Một số Giải pháp chống lãng phí thất thoát vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản - Pdf 12

Đề án môn học: Một số giải pháp chống lãng phí thất
thoát vốn trong đầu t XDCB.
Chơng I: Những vấn đề chung về đầu t XDCB.
I. Những vấn đề chung về XDCB.
1.Khái niệm:
XDCB đó là những hoạt động có chức năng tạo ra TSCĐ cho các ngành của nền
kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng hoặc khôi phục các
TSCĐ.
TSCĐ có hai loại đó là TSCĐ có tính chất sản xuất và TSCĐ không có tính chất
sản xuất.
TSCĐ có tính chất sản xuất là những tài sản trực tiếp tạo ra lợi nhuận: Nhà xởng,
vật kiến trúc, phơng tiện thiết bị dùng cho sản xuất xây lắp.
- TSCĐ không có tính chất sản xuất: Văn phòng, quản lý hành chính, sinh hoạt y
tế, những tài sản này không trực tiếp tạo ra lợi nhuận tăng thêm.
Nguồn gốc của mọi TSCĐ của các ngành kinh tế do lĩnh vực XDCB tạo ra.
2. ý nghĩa của hoạt động XDCB đối với nền kinh tế.
Hoạt động XDCB mang một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo ra những
tiền đề cơ bản phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế đất nớc.
Cụ thể là:
- XDCB là ngành duy nhất tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật chủ yếu và cần
thiết trong nền kinh tế, hình thành công trình xây dựng, dự án xây dựng góp
phần tạo ra tài sản mới...
- Hoạt động XDCB tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho sự phát triển kinh
tế đất nớc, là tiền đề cơ bản để thực hiện CNH- HĐH đất nớc.
- Hoạt động XDCB góp phần tạo ra cơ cấu kinh hợp lý giữa các ngành, các vùng
và địa phơng trong cả nớc, đồng thời tao ra tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân khi
các dự án hoàn thành và đa vào sử dụng.
1
3. Nội dung và đặc điểm của xây dựng cơ bản.
Hoạt động xây dựng cơ bản nói chung là một phạm trù rộng bao gồm cả hoạt
động XDCB và hoạt động khác. Ví dụ nh xây dựng nhà cửa phục cho sinh hoạt

ãTiến hành xây dựng và lắp đặt: Tạo kiến trúc, kết cấu công trình theo nh trong
thiết kế . Thực hiện việc lắp đặt máy móc thiết bị vào công trình, rút ngắn thời
gian xây dựng những vẫn đẩm bảo tiến độ kỹ thuật, chất lợng công trình.
3.1.3. Mua sắm vật liệu, máy móc thiết bị nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn
đầu t xây dựng.
3.2. Đặc điểm của XDCB .
- Đặc điểm của XDCB mang đặc điểm của đầu t phát triển.
ã Tiền vốn, vật t, lao động cần thiêt cho một công cuộc đầu t thờng rất lớn .
ã Thời gian xây dựng dài, thời gian vận hành kết quả XDCB thờng kéo dài có
khi là vĩnh viễn.
ã Các thành quả của hoạt động XDCB có thể đợc tạo dựng vật chất kỹ thuật, có
thể nguồn lực ( công trình xây dựng, vật kiến trúc nh nhà máy hầm mỏ, các công
trình thuỷ lợi, đờng xá...) thì sẽ vận hành ở ngay nơi mà nó đợc tạo dựng lên.
Do tính cố định của nó nên xây lắp có tính lu động: mỗi công trình, hạng mục
công trình có một đặc thù riêng phụ thuộc vào chức năng, đặc điểm xây dựng
công trình.
XDCB có tính chất liên ngành, nó liên quan đến nhiều đối tợng, nhiều lĩnh
vực nên nó là sự kết hợp, phối hợp nhiều lực lợng tham gia.
XDCB là một quá trình sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên đất nớc vì vậy
có sự kết hợp các lực lợng để đảm điều kiện đầu t: môi trờng, KT-XH.
Từ những đặc điểm đó nên sản phẩm của XDCB:
Hoạt động của XDCB tạo ra sản phẩm có tính đơn chiếc, cá biệt: mỗi công trình
xây dựng đều có nét đặc thù riêng khác với quá trình sản xuất liên tục hoặc gián
đoạn thì kết quả của XDCB không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt mà có
tính khác biệt cao, sản phẩm mà do XDCB đem lại là duy nhất. Các yếu tố đầu
vào phục vụ cho sản xuất sản phẩm sản xuất sản phẩm không cố định và thờng
xuyên phải di chuyển vì vậy tính ổn định trong sản xuất rất khó bảo đảm điều
3
này phụ thuộc nhiều vào khâu quản lý sản xuất của nhà thầu trong quá trình thi
công công trình.

