Nói thêm về “Đôi mắt” của Nam Cao
1. Không thuộc vào hàng những kiệt tác của Nam Cao, nhưng Đôi mắt vẫn là
sáng tác xuất sắc của ông sau cách mạng. Và so với "mặt bằng" truyện ngắn đương
thời, thì nó vẫn cứ là một cái đỉnh. Có lẽ vì thế mà kể từ độ vừa ra đời cho đến nay,
bước sang thế kỷ mới rồi, nó vẫn cứ làm nóng dư luận. Mà xem ra, mọi tranh cãi vẫn
là từ cái anh chàng văn sĩ Hoàng ấy. Tôi không nhằm nói tới cái việc đồng nhất anh ta
với nguyên mẫu. Đấy là một sai lầm "lịch sử" khiến Hoàng nghiễm nhiên thành cái
bóng đè lên thanh danh nhà văn Vũ Bằng mà phải đến cuối thế kỷ trước mới hóa giải
được1. Điều tôi muốn đề cập ở đây là cách hiểu khác nhau về thực chất của Hoàng và
ý đồ nghệ thuật của Nam Cao. Nhìn lướt thì ý kiến chia làm hai thời kỳ. Trước đổi
mới, xem chừng khá thống nhất. Người ta vẫn thấy Hoàng thuần là phản diện, và thái
độ của Nam Cao với nhân vật này là phê phán, lên án. Tuy rằng chưa phải việc hiểu
đã tới độ cần thiết. Nhưng kể từ đổi mới trở đi, bắt đầu thấy nảy ra loại ý kiến cho
rằng: người đọc đã quá khắt khe với Hoàng, thái độ Nam Cao không gay gắt đến thế.
Và thậm chí, có vẻ như Nam Cao còn khắc họa Hoàng như một trí thức tỉnh táo, đã
thấy trước những hạn chế của người nông dân đi làm cách mạng vào giữa lúc quần
chúng đang lên ngôi; nên đã coi Hoàng như một thứ tiên tri đi trước thời đại.
Xem ra, xung quanh truyện Đôi mắt của Nam Cao, tồn tại cả "vấn đề đôi mắt"
của bản thân người đọc nữa thì phải!
Chả biết, cái ý kiến "cấp tiến" nhân luồng gió đổi mới này có "tiến" được "cấp"
nào không, mà thấy bất chấp cả những nguyên tắc tối thiểu của việc tiếp nhận nghệ
thuật. Trước hết là nguyên tắc lịch sử. Đó là gán cái nhìn của ngày hôm nay cho một
tác phẩm quá khứ. Bấy giờ, cuộc cách mạng tháng Tám đã tạo ra một sự đổi thay ghê
gớm. Nhiệt tình bỏng cháy và niềm tin đơn giản thường khiến người ta nhảy từ cực
đoan này sang cực đoan khác. Trí thức bấy giờ đều muốn đoạn tuyệt hoàn toàn với
"con người cũ" của mình, đều kiên quyết "lột xác". Thấy mình có lỗi với quần chúng,
lạc lõng trước nhân dân, lạc loài trước dân tộc. Nhất nhất đều lấy quần chúng ra để
làm mẫu, làm gương. Chỉ có quần chúng là vĩ đại, là vạn đại.… Tất cả đều thành tâm,
thành kính, hồ hởi. Tuyệt nhiên chưa có chỗ để đặt những dấu hỏi cho hoài nghi hay
nhà văn vốn là bạn viết của nhau, nhưng bây giờ đã rất khác nhau về lối sống, chỗ
đứng và cách nghĩ, đó là Hoàng và Độ. Cuộc gặp gỡ như thế đã quyết định đến tính
đối thoại trong cấu trúc tác phẩm. Đôi mắt là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật - hai
nhà văn - hai tư tưởng… mà tựu trung là cuộc đối thoại của hai "đôi mắt". Cuộc gặp
gỡ và tính chất đối thoại như thế cũng quyết định đến kiểu nhân vật của truyện ngắn
này: tuy cũng được mô tả khá đầy đủ từ lai lịch đến ngoại hình, từ hành động đến
ngôn ngữ, nhưng về căn bản, hai nhân vật chính trong câu chuyện này nghiêng về kiểu
nhân vật tư tưởng. Đúng thế, tư tưởng mới là cốt lõi của họ, những bình diện khác
được đề cập hầu như chỉ nhằm lý giải cho tư tưởng của họ mà thôi. Nếu không sợ cực
đoan, có thể khẳng định: Hoàng và Độ là hai tư tưởng, hai "đôi mắt" được nhân vật
hóa. Nhìn sâu hơn, cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại đó cũng quyết định đến một
nguyên tắc nghệ thuật chủ đạo chi phối việc khắc họa cặp hình tượng: đối lập tương
phản. Độ là chính đề Đôi mắt thì Hoàng là phản đề Đôi mắt. Nếu Độ là người được đề
cao, thì Hoàng là kẻ bị lên án. Đúng theo cung cách của chính diện và phản diện, ánh
sáng và bóng tối. Thậm chí, ở một số điểm, nếu nắm được người này thì sẽ suy ra
được người kia, theo lối tương phản. Trong Đôi mắt, nhân vật này chỉ thực sự tồn tại
khi song hành với nhân vật kia. Có lẽ, chưa ý thức thật đúng mức về điều ấy, nên việc
hiểu Hoàng còn không ít hạn chế.
