ĐỀ KIỂM TRA MÔN LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM potx - Pdf 12

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG TC LUẬT VỊ THANH

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*****
Họ tên: Nguyễn Ngọc Phước Anh
Lớp: TCL K3-THPT
KIỂM TRA
Môn: Luật Dân Sự Việt Nam
CÂU HỎI
Câu 1:
1./ Anh (chị) hãy cho biết nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao?
" Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dân sự đồng nghĩa hoàn toàn với Hộ gia đình ghi
trong sổ Hộ Khẩu gia đình"
2./ Anh (chị) hãy cho biết những bất cập trên thực tiễn khi Hộ gia đình là chủ thể của các giao
dịch dân sự?
Câu 2: Tổ hợp tác có phải là pháp nhân không?
Câu 2: Anh (chị) hãy phân biệt:
 Động sản và Bất động sản
 Hoa lợi và Lợi tưc
 Vật chính và Vật phụ
 Vật chia được và Vật không chia được
 Vật tiêu hao và Vật không tiêu hao
 Vật cùng loại và Vật đặc định
BÀI LÀM
Câu 1:
1./ " Hộ gia đình là chủ thể tham gia giao dịch dân sự đồng nghĩa hoàn toàn với Hộ gia đình ghi
trong sổ Hộ Khẩu gia đình".
Nhận định này là SAI. Bởi vì:
- Theo Điều 106 BLDS 2005 thì: " Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng

hiện chủ thể Hộ gia đình trong quan hệ dân sự. Đây là một điều vô lý, vì khi cũng là tài
sản chung và giao dịch liên quan đến tài sản chung của Hộ gia đình, nhưng lại không phải
là giao dịch của Hộ gia đình. Tất nhiên các điều khoản liên quan khác thì lại vẫn quy định
việc định đoạt ài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của Hộ gia đình thì
vẫn phải được các thành viên đồng ý;
 Thứ ba, các thành viên Hộ gia đình “có tài sản chung”, nhưng không phải là bất cứ tài sản
nào, mà chỉ trong trường hợp có tài sản chung theo quy định tại Điều 108 về “Tài sản
chung của hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự năm 2005 như sau: “Tài sản chung của hộ gia
đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do
các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế
chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.” Tuy
nhiên, điều khó khăn là, ngoài tài sản chung là “quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng,
rừng trồng của hộ gia đình”, thì không biết căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để xác định
được những tài sản nào khác là “tài sản chung của Hộ gia đình”.
Như vậy, cùng một tài sản, nhưng chủ thể tham gia giao dịch, lúc này thì là là cá nhân,
nhưng lúc khác lại phải là Hộ gia đình, mặc dù không hề có bất cứ sự thay đổi nào về chủ sở hữu.
Ngoài ra, cũng khó có thể tách bạch giữa tài sản của Hộ gia đình sử dụng vào mục đích sản xuất,
kinh doanh với tài sản để sinh hoạt.
Và theo quy định của Bộ luật Dân sự thì chủ thể Hộ gia đình trong quan hệ dân sự chỉ áp
dụng trong một số giao dịch sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Điều 106 nói trên. Tuy nhiên,
nhiều lĩnh vực khác đã mở rộng chủ thể Hộ gia đình vượt quá quy định nền tàng của Bộ luật Dân
sự, đưa chủ thể quan hệ dân sự này vào rất nhiều giao dịch khác, như: Vay vốn ngân hàng, mua
bán điện nước sinh hoạt,…
Điều 107 về “Đại diện của hộ gia đình”, Bộ luật Dân sự quy định:
"1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha,
mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Page 2 of 6
Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ
dân sự.
2. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ

diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của
cả hộ gia đình.” Tuy nhiên, nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 2, Điều
109 "Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải
được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải
được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.". Thì có thể dẫn đến giao dịch dân sự
vô hiệu và Hộ gia đình không phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 110: "1. Hộ
gia đình phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại
diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện nhân danh hộ gia đình.
2. Hộ gia đình chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản chung của hộ; nếu tài sản chung không đủ để
thực hiện nghĩa vụ chung của hộ thì các thành viên phải chịu trách nhiệm liên đới bằng tài sản
riêng của mình."
Câu 2: Tổ hợp tác không phải là một pháp nhân bởi vì:
Các tổ hợp tác không thể vay vốn (đặc biệt là từ ngân hàng), không được tham gia đấu thầu, đăng
ký kinh doanh, mua sắm tài sản chung với tư cách là tổ hợp tác mà chỉ có thể tiến hành các hoạt
động này với tư cách từng thành viên
Page 3 of 6
Câu 3: Phân biệt giữa:
1./ Bất động sản và Động sản
Điều 174 BLDS hiện hành quy định:
"1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình
xây dựng đó;
c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản."
Theo khoản 1 thì ta hiểu: “Bất động sản là các tài sản không di dời được.”. Ta có hiểu
được ngay một quy tắc tương ứng: “Động sản là các tài sản có thể di dời được”. Từ đây, ta xác
định được tiêu chí đầu tiên của việc phân biệt tài sản thành động sản và bất động sản là căn cứ
vào đặc điểm vật lý (đặc điểm cố định) của chính tài sản đó. Về hình thức thể hiện, tài sản có thể

