TRUYỆN NGẮN "ĐÔI MẮT" CỦA NAM CAO
Nghĩ lại những thành tựu văn học nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám đến
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, không ai không nhớ đến truyện
ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Những sáng tác hồi ấy, vừa phục vụ kịp thời, vừa đứng
lại được với thời gian như Đôi mắt phải nói rằng chưa có bao nhiêu.
Truyện Đôi mắt đã tạo ra một nhân vật khó quên được: văn sĩ Hoàng. Mỗi lần
đọc lại tác phẩm, gặp lại nhân vật này, tôi cứ phải bật cười một mình và thầm thốt lên:
Chà, cái anh chàng này, y như một người có thật mà mình đã gặp ở đâu rồi vậy!
Những nhân vật có phẩm chất nghệ thuật như vậy, thường giống nhau ở đặc
điểm này: có những chi tiết có vẻ rất ngẫu nhiên, thậm chí vô nghĩa nữa, vậy mà
không thể hình dung ra nhân vật ấy đúng như bản chất của nó, nếu gạt đi những chi
tiết ấy. Nghĩa là rất ngẫu nhiên mà lại rất tất yếu. Có vẻ vô nghĩa đấy, nhưng không có
không được.
Trong Đôi mắt, Độ lần nào đến nhà Hoàng cũng bắt gặp một con chó bécgiê. Ở
Hà Nội cũng thế, ở nơi tản cư cũng vậy. Điều ấy có gì là tất yếu đâu! Ấy thế nhưng
chúng ta không thể hình dung ra cái anh văn sĩ kiêm chợ đen này đúng như kiểu người
và cung cách sống của anh ta nếu không có hình ảnh cái con chó giống Đức to lớn ấy.
Cũng như anh ta nhất thiết phải có thân hình to béo, nặng nè, bước đi thong thả, khệnh
khạng, bơi hai cánh tay ngắn ngủi kềnh kệnh ra hai bên; nhất thiết phải mặc bộ áo
quần ngủ màu xanh nhạt, phủ lên ngoài một cái áo len trắng, quá chật; nhất thiết phải
có một cái vành móng ngựa ria cắt xén ngăn ngắn trên mép, nhất thiết phải ngả người
ra phía sau và kêu lên những tiếng lâm li trong cổ họng khi nhận ra người bạn cũ; nhất
thiết phải cười cùng cục trong cổ như con gà trống…v v
việc thực. (Ngòi bút chân thực đến nghiêm khắc ấy không muốn trí tưởng tượng của
mình tung hoành quá tự do chăng ?). Nhưng sự thực ấy đã được nhìn từ chỗ đứng nào,
từ ánh sáng nào của những tư tưởng gì ? Muốn biết điều này, cần nhớ rằng Đôi mắt
được viết vào mùa xuâ năm 1948 tại Việt Bắc, vài tháng sau khi Nam Cao được kết
nạp vào Đảng. Đó cũng là lúc quân dân ta vừa liên tiếp ghi được những chiến công
vang dội: Chợ Đồn, Chợ Rã, Bông Lau, Sông Lô v.v… bẻ gẫy cuộc tấn công đại quy
mô của giặc Pháp lên Việt Bắc thu đông năm 1947. Đôi mắt được viết xen kẽ với một
tác phẩm khác cũng rất đặc sắc của Nam Cao: Nhật ký ở rừng. Đọc tác phẩm này,
thấy tâm trạng nhà văn lúc bấy giờ đang náo nức một niềm tin tưởng và tự hào ở cuộc
kháng chiến mà ông đã thực sự góp phần vào, đồng thời dào dạt những tình cảm đầy
cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn cao cả của đồng bào Việt Bắc mà ông lần đầu được
tiếp xúc. Ông ghi vào nhật ký ngày 3-11-1947: “Gần gũi những người Dao đói rách và
dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận
tuỵ, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với mấy thằng “bố vấu” mà Khang
gọi là trí thức nửa mùa, Khang rất bất bình đối với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một
cái gì, chẳng làm một cái gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng.” (Ở rừng – Nam Cao, tác
phẩm, tập II, 1977)
Hoàng là một trong những thằng “bố vấu”, có “tài chửi đổng” ấy chăng? Anh
ta chẳng làm cái gì hết, trong khi mọi người nỗ lực tham gia kháng chiến. Ích kỷ đại
hạng, nhưng động mở miệng là chửi thiên hạ ngu dốt, bần tiệtn – Mà sao những người
như thế lại chúa là hay nhân danh đạo đức, nhân nghĩa ? Này đây, hãy nghe người vợ
Hoàng phụ hoạ với những nhận xét của chồng về sự mà chị ta gọi là “thiếu tình nghĩa
của người dân quê”: “Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một
trăm người thì chín mươi chín người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình.
Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi, đùng
một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp ? May
mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi ở ngoại thành.
Khéo lắm thì ăn đựơc độ một năm. Đến lúc hết tất nhiên phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc
ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi
Vậy nếu gọi Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật, thì trước hết đó là bản
tuyên ngôn về lập trường cách mạng, lập trường kháng chiến của lớp văn nghệ sĩ tiểu
tư sản quyết tâm từ bỏ những quyền lợi ích kỷ của mình, từ bỏ những thói quen sinh
hoạt và nếp tư duy cũ, từ bỏ cả cái nghệ thuật cho là “cao siêu” của mình ngày trước,
sẵn sàng nói như nhà văn Độ, làm một “anh tuyên truyền nhãi nhép” nhưng có ích cho
nhân dân, cho kháng chiến.
Đôi mắt xét ở phương diện khác, còn đặt vấn đề quan niệm về cái đẹp, về đối
tượng của nghệ thuật mới nữa. Phải tìm cái đẹp ở đâu? Theo quan điểm nào? Phải thể
hiện nó ra sao? Nam Cao có thể chưa ý thức đựơc đầy đủ lắm, nhưng tác phẩm tự nó
đã gợi ra và bước đầu giải đáp những câu hỏi đó.
Tôi vẫn nghĩ rằng, không phải đến Đôi mắt, Nam Cao mới đặt vấn đề “đôi
mắt”. Đúng là đến tác phẩm này, nhờ đã giác ngộ cách mạng, ông mới đặt được vấn
đề ấy một cách hoàn toàn tự giác. Nhưng qua một số truyện ông viết từ trước Cách
mạng tháng Tám, đã thấy ông luôn luôn băn khoăn day dứt về vấn đề ấy: phải biết
nhìn người nông dân lao động bằng đôi mắt như thế nào mới thấy được bản chất tốt
đẹp cho họ, thường ẩn giấu sau một vẻ ngoài hết sức tầm thường, thậm chí vụng về,
thô lỗ nữa. Theo Nam Cao hồi ấy, đôi mắt đó phải là đôi mắt của tình thương. Trong
Lão Hạc ông đã viết như thế. Ông còn lấy câu nói này để đề từ cho một truyện ngắn
khác của mình: “Người chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích
kỷ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ.” (Nước mắt – Nam Cao, tác
phẩm, tập II) Đúng như thế, ở Nam Cao, nước mắt của tình thương là miếng kính biến
hình vũ trụ. Chính nhờ có đôi mắt yêu thương ấy mà nhà văn chẳng những đã nhìn
thấy tấm lòng vị tha, xả kỷ của lão Hạc…. mà còn phát hiện ra được cả chất thơ trong
trẻo trong tâm hồn tưởng chừng đã hoàn toàn đen độc của Chí Phèo nữa.
Nhưng hồi ấy, tình thương của Nam Cao chỉ mới là thứ tình thương uỷ mị, tiêu
cực. Qua “miếng kính” ấy, anh tuy thấy được một số đức tính của người dân nghèo,
nhưng dưới ngòi bút của anh, học chỉ là những con người bé nhỏ, bất lực. Và giọng