Nghiên cứu sử dụng phần mềm EXE để biên soạn và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn của E - learning - Pdf 12

Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
1
A. PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chúng ta đã bƣớc sang thế kỷ mới, thế kỷ đang và nhất định sẽ có rất nhiều
những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Ngoài ra, sự phát triển
mạnh mẽ của khoa học - công nghệ và bùng nổ thông tin đã làm tác động lên tất
cả các lĩnh vực trong cuộc sống của xã hội, xu thế chung trên thế giới là toàn cầu
hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong giáo dục và đào tạo đã hình thành và bƣớc
đầu phát triển mạnh mẽ các khuynh hƣớng mới nhƣ đa dạng hoá các loại hình giáo
dục, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy-học, diễn đàn khoa học trên mạng
Internet . . . Đảng ta cũng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhằm mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bƣớc đi
lên chủ nghĩa xã hội và xác định rõ muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá
thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục-đào tạo, phát huy nguồn lực con ngƣời,
yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững.
Trƣớc tác động của công nghệ thông tin đối với giáo dục trên thế giới thì
trong Nghị quyết TW2 khóa VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương
tiện vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu
cho học sinh…”.
Chỉ thị 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trƣởng BGD&ĐT đã nêu rõ: “Đối với
giáo dục và đào tạo Công Nghệ Thông Tin có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi nội
dung, phương pháp, phương thức dạy và học. Công Nghệ Thông Tin là phương tiện để
tiến tới một xã hội học tập. . . ”
Qúa trình gần 10 năm đổi mới và ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
đã mang lại rất nhiều hiệu quả trong quá trình dạy và học, đã phát huy đƣợc tính tích
cực, chủ động sáng tạo và quan trọng hơn là đã giúp ngƣời học lĩnh hội tri thức một

việc thực hiện chƣơng trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dƣỡng.
Tuy nhiên việc tìm hiểu về E-learning và biên soạn những bài giảng e-learning
cho các môn học ở trƣờng phổ thông ở Việt Nam không nhiều. Do đó vấn đề đặt ra là
làm sao có thể ứng dụng E-learning vào quá trình dạy và học một cách rộng rãi, đặc
biệt là tạo ra các bài giảng điện tử theo chuẩn của Elearning sinh động, hấp dẫn mang
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
3
tính tƣơng tác cao giữa ngƣời dạy và ngƣòi học, mở ra cơ hội cho mọi ngƣời tiếp cận
với tri thức một cách dễ dàng và thuận tiện hơn.
Trƣớc những tình hình đó cùng với mục tiêu chiến lƣợc của giáo dục trong giai
đoạn hiện nay là đổi mới phƣơng pháp, cách thức dạy học kết hợp với các phƣơng tiện
dạy học với phƣơng châm học mọi lúc mọi nơi và bất cứ lúc nào để làm sao phát huy
tối đa tính tự giác, tích cực, chủ động và tạo cơ hội tốt cho học sinh giao lƣu học hỏi,
phát biểu ý kiến, phát triển sức sáng tạo, mở rộng quan hệ để có thể tiếp thu và lĩnh hội
kho tàng kiến thức vô giá của nhân loại.
Thêm vào đó đặc thù của môn tin học là môn học mà rất cần có những bài giảng
có tích hợp đa phƣơng tiện để giúp các em học sinh hứng thú, say mê, tự giác học tập.
Chính vì vậy em đã chọn đề tài “Nghiên cứu sử dụng phần mềm EXE để biên
soạn và đóng gói một số bài giảng Tin học 10 theo chuẩn của E-learning” làm đề
tài nghiên cứu của mình.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
E-learning là hệ thống học tập điện tử, bài giảng theo chuẩn e-Learning có
chuẩn công nghệ SCORM, AICC đƣợc thế giới công nhận, nên có thể chia sẻ bài
giảng giữa các nƣớc với nhau, có nhiều công cụ xây dựng bài giảng hợp chuẩn,
đáp ứng nhu cầu học tập mọi nơi, mọi lúc một cách mềm dẻo, có thể học trực
tuyến qua Internet, cũng có thể học ngoại tuyến qua đĩa CD. Trong những năm
gần đây việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã đƣợc nhiều đơn vị quan tâm
hơn, các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập
nhiều đến vấn đề E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trƣờng đào tạo ở Việt

học sinh, nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học.
IV. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
 Lý luận dạy học, phƣơng pháp dạy học Tin học, đổi mới phƣơng
pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong dạy học.
 Sách giáo khoa, sách bài tập, sách GV tin học 10.
 Phần mềm soạn bài giảng EXE.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
 Tìm hiểu các phƣơng pháp giáo dục hiện đại.
 Nghiên cứu và tìm hiểu về E-learning, so sánh E-learning với các
phƣơng pháp dạy học truyền thống, và tìm hiểu công cụ soạn bài giảng của
một trong các hệ thống của E-learning.
 Tìm hiểu về chuẩn của Elearning.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
5
 Nghiên cứu và tìm hiểu về phần mềm EXE.
 Sử dụng phần mềm EXE là công cụ để biên soạn và đóng gói bài
giảng. E-learning vào một số bài trong sách giáo khoa Tin học 10.
VI. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
 Phƣơng pháp nghiên cứu lý thuyết.
 Nghiên cứu tài liệu về phƣơng pháp dạy học hiện đại và cách thức
soạn bài giảng điện tử.
 Nghiên cứu và tìm hiểu các khoá học E-learing và đặc biệt là các
bài giảng đƣợc soạn theo E-learning.
 Xây dựng bài giảng bằng phần mềm EXE.
 Bám sát nội dung chƣơng trình sách giáo khoa Tin học 10.
VII. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
 Gồm 5 phần:
1. Phần mở đầu.
2. Phần nội dung.

Công nghệ thông tin đã mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phƣơng
pháp và hình thức dạy học. Ngoài ra, sự ra đời kịp thời của World Wide Web WWW
cung cấp cơ sở hạ tầng chung đƣợc xây dựng trên các chuẩn phổ dụng giúp cho mọi
ngƣời khả năng truy cập bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào tới thông tin và tri thức trên
toàn cầu. Những phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tiếp cận kiến tạo, phƣơng pháp dạy
học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng
dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học nhƣ dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá
nhân cũng có những đổi mới trong môi trƣờng công nghệ thông tin và truyền thông.
Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức
lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình.
Tóm lại, công nghệ thông tin đã góp phần to lớn vào quá trình đổi mới phƣơng
pháp dạy học, cung cấp nhiều phƣơng tiện và hình thức dạy học phong phú, nhằm mục
đích cung cấp tri thức cho ngƣời học, đặc biệt hơn là phát huy khả năng tự học, tự
nghiên cứu, chiếm lĩnh tri thức. Tạo điều kiện cho ngƣời học có thể học mọi lúc, mọi
nơi dần tiến tới một xã hội học tập góp phần vào sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất
nƣớc.
1.2 Ƣu điểm của phƣơng pháp dạy học bằng công nghệ thông tin so với phƣơng
pháp dạy học truyền thống.[12]
Môi trƣờng đa phƣơng tiện kết hợp những hình ảnh video, camera… với âm
thanh, văn bản, biểu đồ… đƣợc trình bày qua máy tính theo kịch bản vạch sẵn nhằm
đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
- Kỹ thuật đồ họa nâng cao có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tƣợng trong
tự nhiên, xã hội trong con ngƣời mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều
kiện nhà trƣờng.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
8
- Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con ngƣời, thực hiện những công
việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác nhau.
- Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng đƣợc kết nối với nhau và những

tiết kiệm đƣợc nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phƣơng pháp truyền thống, chỉ
cần “bấm chuột”, vài giây sau trên màn hình hiện ra nội dung của bài giảng với những
âm thanh hình ảnh sống động thu hút đƣợc sự chú ý và tạo hứng thú nơi học sinh.
Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cũng có nhiều thời gian đặt các câu hỏi gợi mở
tạo điều kiện cho học sinh hoạt động nhiều hơn trong giờ học. Những khả năng mới
mẻ và ƣu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay
đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tƣ duy và quan trọng hơn là cách ra
quyết định của con ngƣời.
Do đó mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
là nâng cao một bƣớc cơ bản chất lƣợng học tập cho học sinh, tạo ra môi trƣờng giáo
dục mang tính tƣơng tác cao chứ không đơn thuần là „thầy đọc, trò chép” nhƣ kiểu
truyền thống, học sinh đƣợc khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri
thức, sắp xếp hợp lý quá trình học tập, tự rèn luyện của bản thân.
1.4 Vai trò của máy vi tính với multimedia trong sự phát triển của giáo dục hiện
nay
1.4.1 Multimedia.[11]
Multimedia đƣợc hiểu là đa phƣơng tiện, đa môi trƣờng, đa truyền thông, một
phƣơng pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều dạng truyền thông tin
nhƣ văn bản, đồ hoạ và âm thanh. . . cùng với sự gây ấn tƣợng bằng tƣơng tác.
Sự phổ cập của máy vi tính và do yêu cầu khách quan của xã hội mà máy vi tính cần có
hệ thống đa phƣơng tiện- Multimedia. Chính vì thế mà máy vi tính với hệ thống đa phƣơng
tiện ra đời.
1.4.2 Chức năng hỗ trợ dạy học của máy vi tính. [11]
Hơn bất cứ một phƣơng tiện dạy học nào khác, khả năng trình diễn thông tin nhƣ
việc dùng máy tính chiếu tƣờng (Projector) hay màn hình phẳng kích thƣớc lớn, máy
ảnh, máy quay phim kỹ thuật số. . . , máy vi tính với Multimedia đã có thể đƣa vào lớp
học không chỉ những dòng văn bản với các kiểu dáng, kích thƣớc màu sắc khác nhau
mà cả những hình ảnh tĩnh, động, phim học tập cùng với âm thanh rất sinh động.
Những hiệu quả đáng chú ý mà Multimedia sẽ mang lại cho quá trình dạy học đƣợc
khái quát nhƣ sau:

vi tính - với tƣ cách là công cụ trong dạy học. Sự ra đời của máy vi tính với
Multimedia cùng với mạng náy tính toàn cầu WWW không những đánh dấu một sự
tiến bộ vƣợc bậc của khoa học kỹ thuật mà đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc về
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
11
phƣơng pháp dạy học, về phƣơng thức đào tạo, tổ chức và quản lý giáo dục, thậm chí
có thể làm thay đổi cả mục tiêu giáo dục. Những sự thay đổi đó là cơ sở cho việc hình
thành những đặc điểm của một “nền giáo dục điện tử”, “một xã hội học tập” trong thời
đại thông tin. Đó là một nền giáo dục đƣợc dựa trên nền tảng áp dụng công nghệ thông
tin và truyền thông ở mức độ cao cả về phƣơng diện tổ chức các phƣơng tiện vật chất
cho quá trình dạy học lẫn việc bố trí các nội dung kiến thức cần thiết phải tiếp thu
trong quá trình học tập.
Các khái niệm về “lớp học” giờ đây không còn là một không gian điạ lý cụ
thể, cố định nữa, cũng không phải là nơi bắt buộc phải đến khi học sinh muốn học,
bục giảng bây giờ không còn là nơi làm việc duy nhất của giáo viên, mà bây giờ
một “lớp học ảo”, ngƣời ta đã có thể dạy và học ở bất kỳ đâu. Ngƣời học có thể
đăng ký học qua mạng.
Giáo viên trong nền giáo dục điện tử, sự liên kết vô hạn giữa các thành phần kiến
thức khác nhau (trên mạng Internet) đã làm cho học sinh trong mỗi thời điểm học tập
có thể dễ dàng và nhanh chóng chuyển từ việc nghiên cứu kiến thức của lĩnh vực này
sang nghiên cứu kiến thức của lĩnh vực khác. Sự liên kết mạnh nhƣ thế giữa các phân
môn cũng đòi hỏi ngƣời giáo viên phải có một kiến thức bao quát rộng hơn so với
trƣớc, phải theo dõi đƣợc tất cả các liên kết có ích cũng nhƣ các liên kết làm lệch trọng
tâm kiến thức. Mối quan hệ thầy trò trong nền giáo dục điện tử đã có sự thay đổi một
cách cơ bản. Đó là quan hệ nhiều thầy với một trò. Các phƣơng tiện công nghệ thông
tin dùng trong dạy học giúp cho ngƣời dạy có thể nắm bắt tình trạng học tập của từng
cá thể học sinh nhƣng nó cũng làm cho mối quan hệ ngƣời dạy- ngƣời học thay đổi.
Mặc dù vai trò của giáo viên vẫn luôn là cần thiết trong một nền giáo dục nhƣ thế,
nhƣng ngƣời ta vẫn có thể học mà không cần một giáo viên cụ thể - “giáo viên ảo”.

nƣớc, đây vừa là môi trƣờng thông tin, vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tƣơng
tác mạnh. Nhiều những công trình nghiên cứu khoa học giáo dục, những thƣ viện tranh
ảnh, video clip, những thí nghiệm mô phỏng, những vấn đề về nội dung, phƣơng pháp
dạy học. . . đã đƣợc đƣa lên Website giáo dục của nhiều quốc gia phát triển sẽ trở
thành cơ sở hiện thực hóa việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
giáo của các nƣớc chậm và đang phát triển. Việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
thông tin ở nƣớc ta hiện nay mà đặc biệt là sử dụng máy vi tính với hệ thống
Multimedia, mạng Internet, Website. . . cũng chính là xác định con đƣờng để đi đến sự
hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa nhiều lĩnh vực hiện nay.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
13
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện đang là vấn đề cốt lõi để nâng cao chất lƣơng
dạy học. Đó là một trong những mục tiêu quan trọng nhất trong cải cách giáo dục ở
nƣớc ta hiện nay. Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm
đổi mới nội dung phƣơng pháp dạy học là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất
nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính và năng lực của đội ngũ giáo viên. Do đó,
để đẩy mạnh việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong thời gian tới có
hiệu quả, không có gì khác hơn là nhà nƣớc tăng dần mức đầu tƣ để không ngừng nâng
cao, hoàn thiện, hiện đại hóa thiết bị, công nghệ dạy học, đồng thời hoàn thiện hạ tầng
công nghệ thông tin và truyền thông để mọi trƣờng học đều có thể kết nối vào mạng
Internet. Bên cạnh đó, có sự chỉ đạo đầy đủ, đồng bộ thống nhất bằng các văn bản
mang tính pháp quy để các trƣờng có cơ sở huy động nguồn vốn đầu tƣ cho hoạt động
này, góp phần làm thay đổi nội dung, phƣơng pháp hình thức dạy học và quản lý dạy
học, tao nên đƣợc sự kết hợp giữa nhà trƣờng, gia đình, xã hội qua mạng làm cơ sở để
tiến tới một xã hội học tập.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên

Thứ nhất, nó dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông hay công nghệ mạng,
kĩ thuật đồ họa, kỹ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
15
Thứ hai, hiệu quả của E-Learning cao hơn so với cách học truyền thống do E-Learning
có tính tƣơng tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho ngƣời học trao đổi thông tin dễ
dàng hơn cũng nhƣ đƣa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng, sở thích.
Thứ ba, E-Learning đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức. Hiện
nay, E-Learning đang thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của các nƣớc trên thế giới; có
rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời.
2.1.3 Chuẩn của E-learning. [15]
Theo ISO- chuẩn là “Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kĩ thuật hoặc
các tiêu chí chính xác khác đƣợc sử dụng một cách thống nhất nhƣ các luật, các chỉ
dẫn, hoặc các định nghĩa của các đặc trƣng, để đảm bảo rằng các vật liệu, sản phẩm,
quá trình và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng”.
Mỗi hệ thống khác nhau có cách trao đổi thông tin khác nhau trên mạng. Nhờ có
các chuẩn mà chúng ta có thể trao đổi thông tin trên mạng một cách nhanh chóng.
Chuẩn Internet bao gồm các chuẩn đƣợc IEEE công nhận: HTTP, HTML, FTP,
TCP/IP, SMTP…
Trong hệ thống E-Learning cũng có các chuẩn và trong lĩnh vực này chuẩn rất
quan trọng. Bởi vì nếu không có chuẩn chúng ta không thể trao đổi thông tin với nhau
hay sử dụng lại các đối tƣợng. Nhờ có chuẩn toàn bộ thị trƣờng E-Learning (ngƣời bán
công cụ, khách hàng, ngƣời phát triển nội dung) sẽ tìm đƣợc tiếng nói chung, hợp tác
với nhau đƣợc cả về mặt kĩ thuật và mặt phƣơng pháp.
Các chuẩn hỗ trợ tính linh hoạt trong hệ thống học tập.
Ngƣời sản xuất tạo ra các module đơn lẻ (hoặc đối tƣợng học) rồi tích hợp thành một
khoá học thống nhất.
 Các chuẩn cho phép ghép các khoá học tạo bởi các công cụ, các nhà sản xuất
khác nhau thành các gói nội dung (packages) đƣợc gọi là các chuẩn đóng gói

bài có thể tìm thấy modul họ cần. Metadata giúp nội dung E-Learning hữu ích hơn đối
với ngƣời bán, ngƣời mua, học viên và ngƣời thiết kế. Metadata cung cấp một cách
chuẩn mực để mô tả các khóa học, các bài, các chủ đề và media. Những mô tả đó sẽ
đƣợc dịch ra thành các catalog hỗ trợ cho việc tìm kiếm đƣợc nhanh chóng và dễ dàng.
Với metadata bạn có thể thực hiện các tìm kiếm phức tạp. Metadata có thể giúp ngƣời
soạn bài tìm nội dung họ cần và sử dụng ngay hơn là phải phát triển từ đầu. Các thành
phần cơ bản của metadata (trong chuẩn IEEE 1484. 12):
 Title: tên chính thức của khoá học.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
17
 Language: Xác định ngôn ngữ đƣợc sử dụng trong khoá học
 Description: mô tả về khoá học
 Keyword: bao gồm từ khoá hỗ trợ cho việc tìm kiếm
 Structure: mô tả cấu trúc bên trong của khoá học tuần tự, phân cấp và
nhiều hơn nữa. Aggregation Level xác định kích thƣớc của đơn vị
 Version: xác định phiên bản của khoá học.
 Format: quy định các định dạng file đƣợc dung trong khoá học.
 Size: Kích thƣớc tổng của toàn bộ các file có trong khoá học.
 Location: ghi địa chỉ website mà học viên có thể truy cập khoá học.
 Requirement: liệt kê các thứ nhƣ trình duyệt và hệ điều hành cần thiết để
có thể chạy đƣợc khoá học.
 Duration: quy định cần bao nhiêu thời gian để tham gia khoá học.
 Cost: học phí của khoá học.
 Các chuẩn nói đến chất lƣợng của các modul và các khoá học đƣợc gọi là
chuẩn chất lượng (quality standards), chuẩn này kiểm soát toàn bộ quá trình thiết kế
khoá học cũng nhƣ khả năng hỗ trợ của khoá học với những ngƣời tàn tật. Các chuẩn
này đảm bảo nội dung của chƣơng trình có thể dùng đƣợc, học viên dễ dàng đọc và
hiểu nội dung đó.
 Chuẩn thiết kế E-Learning: chính là chuẩn E-Learning Courseware

text, hình ảnh minh học, âm thanh, video,…, tăng tính hấp dẫn cho bài học. Học sinh
giờ đây không chỉ nghe giảng mà còn xem ví dụ minh họa trực quan, thậm chí còn có
thể tƣơng tác với bài học nên khả nawmg nắm kiến thức tăng lên.
 Tính cập nhật: Nội dung khóa học thƣờng xuyên đƣợc cập nhật và thay đổi
mới trên máy chủ có chứa chƣơng trình đào tạo nhằm đáp ứng và phù hợp nhất với học
sinh. Bên cạnh đó thì quá trình và kết quả học sẽ đƣợc điều chỉnh đánh giá một cách
thƣờng xuyên, khách quan kịp thời và nhanh chóng.
 Tính linh hoạt: Một khóa học E-learning đƣợc phục vụ theo nhu cầu học sinh,
không nhất thiết phải bám theo một thời gian biểu cố định. Vì thế học sinh có thể tự
điều chỉnh quá trình học, kiểm soát tốc dộ học, công cụ học tập, địa điểm học cũng nhƣ
khối lƣợng kiến thức mà họ muốn thu nhận. Họ đƣợc tự mình quyết định cách thức thu
nhận kiến thức, kĩ năng phù hợp với khả năng và phong cách của chính mình.
 Tính dễ tiếp cận: Do cách tiếp cận của cá nhân học sinh với các đối tƣợng nhận
thức thông qua các thiết bị, phƣơng tiện thông tin truyền thông nên E-learning thích
hợp với mọi đối tƣợng học sinh có các hoàn cảnh, lứa tuổi khác nhau, đặt biệt với
những ngƣời ở những nơi xa các trung tâm, co sở giáo dục hay các ngƣời tàn tật
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
19
 Truy cập ngẫu nhiên: Bảng danh mục các bài giảng, các kháo học sẽ cho phép
học sinh chủ động lựa chọn đơm vị tri thức, tài liệu lien quan trực tiếp nhất tới kiến
thức nền tảng, nhiệm vụ và công việc của mình tại thời điểm đó. Học sinh có thể tự tìm
ra kỹ năng học cho riêng mình với sự giúp đõ của những tài liệu trực tuyến.
 Có tính hợp tác và phối hợp: Học sinh có thể dễ dàng trao đổi với nhau, với GV
qua mạng trong quá trình học. Các trao đổi này có tác dụng hỗ trợ tích cực cho quá
trình học tập của học sinh.
 Tiết kiệm thời gian : E-learning cho phép học sinh có thể học với tốc độ nhanh
nhất có thể. Giúp cho học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tƣơng tác
của nó, cho phép học sinh tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã
quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất.

xây dựng nôi dung học tập
khá lớn, nhƣng có thể sử
dụng cho nhiều khóa học.
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
20

2.1.5 Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới và ở Việt Nam[16].
 Trên thế giới
Trên thế giới E-learning phát triển không đồng đều: mạnh nhất là ở khu vực Bắc
Mỹ, triển vọng ở châu Âu và đang hòa nhập ở châu Á.
Tại Mỹ, theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International
Data Corporation, IDC), cuối năm 2007 có khoảng 90% các trƣờng đại học, cao đẳng
Mỹ đƣa ra mô hình E-learning, số ngƣời tham gia học tăng 43% hàng năm trong
cao.

Tuổi
- Thƣờng tổ chức tập trung
cho một lứa tuổi nhất định
- Mọi lứa tuổi có nhu cầu đều
có thể tham gia và lựa chọn
trình độ thích hợp để học tập
Tƣơng tác
- Hầu hết hoạt động dạy và
học là sự tƣơng tác giữa thầy
và trò trong phạm vi một lớp
học.
- Truyền thông tƣờng tác đa
chiều học sinh-học sinh-giáo
viên- kiến thức với phạm vi

quan hệ,…
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
21
khoảng thời gian 2004-2007. Ở các công ty, việc xây dựng và triển khai E-learning
thay cho phƣơng thức đào tạo truyền thống đã mang lại hiệu quả cao.
Cộng đồng châu Âu: IDC ƣớc đoán rằng thị trƣờng E-learning của châu Âu tăng
tới 10 tỷ USD trong năm 2008 với tốc độ tăng 96%/năm. Giữa các nƣớc châu Âu có
nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning nhƣ dự án xây dựng mạng
xuyên châu Âu. Đây là mạng E-Learning của 36 trƣờng đại học hàng đầu châu Âu
thuộc các quốc gia nhƣ Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-
Learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực: khoa học, nghệ
thuật, con ngƣời phù hợp với nhu cầu học của sinh viên đại học, sau đại học và các nhà
chuyên môn.
Tại châu Á, E-learning vẫn chƣa nhiều thành công vì một số lý do: các quy tắc,
luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ƣa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu Á,
ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số
quốc gia. Nhƣng, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo đang trở nên
ngày càng không thể đáp ứng đƣợc bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc
gia châu Á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning
mang lại. Các nƣớc có nền kinh tế phát triển đang có những nỗ lực ứng dụng E-
learning tại quốc gia mình nhƣ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung
Quốc.
 Ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin, giáo
dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trƣờng
đào tạo nhƣ: Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công
nghệ Thông tin Đại học Quốc gia Hà Nội và Khoa Công nghệ Thông tin Trƣờng Đại
học Bách khoa Hà Nội phối hợp tổ chức vào tháng 03/2007. Đây là hội thảo khoa học
chuyên đề về E-learning đầu tiên đƣợc tổ chức tại Việt Nam. Các trƣờng đại học ở Việt