2. Tuy nhiên, bài này được viết ra không nhằm tranh luận với các ý kiến "cấp
tiến" nọ. Tôi muốn nói đến một việc khác thuộc về nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao :
việc dựng nhân vật Hoàng. Cố nhiên, tôi cũng không định nói đến lối dùng đồ vật và
loài vật để khắc họa nhân vật. Đành rằng, việc mô tả Hoàng gắn liền với thế giới tiện
nghi sang trọng và con chó becgiê, giữa những ngày tản cư kháng chiến kham khổ, là
một thủ pháp đặc sắc của Nam Cao. Quả là, những tiện nghi và con becgiê kia đã tố
cáo về bản chất ích kỷ và triết lí hưởng thụ tệ hại ở chủ nhân của chúng. Song, cái tôi
muốn đề cập nhiều hơn vẫn là chuyện khác: chuyện ngôn ngữ nhân vật. Phải, nhiều
khi ta bỏ qua, hay chừng mực hơn, ta chưa chú ý đúng mức đến ngôn ngữ nhân vật
nên đã hiểu nhân vật chưa thật đến nơi. Ai cũng biết, ngôn ngữ nhân vật là một
phương tiện hết sức đắc dụng để nhà văn khắc họa nhân vật. Dùng thành công thì lời
gì thay đổi chưa, nếu đã, thì sẽ vận động anh ta tham gia hoạt động cách mạng như
mình. Trong những thay đổi, thì quan trọng nhất là tư tưởng. Bấy giờ là thời buổi
kháng chiến, nên điều cốt yếu trong tư tưởng chính là nhận thức về đời sống kháng
chiến. Hai đối tượng căn bản làm nên đời sống kháng chiến lúc này không phải ai
khác hơn là quần chúng và lãnh tụ. Trong mắt Hoàng, cả hai đối tượng này đều là
những hình ảnh méo mó, mỗi đằng méo mó theo một kiểu. Quần chúng méo mó bởi
miệt thị. Lãnh tụ méo mó bởi sùng bái dễ dãi vô lối.
Trong cái nhìn của Hoàng, quần chúng chỉ là một đám đông hiện ra với mấy
"phẩm chất": ngu dốt, tàn nhẫn, ngố và nhặng xị. Ngu đến mức nào? đến chỉ đường
cũng không biết cách. Anh thanh niên vác bó tre rõ ràng là thuộc làu con đường lên
chợ Huyện, giờ chỉ diễn đạt cho người khác hiểu mà không làm nổi, càng cố diễn đạt
càng rối rắm, như tung hỏa mù, người nghe chẳng còn biết đằng nào mà lần. Dẫn
chứng ấy hàm ý gì? Đầu óc quần chúng thật thảm hại, cố hoạt động trí tuệ thì tối tăm,
ngừng hoạt động trí tuệ thì may ra mới sáng sủa. Ngu đến mức nào nữa? Đến đọc một
cái tên cũng không phân biệt được đàn ông đàn bà. "Ông chủ tịch làng này xem giấy
của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông.
Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải thị này thị nọ". Không phải vô cớ mà Hoàng
(Nam Cao thì đúng hơn) chọn cái tên này để ví dụ. Và cái ý thuộc hàm ngôn, vô ngôn
ở đây là gì vậy? Đúng là, nếu tách ra thành "Thục" và "Hiền" thì từng tên ấy có thể đặt
cả cho đàn ông lẫn phụ nữ. Nhưng khi ghép lại trong một tên "Thục Hiền" thì chỉ có
thể là tên đặt riêng cho phụ nữ thôi. Một cái tên phụ nữ đến thế, một điều sơ đẳng đến
thế cũng không biết, cũng có thể nhầm, thì ông nhà văn này thấy thật là ngu hết chịu
nổi. Còn ngố thì thế nào? Thì như anh thanh niên vác bó tre. Riêng bó tre đã nặng quá
rồi, lại loay hoay mãi mà không chỉ xong đường, nặng thêm bội phần rồi, cũng đã
chào nhau để đi rồi, thế mà vẫn còn cứ nán lại đọc bài ba giai đoạn dài đến năm trang
giấy. Thế là cực ngố còn gì. Nhưng đó mới chỉ là phía hiển ngôn thôi. Còn tầng hàm
ngôn? Chỉ vẽ đường đất còn không nên hồn lại đi tuyên truyền đường lối! Lại nữa,
anh là thằng mù chữ, là con vẹt biết nói mà lại dám tuyên truyền tôi là thằng trí thức.