Page 4 of 6
 Hoa lợi: Một vườn Cam khi có sự tác động chăm sóc lên nó thì sau một vụ mùa sẻ
cho ta thu hoạch 1 tấn quả cam. Đó là hoa lợi của vườn Cam
 Lợi tức: Khi đem đầu tư một khoản vốn, nhà đầu tư sẽ thu được một giá trị trong
tương lai lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu và khoản chênh lệch này được gọi là lợi
tức.
3./ Vật chính và Vật phụ:
Theo Điều 176 BLDS hiện hành quy định:
"1. Vật chính là vật độc lập, có thể khai thác công dụng theo tính năng.
2. Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận
của vật chính, nhưng có thể tách rời vật chính.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải chuyển giao cả vật phụ, trừ trường
hợp có thoả thuận khác"
Từ nội dung điều luật, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau:
 Vật chính có thể nhận biết với đầy đủ đặc điểm về cấu tạo, tính năng mà không cần
vật phụ. Chẳng hạn như: bàn, ghế, quần, áo
 Vật phụ là vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, mà thông
thường làm tăng giá trị cho vật chính nhưng không hẳn là yếu tố không thể thiếu được
của vật chính. Ví dụ: kính lọc của màn hình máy vi tính, lớïp hóa chất chống trầy,
chống tia cực tím của tròng mắt kính.
 Vật phụ sẽ đảm nhận tư cách “phụ” khi được gắn với vật chính về mặt vật chất.
 Vật phụ, khi tách khỏi vật chính, có thể trở thành một tài sản độc lập và có công dụng
đặc thù nhưng cũng có thể không hữu dụng cho chủ sở hữu.
Theo đoạn 2 của Điều 176 thì :"Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật chính thì phải
chuyển giao cả vật phụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác". Vậy:
 Khi vật chính được mua bán, tặng cho, trao đổi, di tặng, góp vốn vào công ty thì vật
phụ cũng mặc nhiên đi theo, nếu không có thỏa thuận khác.
 Trong trường hợp một vật được gắn với một vật khác như là vật phụ của vật đó, thì
vật mới được tạo thành thuộc về chủ sở hữu của vật chính.
4./ Vật chia được và Vật không chia được

Ví dụ như tập, vở, bút viết, quần áo, đồ gia dụng Danh sách sản phẩm tiêu dùng được
bổ sung theo sự phát triển của xã hội và sự rút ngắn của chu kỳ đổi mới công nghệ. Tất cả các tài
sản tiêu dùng đều là động sản.
 Vật không tiêu hao tức là khi được sử dụng qua nhiều lần mà vẫn còn giữ nguyên được
hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng ban đầu
Ví dụ như Thức ăn, nguyên nhiên liệu là vật tiêu hao. Quần áo, xe máy, TV, bất động sản,
máy vi tính
6./ Vật cùng loại và Vật đặc định
Theo Điều 179. Vật cùng loại và vật đặc định
"1. Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác
định được bằng những đơn vị đo lường.
Vật cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau.
2. Vật đặc định là vật phân biệt được với các vật khác bằng những đặc điểm riêng về ký
hiệu, hình dáng, màu sắc, chất liệu, đặc tính, vị trí.
Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đặc định thì phải giao đúng vật đó.
Ta hiểu như sau: một vật nếu là vật đặc định, khi được chuyển giao thì phải giao đúng vật
đó, còn vật cùng loại chỉ cần chuyển giao đủ và đúng loại. Luật viết quy định thêm rằng:” Vật
cùng loại có cùng chất lượng có thể thay thế cho nhau”. Khái niệm vật cùng loại chỉ là một khái
niệm mang tính tương đối. Vật cùng loại có thể trở thành đặc định trong quá trình thực hiện một
giao dịch nhưng lại trở thành cùng loại khi là đối tượng của một giao giao dịch khác.
Ví dụ: Trong thực tế cuộc sống, việc mua bán những sản phẩm nông nghiệp là vật cùng
loại thường được tiến hành như sau: bên mua và bên bán thảo luận, ngã giá, đi đến sự thống nhất
ý chí về giá của món hàng; người mua sẽ tiến hành “đặc định hóa” bằng cách lựa chọn, cân,
đong, đo, đếm (có thể được sự chỉ dẫn và giám sát của người bán); cuối cùng hai bên tiến hành
thanh toán tiền và giao, nhận hàng. Cũng có khi người bán đã tiến hành “đặc định hóa có điều
kiện” mặt hàng của mình bằng cách cân, đong, đo, đếm và đóng gói sẵn (một chục trái, 100 gram,
nửa ký ). Khi đó, nếu đồng ý với giá cả mà người bán đưa ra, người mua hoàn toàn tự do lựa
chọn túi, bao, gói mà mình thích. Lúc này, tính chất đặc định của vật cùng loại được thể hiện rõ
ràng nhất.
Page 6 of 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status