguồn viện trợ rất lớn, chiếm 81,2% tổng số
viện trợ của nước này trong những năm 1970-1972. Nhờ đó mà giảm được
sự căng thẳng về nhu cầu đầu tư và có điều kiện thuận lợi để thực hiện được
công nhân và cán bộ kỹ thuật của nước tiếp nhận có khả năng tiếp thu các công
nghệ mới và làm quen với các quy trình khoa học hiện đại. Điều đó sẽ góp phần
nâng cao chất lượng trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
* Giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế
Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không thể
tránh khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế
ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến. Để giải quyết vấn đề này, các quốc
gia đều phải cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với Ngân
hang Thế giới, Quỹ tiền tệ Quốc tế và các tổ chức quốc tế khác tiến hành điều
24
chỉnh cơ cấu. Chính sách này dự định việc chuyển chính sách kinh tế nhà
nước đóng vai trò trung tâm sang chính sách khuyến khích nền kinh tế phát
triển theo định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Nhưng muốn thực
hiện được việc điều chỉnh này cần phải có một lượng vốn lớn, do vậy mà các
chính phủ lại dựa vào nguồn hỗ trợ ODA. Trong giai đoạn 3 năm từ
1993-1995 Nhật đã dành một khoản viện trợ tổng cộng khoảng gần 700 triệu
USD để hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế các nước đang phát triển.
Tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và tạo điều
kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước ở các nước đang và chậm phát triển
Như chúng ta đã biết, để có thể thu hút được các nhà đầu tư trực tiếp
nước ngoài bỏ vốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó, thì tại các quốc gia đó
phải đảm bảo cho họ có một môi trường đầu tư tốt (cơ sở hạ tầng kinh tế xã
hội, hệ thống chính sách, pháp luật ổn định…), đảm bảo đầu tư có lợi với phí
tổn đầu tư thấp, hiệu quả đầu tư cao. Muốn vậy, đầu tư của nhà nước phải
được tập trung vào việc nâng cấp cải thiện và xây dựng mới cơ sở hạ tầng, hệ
thống tài chính, Ngân hàng…Nguồn vốn để nhà nước có thể giải quyết những
đầu tư này là phải dựa vào nguồn vốn ODA giúp bổ sung cho vốn đầu tư hạn
hẹp từ ngân sách của nhà nước. Môi trường đầu tư hạn hẹp một khi được cải
thiện sẽ tăng sức hút đồng vốn trực tiếp nước ngoài, thúc đẩy đầu tư trong
nước tăng dẫn đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế.