Đọc Lại Truyện Ngắn "đôi Mắt" Của Nam Cao - Pdf 19

Đọc Lại Truyện Ngắn "đôi Mắt" Của Nam Cao Nghĩ lại những thành tựu văn học nước ta từ sau Cách
mạng tháng Tám đến những ngày đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp, không ai không nhớ đến truyện ngắn
Đôi mắt của Nam Cao. Những sáng tác hồi ấy, vừa phục
vụ kịp thời, vừa đứng lại được với thời gian như Đôi mắt
phải nói rằng chưa có bao nhiêu.

Truyện Đôi mắt đã tạo ra một nhân vật khó quên được:
văn sĩ Hoàng. Mỗi lần đọc lại tác phẩm, gặp lại nhân vật
này, tôi cứ phải bật cười một mình và thầm thốt lên: Chà,
cái anh chàng này, y như một người có thật mà mình đã
gặp ở đâu rồi vậy!

Những nhân vật có phẩm chất nghệ thuật như vậy,
thường giống nhau ở đặc điểm này: có những chi tiết có
vẻ rất ngẫu nhiên, thậm chí vô nghĩa nữa, vậy mà không
thể hình dung ra nhân vật ấy đúng như bản chất của nó,
nếu gạt đi những chi tiết ấy. Nghĩa là rất ngẫu nhiên mà lại
rất tất yếu. Có vẻ vô nghĩa đấy, nhưng không có không
được.

Trong Đôi mắt, Độ lần nào đến nhà Hoàng cũng bắt gặp
một con chó bécgiê. Ở Hà Nội cũng thế, ở nơi tản cư
cũng vậy. Điều ấy có gì là tất yếu đâu! Ấy thế nhưng
chúng ta không thể hình dung ra cái anh văn sĩ kiêm chợ
đen này đúng như kiểu người và cung cách sống của anh
ta nếu không có hình ảnh cái con chó giống Đức to lớn ấy.
Cũng như anh ta nhất thiết phải có thân hình to béo, nặng

rộng rãi như thế, vẫn cứ nhởn nhơ sống kiểu sống an
nhàn như thế. Ban ngày nếu không vì quá buồn phải tìm
đến mấy ông bạn tuần phủ, đốc học về hưu nào đó để
đánh tổ tôm, thì chỉ muốn đóng chặt cổng lại để khỏi bị
quấy nhiễu bởi mấy ông uỷ ban hay tự vệ trong làng đến
tuyên truyền kháng chiến. Còn buổi tối thì một nếp sống
“thiêng liêng” không gì phá vỡ được là… chui vào chăn
ấm, buông màn tuyn trắng toát, vừa hút thuốc lá thơm vừa
đọc Tam Quốc chí trước khi đánh một giấc ngon lành đến
sáng. Anh ta đã sống giữa cuộc kháng chiến mà hoàn
toàn cách biệt với cuộc kháng chiến. Cho nên Độ bước
vào nhà anh ta, dù ở nơi tản cư, mà như bước vào một
thế giới xa lạ hẳn với bên ngoài, và bao nhiêu hy vọng vận
động anh ta đi làm báo kháng chiến với mình bỗng chốc
tan thành mây khói.

Người ta nói rằng Đôi mắt là chuyện có thật. Khi cuộc
kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ, Nam Cao công tác
cho một tờ báo địa phương, quê ông. Hồi ấy ông có đi lại
thăm viếng một nhà văn nào đó ở Hà Nội tản cư ra. Ai đã
từng biết lối viết văn của Nam Cao hẳn thấy điều ấy chẳng
có gì xa lạ. Xưa nay, viết về tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ,
hay viết về nông dân, địa chủ, ông vẫn thường dựa nhiều
vào người thực việc thực. (Ngòi bút chân thực đến
nghiêm khắc ấy không muốn trí tưởng tượng của mình
tung hoành quá tự do chăng ?). Nhưng sự thực ấy đã
được nhìn từ chỗ đứng nào, từ ánh sáng nào của những
tư tưởng gì ? Muốn biết điều này, cần nhớ rằng Đôi mắt
được viết vào mùa xuâ năm 1948 tại Việt Bắc, vài tháng
sau khi Nam Cao được kết nạp vào Đảng. Đó cũng là lúc

vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi, đùng một
cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì
chạy làm sao kịp ? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít
hàng để ở cái trại của chúng tôi ở ngoại thành. Khéo lắm
thì ăn đựơc độ một năm. Đến lúc hết tất nhiên phải khổ
rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ lý
ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi
mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói
cho thì nhục. Họ tàn nhẫn lắm cơ bác ạ!”