đấy.
Suy cho cùng các khoản thất thoát trên đều tập trung vào vốn đầu t. Bởi vì, vốn
phải bỏ ra để mua sắm máy móc, thiết bị để mua NVL, để trả lơng cho công
nhân....
Nguyên nhân của hiện tợng thất thoát vốn trong XDCB có nhiều, có nguyên
nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan , về tự nhiên, kinh tế và xã hội...nhng
có thể tập hợp thành các nhóm nguyên nhân sau đây:
ã Các nguyên nhân thuộc về cơ chính sách nhà nớc, cơ chế quản lý XDCB, mà
vấn đề hàng đầu là quản lý cấp phát vốn đầu t.
ãHệ thống tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, định mức tiêu hao vật chất, dơn giá xây
dựng, đấu thầu cha phù hợp với cơ chế thị trờng ở nớc ta hiện nay.
ã Chủ trơng đầu t, thanh kiểm tra, tham nhũng, năng lực, trình độ tay nghề công
nhân trong toàn bộ hệ thống từ cơ quan cấp phát vốn, quản lý vốn đến sử dụng
vốn.
Từ những vấn đề bức xúc gây lãng phí, thất thoát lớn trong XDCB nh vậy nên
em đã chọn đề tài để nghiên cứu. Tuy nhiên trong bài viết này thì em chỉ đi vào
nghiên cứu một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí vốn đầu t XDCB .
II. Vốn và cơ cấu vốn ĐTXDCB.
1. Phân loại vốn đầu t XDCB.
Vốn đầu t XDCB là toàn bộ các chi phí để đạt đợc mục đích đầu t, bao gồm chi
phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu t, chi phí thiết kế xây
dựng, chi phí mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác đợc ghi
trong tổng quyết toán.
I.1 . Theo yếu tố cấu thành.
Theo yếu tố cấu thành ta chia vốn đầu t XDCB thành: Vốn xây lắp, vốn mua sắm
máy móc thiết bị, vốn kiến thiết cơ bản khác.
5
- Vốn xây lắp: chi phí cho việc chuẩn bị mựt bằng xây dựng, chi phí cho xây
dựng công trình, hạng mục công trình.Chi phí cho việc lắp đặt hoàn thiện công
trình.

Vốn ngân sách nhà nớc: ngân sách TW, ngân sách địa phơng dùng để đầu t
XDCB, Dự án đầu t phát triển xã hội. Những dự án đó không có khả năng trực
tiếp thu hồi vốn. Vốn ngân sách đợc cấp theo kế hoạch nhà nớc đặt ra hàng năm
chi 24%- 26%.
Trong số các nguồn vốn đầu t XDCB của khu vực nhà nớc thì vốn thuộc ngân
sách chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, trong những năm qua tỷ trọng của nó
giảm liên tục mặc dù nếu xét về quy mô thì vốn đầu t vẫn tăng liên tục. Lợng
vốn đầu t XDCB từ ngân sách nhà nớc năm 1995 là 8925 tỷ đồng và đến năm
1999 lợng này lên dến13546 tỷ đồng. Về tỷ trọng thì năm 1995 chiếm tỷ trọng là
55,8%, đến năm 1999 là 33.5%. Điều này cho thấy quyết tâm chuyển đổi cơ cấu
vốn đầu t xây dựng cơ bản trong những năm gần đây của nhà nớc là rất đợc chú
trọng, tổng vốn ngân sách giảm nhờng chổ cho vốn tín dụng Nhà nớc, vốn của
các doanh nghiệp Nhà nớc.
Trong ngồn vốn đầu t XDCB từ ngân sách Nhà nớc thì có sự đóng góp rất đáng
kể của vốn ODA. Trong những năm qua vốn ODA cho đầu t XDCB tăng lên rất
nhanh từ 1720 tỷ đồng năm 1995 đến năm 1999 đã tăng lên 4620 tỷ đồng, năm
2001 là 6420 tỷ đồng và dự kiến năm 2002 tăng 10%. Tiến độ giải ngân vốn
ODA diển ra nhanh hơn. Năm 2001, Việt Nam đã giải ngân đợc 1.711 tỷ USD
vốn ODA, đa tổng vốn ODA đã giải ngân cho đế nay đạt 9,72 tỷ USD. Mục tiêu
2002 nớc ta phải tăng giải ngân vốn ODA lên khoảng 1,9 tỷ USD. Sự tăng vốn
ODA trong XDCB chứng tỏ Nhà nớc đã quan tâm hơn đén nguồn này và cũng
chứng tỏ đợc rằng các dự án đầu t XDCB sử dụng vốn ODA đợc thực hiện ngày
càng có hiệu quả.
Theo Bộ KH-ĐT, trong tháng 1/2002 vốn đầu t XDCB tập trung thuộc ngồn vốn
ngân sách Nhà nớc đợc thực hiện tơng đối khá, với khỏng 2250 tỷ đồng, bằng
10,4% kế hoạch năm 2002 và tăng 82,2% so với cùng kỳ năm 2001. Tính đến
nay, chỉ tiêu kế hoạch và dự toán ngân sách Nhà nớc năm 2002 đã giao xong tới
các Bộ, ngành, tổng công ty 91 và các địa phơng. Theo nh dự báo của các nhà
7
hoạch định chính sách vĩ mô thì để duy trì tốc độ tăng trởng kinh tế bình quân