là Blended Solution, là sự kết hợp giữa online và offline E-learning; nhiều định dạng
bài học khác nhau (điện tử, giấy) formal, informal E-learning hoặc đồng bộ hoặc
không đồng bộ.
Trong hình thức dạy học kết hợp, dạy học truyền thống vẫn giữ vai trò trung tâm.
Tuy nhiên, kiểu dạy học này đƣợc hỗ trợ bằng các nội dung đƣợc số hóa mỗi ngày một
nhiều. Nội dung dạy học kéo theo các bài giảng có nhiều đổi khác và các nội dung
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
23
đƣợc truy cập trên mạng. Các nội dung, tƣ liệu chuẩn bị cho nội dung cemina, thực
hành đều đƣợc đƣa lên mạng. Các bài trắc nghiệm khách quan trên mạng một mặt giúp
việc kiểm tra đánh giá của giáo viên, mặt khác giúp học sinh tự đánh giá quá trình học
tập của họ. Việc thông tin và giao tiếp đƣợc tạo nhiều điều kiện đã tạo nên một phƣơng
pháp dạy học mới, trong đó học sinh luôn đƣợc coi là trung tâm.
E-learning chỉ là phƣơng tiện cho quá trình dạy học và quá trình dạy học vẫn đạt
đƣợc những thành quả to lớn trong quá khứ. Và rõ ràng vai trò ngƣời dạy vẫn vô cùng
quan trọng và thiết yếu. Ngƣời giáo viên có thể xuất hiện dƣới dạng ảo hay thực tùy
nội dung cần giảng dạy.
Do đó để phát huy hiệu quả của hình thức dạy học kết hợp này, trƣớc hết giáo
viên cần phải đƣa công nghệ thông tin vào trong giảng dạy thông qua các giáo án điện
tử, các bản tin, bài viết trên mạng và cả trò chơi điện tử cho môn học. Lên kế hoạch
học tập cụ thể nhƣ giao các nhiệm vụ, câu hỏi, bài tập cho học sinh để họ có thể gặp
nhau trao đổi trực tiếp hoặc qua diễn đàn học tập.
Trong quá trình dạy học, giáo viên cần xây dựng tiến trình học tập một cách linh
hoạt đối với những bài học để phù hợp với trình độ khác nhau của các học sinh. Tổ
chức những buổi hội thảo, thảo luận qua mạng hoặc trực tiếp tại lớp dƣới sự chủ trì của
giáo viên. Tăng cƣờng cho học sinh học nhóm, thảo luận nhóm, làm việc theo nhóm và
thực hiện các dự án học tập theo nhóm. Tập cho học sinh quan với việc tự học, tự
nghiên cứu nhƣ tìm tài liệu trên mạng, chia sẽ tài liệu bằng cách cho đề tài, giới thiệu
địa chỉ nhƣ trang web liên quan, những tài liệu tham khảo,… Về kiểm tra, đánh giá học

Từ đó khái niệm bài giảng điện tử đƣợc hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy
học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh cùng với các phƣơng tiện dạy và
học nhƣ tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ, các thí nghiệm thực đƣợc quay phim, chụp ảnh
hay mô phỏng bằng các ảnh động trên không gian 2, 3 chiều của một tiết học, đƣợc
số hoá và cài đặt vào máy tính dƣới dạng một chƣơng trình nhằm thực hiện mục đích
của quá trình dạy học đã đặt ra là truyền thụ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ
và hình thành nhân cách cho học sinh.
b. Đặc điểm của Bài giảng điện tử E-learning.[9][14]
Bài giảng điện tử E-Learning là sự kết hợp giữa các bài giảng truyền thống với
các thiết bị điện tử, trong đó ngƣời giáo viên thể hiện bài giảng của mình thông qua các
đoạn văn bản , các hình ảnh, video, bảng biểu minh họa, hay các câu hỏi gợi mở, các
câu hỏi trắc nghiệm…
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Trương Thị Thanh Duyên
25
* Có 2 kiểu bài giảng điện tử là trực tuyến Online và ngoại tuyến offline
 Hệ thống online học trực tuyến, qua việc truy cập Internet vào website.
 Hệ thống offline học ngoại tuyến. Bài giảng có thể chứa trong đĩa CD,
USB, ổ cứng … và ngƣời học không cần truy cập Internet.
* Hình thức giao tiếp
 Đồng bộ hay thời gian thực: Ngƣời học và ngƣời giảng tƣơng tác trực tiếp,
trao đổi tức thì, thời gian thực (real time), có độ trễ tƣơng tác gần nhƣ bằng 0.
 Trao đổi không đồng bộ là trao đổi không xẩy ra ngay lập tức, không phải
thời gian thực, có độ trễ lớn và không xác định. Thí dụ trao đổi qua e-mail là dạng
không đồng bộ.
2.2.2 Mô hình cấu trúc của nội dung bài giảng điện tử E-Learning.[14][9]
Trong môi trƣờng E-Learning, một bài giảng điện tử đƣợc phân thành nhiều mô
đun khác nhau. Nhƣ vậy, chúng ta có thể coi một khóa học nhƣ là một mô đun chính,
chứa các mô đun nhỏ hơn.
Việc phân chia thành các mô đun sẽ đem lại nhiều lợi điểm:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status