Tôi chắc, khi ôn lại trong tâm trí mình câu nói ấy, Nam
Cao đến lộn ruột lên được. Nhưng giọng kể chuyện cứ
thản nhiên như không. Ấy, bản lĩnh của ngòi bút Nam Cao
là thế: anh nén chặt tình cảm của mình lại để người đọc
tự tìm ra ý nghĩa mà càng thêm phẫn nộ - phẫn nộ mà cứ
phải bật cười - trước một thái độ hết sức ích kỷ mà cứ
nhơn nhơn và ngọt xớt như không.

Nhà văn Tô Hoài còn gọi Đôi mắt là một thứ tuyên ngôn
nghệ thuật chung của lớp nghệ sĩ các anh hồi ấy.

Cứ như cái tên của nó thì tác phẩm muốn nói vấn đề cách
nhìn, vấn đề quan điểm. Điều ấy đã rõ. Nhưng nói cho
chặt chẽ hơn, căn cứ vào nội dung hình tượng, thì nó
trước hết là mâu thuẫn về lập trường. Một đằng coi cuộc
kháng chiến là của mình và tích cực tham gia kháng
chiến. Một đằng tự xem như người ngoài cuộc, từ chối
không làm gì hết, dù chỉ là công tác Bình dân học vụ trong
làng. Một đằng vui sướng trước cuộc đổi đời của nhân
dân, và nhìn cuộc sống mới, tư thế mới và cách mạng

lắm, nhưng tác phẩm tự nó đã gợi ra và bước đầu giải
đáp những câu hỏi đó.

Tôi vẫn nghĩ rằng, không phải đến Đôi mắt, Nam Cao mới
đặt vấn đề “đôi mắt”. Đúng là đến tác phẩm này, nhờ đã
giác ngộ cách mạng, ông mới đặt được vấn đề ấy một
cách hoàn toàn tự giác. Nhưng qua một số truyện ông viết
từ trước Cách mạng tháng Tám, đã thấy ông luôn luôn
băn khoăn day dứt về vấn đề ấy: phải biết nhìn người
nông dân lao động bằng đôi mắt như thế nào mới thấy
được bản chất tốt đẹp cho họ, thường ẩn giấu sau một vẻ
ngoài hết sức tầm thường, thậm chí vụng về, thô lỗ nữa.
Theo Nam Cao hồi ấy, đôi mắt đó phải là đôi mắt của tình
thương. Trong Lão Hạc ông đã viết như thế. Ông còn lấy
câu nói này để đề từ cho một truyện ngắn khác của mình:
“Người chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của
phường ích kỷ, và nước mắt là một miếng kính biến hình
vũ trụ.” (Nước mắt – Nam Cao, tác phẩm, tập II) Đúng
như thế, ở Nam Cao, nước mắt của tình thương là miếng
kính biến hình vũ trụ. Chính nhờ có đôi mắt yêu thương ấy
mà nhà văn chẳng những đã nhìn thấy tấm lòng vị tha, xả
kỷ của lão Hạc…. mà còn phát hiện ra được cả chất thơ
trong trẻo trong tâm hồn tưởng chừng đã hoàn toàn đen
độc của Chí Phèo nữa.

Nhưng hồi ấy, tình thương của Nam Cao chỉ mới là thứ
tình thương uỷ mị, tiêu cực. Qua “miếng kính” ấy, anh tuy
thấy được một số đức tính của người dân nghèo, nhưng
dưới ngòi bút của anh, học chỉ là những con người bé
nhỏ, bất lực. Và giọng văn của anh thì như anh thường

vật ấy trong nền văn học chúng ta.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status