1.3.4. Nguồn vốn từ dân c.
Trong những năm trớc đây khi mà đất nớc còn duy trì nền kinh tế kế hoạch
tập trung thì nguồn vốn đầu t của t nhân và dân c bị lãng quên nhng kể từ khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng thì Nhà nớc đã quan tâm khai thác nguồn vốn
có tiềm năng rất lớn từ trong dân, trong các nguồn vốn của toàn xã hội đầu t
XDCB thì vốn của dân c, t nhân chiếm khoảng 30%. Năm 1995 nguồn vốn của
khu vực dân c là 11700 tỷ đồng đến năm 1999 là 19483. Tuy vậy, tỷ trọng vốn
đầu t của dân c trên toàn bộ các nguồn vốn đầu t XDCB năm 1999 là 25,2%,
giảm so với năm 1995. Điều này cho thấy lĩnh vực đầu t XDCB cha thực sự hấp
dẫn để có thể thu hút đợc lợng vốn nhàn rỗi tiềm năng trong dân c. Đây là một
trong những vấn đề mà Nhà nớc cần có biện pháp sớm giải quyết để tận dụng
nguồn vốn về vốn đầu t ở trong nớc để thúc đẩy phát triển kinh tế đất nớc.
1.3.5.Vốn FDI .
Vốn FDI đóng một vai trò quan trọng đối với tăng trởng và phát triển kinh tế nớc
ta. Những năm qua Đảng và Nhà nớc ta đã có nhiều chủ trơng chính sách nhằm
huy động tối đa nguồn vốn FDI vào lĩnh vực XDCB. Vốn FDI liên tục tăng từ
1995-1997.
Năm 1995 lợng vốn FDI là 15820 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 36,3% vốn đầu t
XDCB. Đến năm 1997 lợng vốn FDI là 20185 tỷ đòng chiếm tỷ trọng 30,7% vốn
đầu t XDCB. Tuy nhiên mức độ tăng không lớn, bình quân hàng năm khoảng
13%. Đến năm 1998 do khủng hỏng kinh tế tài chính trong khu vực đã khiến các
nhà đầu t nớc ngoài giảm lợng đầu t vào việt nam và trong 1998 thì lợng vốn FDI
chỉ còn 16486 tỷ đồng giảm khoảng 19% so với năm 1997. Tuy nhiên đến năm
1999 thì do cuộc khủng hoảng trong khu vực đã qua, nhiều nền kinh tế trong đó
có Việt Nam đã có đấu hiệu phục hồi, ngoài ra còn do hàng loạt chính sách mở
rộng nhằm thu hút đầu t nớc ngoài thì lợng FDI đã tăng lên và đạt mức 17396 tỷ
đồng. Tuy vậy, tỷ trọng vốn FDI trong toàn bộ các nguồn vốn đầu t XDCB liên
tục giảm dần từ 1995(36,3%) dến năm 1999( 22,5%) điều này chứng tỏ chính
sách khuyến khích đầu t nớc ngoài của ta vẫn còn những hạn chế nên vẫn cha
thu hút đợc nhiều vốn đầu t nớc ngoài.