Thật là ngược đời, quái dị, thật là ngố hết chỗ nói. Cái ngụ ý ở tầng hàm ngôn như thế
đã bao thế kỷ. Để xứng với những lời to tát đó, nhẽ ra người phát biểu cần phải mau
chóng vứt bỏ hết mà tìm về đầu quân, tụ nghĩa, làm một người lính chiến đấu dưới
ngọn cờ đại nghĩa của cụ Hồ. Nhưng, cuối cùng chỉ là lời nói suông. Nếu cụ Hồ có
thân chinh đến vận động chú Hoàng đi kháng chiến, chắc gì chú Hoàng đã đi. (Cứ
cung cách ấy, Hoàng có thể mặc cả lắm chứ: đi kháng chiến có chó becgiê không? có
tủ buytphê không? có chăn đệm thoang thoảng nước hoa không? có mía ướp hoa bưởi
không?… thì e rằng bấy giờ cụ Hồ cũng chả đáp ứng được).
Những lời tán dương ấy cũng xuất phát từ một cái trí chưa thật sáng. Hoàng là
trí thức nửa mùa khi hiểu biết chẳng đến đầu đến đũa. Có thể thấy Hoàng hiểu cuộc
kháng chiến bấy giờ và cụ Hồ bằng nhỡn quan của một kẻ quá ghiền Tam Quốc.
Nghĩa là hoàn toàn xa lạ, lỗi thời, lạc điệu. Dùng Tam quốc để quy chiếu thời đại mới.
Đúng là ở thời Tam quốc (nói đúng hơn là cái thời được mô tả trong "Tam quốc chí"
của La Quán Trung), vai trò cá nhân quyết định tất cả. Được thua cốt tại tướng. Cục
diện chiến trận ăn nhau ở người đứng đầu. Có khi chỉ nhờ ba tấc lưỡi và vài cái mẹo
vặt của chủ tướng có thể biến có thành không, chuyển bại thành thắng, đổi nguy thành
an. Nhưng thời đại này khác rồi. Đây là thời chiến tranh nhân dân. "Toàn dân kháng
chiến, toàn diện kháng chiến" kia mà. Cá nhân xuất chúng là quan trọng nhưng quần
chúng mới là quyết định. Nam Cao đã được giác ngộ kỹ lưỡng về những nguyên lý đó
của đường lối chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến. Nhưng Hoàng nói thế
nào? "Tôi cho rằng cuộc cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay
chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ". Đinh ninh thế chẳng phải là quá lạc hậu sao?
Nhìn kỹ ta còn thấy: Hoàng không phân biệt anh hùng và gian hùng. Trong
Hoàng có lẽ chỉ có một tiêu chuẩn: siêu sao. Nên cả Đờ Gôn, Hồ Chí Minh và Tào
Tháo đều được tán dương nồng nhiệt. Sẽ là không ngoa, khi nói rằng: trong cảm nhận
của Hoàng, Cụ Hồ cũng chỉ như một Tào Tháo thời hiện đại (đời mới), thế thôi.
Không phải vô cớ mà cái Hoàng tán thưởng ồn ào nhất ở cụ Hồ là "cú Hiệp định sơ bộ
ngày mồng 6 tháng 3". Nếu cụ Hồ chỉ có tài "xoay quanh" như thế không thôi thì e
rằng Hoàng đã hiểu quá sai lạc phiến diện. Tài đức Hồ Chí Minh đâu chỉ có vậy. Mà
là tương phản giữa chính đề và phản đề. Tựa như tương phản giữa ánh sáng và bóng
tối vậy.
Chưa cần nói đến những lời bình luận của Nam Cao (trong vai nhân vật Độ) thể
hiện cụ thể mạch triết luận, chỉ cần nói đến tình huống truyện, kiểu nhân vật và ngôn
ngữ nhân vật được cá tính hóa rất sâu sắc của Hoàng không thôi, cũng đủ cho ta thấy
luận đề đôi mắt được thể hiện theo lối triết luận triệt để như thế nào. Chưa có một
quan tâm thật cần thiết, sẽ đáng tiếc như thế nào.
________________________________________
Có thể thấy thêm ngôn ngữ nhân vật Hoàng ở khía cạnh giọng điệu. Một giọng
điệu kiêu bạc, bề trên, thậm chí có lúc trịch thượng, xách mé. Nhưng do tính chất của
bài viết này, đề cập thêm khía cạnh đó e rằng sẽ bề bộn.