1986 1991-1995 1996-2000
1. Khu vực SXvật
chất. Trong đó:
.Nông lâm và thuỷ
sản.
Công nghiệp và xây
dựng.
2. Khu vực dịch vụ cơ
bản:
. Giáo dục- đào tạo.
. Khoa học công
nghệ.
. Y tế cứu trợ xã
hội.
. Văn hoá thể thao.
. Phục vụ cá nhân
cộng đồng.
13,4
25,7
2
0,5
1,3
1
41,4
8,7
38,7
1,7
0,2
0,8
1,1

Năm 1995 vốn đầu t XDCB dành cho GTVT là 5930 tỷ đồng và đến năm 1999 là
10816 tỷ đồng, tuy nhiên về tỷ trọng vốn đầu t cho ngành GTVT trong tổng vốn đầu
t cho XDCB có lúc tăng lúc giảm (từ 1995-1999) nhng xét về tổng thể thì năm 1999
cao hơn năm 1995. Bên cạnh việc tập trung cao độ cho các ngành có tính chất mũi
nhọn Nhà nớc cũng có sự quan tâm đến các ngành khác một cách thích đáng để đảm
bảo sự cân đối của cơ cấu đầu t tránh sai lầm mà ta có thời kỳ mắc phải trong việc tập
trung vào công nghiệp nặng. Vì vậy, mà các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ
sản, GD-YT, VH-TT cũng đợc nhà nớc quan tâm đầu t. Trong những năm trở lại đây
nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật đợc áp dụng vào nông nghiệp, gắn sản xuất nông
nghiệp với chế biến. Nhà nớc đã đầu t các công trình thuỷ lợi, đê diều phục vụ sản
xuất phòng chống thiên tai. Đối với ngành thuỷ sản từ 1997 nhà nớc ta đã có chơng
cho vay tín dụng u đãi để đánh bắt thuỷ sản xa bờ với lợng vốn tín dụng mỗi năm là
hàng nghìn tỉ đồng đầu t cho đóng mới tàu có trọng tải lớn đủ sức vơn ra khơi xa. Mặt
khác, những năm qua nhà nớc cũng đã đầu t cho nhiêu lĩnh vực chế biến thuộc ngành
nông lâm thuỷ sản nhằm nâng cao giá trị sản phẩm của các ngành này.
Và với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trên thế giới, Nhà nớc đã chú
trọng đầu t cho lĩnh vực công nghệ thông tin tránh sự tụt hậu quá xa so với các nớc
phát triển, từng bớc đa nớc ta tiến kịp thời đại nền kinh tế trí thức. Từ năm 1995 lợng
vốn đầu t cho lĩnh vực này là 2100 tỷ đồng. Đến năm 1999 là 4569 tỷ đồng tăng bình
12
quân hàng năm khoảng 23%. Cùng với sự phát triển kinh tế trong những năm gần đây
thì nhà nớc cũng bắt đầu có sự quan tâm đúng mức hơn đến đời sống tinh thần của
nhân dân. Điều này thể hiện sự gia tăng về quy mô cũng nh tốc độ của vốn đầu t cho
ngành GD-YT TT. Cụ thể vốn dầu t XDCB cho ngành này từ 1898 tỷ đồng năm
1995 lên 3540 tỷ đồng năm 1999.
Tóm lại, việc nghiên cứu cơ cấu đầu t XDCB của nhà nớc ta trong những năm qua
cho thấy nhà nớc đã không ngừng tăng quy mô vốn đầu t để đảm bảo nhu cầu phát
triển kinh tế đất nớc đồng thời qua đó ta thấy đợc sự chuyển đổi về cơ cấu đầu t
XDCB của nhà nớc trong thời kỳ này nhằm đảm bảo mục tiêu công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nớc. Tuy nhiên, lợng vốn ngày một tăng nhng liệu tất cả vốn có đến chân

án không khả thi càng gây lãng phí gấp bội lần.
- Bên cạnh đó khi nhu cầu về xi măng lớn, Chính phủ có chủ trơng đầu t phát
triển xi măng lò đứng. Vì thế, mọt loại xi măng lò đứng với công suất từ 3-10
14
vạn tấn /Năm, thiết bị Trung Quốc ở các địa phơng ra đời ( xi măng Thanh Ba
vĩnh phú, xi măng Hà Bắc, xi măng Bắc Thái, xi măng Sơn La, Xi măng Hoành
Mai...).
Năm 1998 ,cả nớc sản xuất 10,121 triệu tấn xi măng. Tăng 12.6% so với 1997,
nhập khẩu 70000 tấn trong khi tổng lợng tiêu thụ là 9.79 triệu tấn. Nh vậy, cuối
năm 1998, tổng số xi măng tồn kho( kể cả nhập lậu) là trên 500000 nghìn tấn.
Và tình trạng này còn kéo dài sang năm 1999. Tồn kho của tổng công ty xi
măng Việt Nam là 1325000 tấn. Trong tình trạng nh vậy, giá xi măng của ta cao
hơn các nớc Đông Nam á 8-10 usd/ tấn. Điều này là do trình độ kỹ thuật của ta
lạc hậu, trình độ quản lý kém( giá độc quyền do tổng công ty xi măng quyết
định). Nhng theo dự toán thì ta sẽ thiếu xi măng: Năm thiếu ít nhất 0.52 triệu
tấn, nhiều nhất 1.47 triệu tấn. Do khả năng sản xuất hiện nay đạt 14,6 triệu tấn
và dự kiến 2005: 23,33 triệu tấn trong khi nhu cầu là 23,85 triệu tấn (2005).
Một lĩnh vực gây lãng phí lớn nữa thể hiện ở ngành công nghiệp mía đờng. Để
đảm bảo mục têu 1triệu tấn đờng, một loạt các nhà máy đờng thiêt bị Trung
Quốc đợc đầu t xây dựng. Theo ơc tính đã có tới hơn 4300 tỉ đồng đầu t vào ch-
ơng trình mía đờng.Tuy nhiên hoạt đọng của các nhà máy này không hiệu
quả.Theo đánh giá thì các nhà máy đờng phải chay trên 70% công suất thì mới
có lãi nhng vụ ép 1997-1998 cả nớc có 35 nhà máy thì chỉ có 16 nhà máy hoạt
động trên 70% công suất, 19 nhà máy hoạt động dới 50% công suất. Vụ ép
1998-1999 có 42 nhà máy cũng không khá gì hơn. Các nhà máy đờng phía Bắc
hoạt động dới 50% công suất.
Thậm chí nhà máy đờng Linh Cảm có công suất 1000 tấn/ ngày thì cả vụ ép đợc
5100 tấn ,hoạt động một tuần thì hết nguyên liệu.
Theo một quan chức ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thì cuối
năm 1997, đầu năm 1998 một số nhà máy đến hạn trả nợ nứơc ngoài. Để đảm

trình này, việc náy đã làm ảnh hởng không nhỏ đến công tác tạm ứng, thanh toán
vốn cho dự án.
- Hàng năm việc phân phối vốn thờng mang tính chất chia phần dẫn đến bố trí
kế hoạch phân tán, không theo tiến độ thực hiện dự án đợc phê duyệt. Nh Nhà n-
ớc thực hiện tín dụng u đãi Nhà nớc đã đầu t hơn 100 ngàn tỷ đồng vốn cho các
16
lĩnh vực khác nhau, các ngành nghề khác nhau nhằm thực hiện công cuộc CNH-
HĐH đất nớc. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách tín dụng u đãi của Nhà nớc
trong thời gian qua cũng bộc lộ những hạn chế, và những vấn đề đáng quan tâm
nhất là chính sách hổ trự của Nhà nớc qua tín dụng u đãi và các công trình mục
tiêu khác còn trong tình trạng dàn trải. Việc điều hoà vốn không tổ chức nào lo
chung, chất lợng tín dụng hạn chế.
II Tình trạng đấu thầu trong XDCB .
Đấu thầu là một khâu trong hoạt động XDCB. Mục đích của đấu thầu là tạo một
sân chơi có tính cạnh tranh cao, công bằng, minh bạch giúp chủ đầu t lựa chọn
nhà thầu có đủ khả năng để thực hện gói thầu với những yêu cầu chất lợng, giá
cả và tiến độ . Xong hiện nay, tình trạng vi phạm quy chế đấu thầu đang là vấn
đề bức xúc. Điều này tạo ra sự lãng phí vốn trong hoạt động đầu t.
Nhiều gói thầu liên minh bóng tối của công tác này tìm mọi cách thao túng và
gây nên những thiệt hại đáng kể cho nguồn ngân sách còn eo hẹp của nớc ta.
Bằng cách khi có thông báo mời thầu các nhà thầu tham dự thầu và có máu mặt
đã bắt đầu liên lạc liên kết với nhau để cam kết một mức giá tối thiểu và tối đa
khi tham dự thâù của gói thầu đó rồi sau đó các nhà thầu mới nộp hồ sơ dự thầu
theo ba rem đã ngầm cam kết kia. Điều này làm làm vô hiệu hoá tính cạnh
tranh của đấu thầu và tạo ra mớc giá trúng thầu nằm ngoài mong muốn của bên
mời thầu. Thậm chí có những gói thầu giá trúng thầu còn lớn hơn cả giá ớc tính
buộc bên nhà thầu phải chuyển sang hình thức chỉ định thàu. Hoặc có trờng hợp
chủ đầu t thông đồng với một nhà thầu nào đó để tiết lộ giá chuẩn, đa ra một vài
tiêu chuẩn riêng biệt có lợi cho nhà thầu đó để tính vào điểm chọn thầu. Và đấu
thầu mặc dù bề ngoài vẫn đợc tổ chức theo đúng quy định nhng cuối cùng thì thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status