Một số biện pháp thu hút & sử dụng ODA có hiệu quả trong ngành giao thông VT - Pdf 12

mục lục
Trang
mục lục

1
lời nói đầu

4
Chơng I Tổng quan về hỗ trợ phát triển chính thức
(ODA)

6
I. Vai trò của ODA
6
1. Các hình thức của ODA
6
2. Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu
7
3. Vai trò của ODA đối với quá trình phát triển kinh tế-xã hội
11
II. Các đặc điểm của ODA
15
1. Tỷ trọng ODA song phơng có xu thế tăng lên, ODA đa ph-
ơng có xu thế giảm đi
15
2. Sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút
ODA
15
3. Sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới
không đồng đều
16

II. Quá trình thu hút và sử dụng ODA tại Việt Nam trong
giai đoạn (1993-1999)
31
1. Tình hình cam kết (thu hút) ODA
31
2. Tình hình giải ngân (sử dụng) ODA
35
3. Cơ cấu thu hút và sử dụng ODA trong giai đoạn
(1993-1999)
38
III. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA tại trong ngành
giao thông vận tải Việt Nam giai đoạn (1993-1999)
46
1. Quá trình thu hút và sử dụng ODA trong ngành giao
thông vận tải
46
2. Nguồn vốn ODA cho ngành giao thông vận tải
50
IV. Đánh giá chung về quá trình thu hút và sử dụng ODA
trong ngành giao thông vận tải Việt Nam
58
1. Những thành tựu đạt đợc
58
2. Những mặt hạn chế
62
Chơng III Phơng hớng và biện pháp thu hút và sử dụng ODA có
hiệu quả trong ngành giao thông vận tải Việt Nam
65
I. Phơng hớng thu hút và sử dụng ODA trong ngành giao
thông vận tải, giai đoạn 2000-2010

Tµi liÖu tham kh¶o
95
Phô lôc
Lời nói đầu
Công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam đã qua một chặng đờng hơn
10 năm. Nền kinh tế đã thu đợc những kết quả đáng khả quan nh tốc độ tăng
trởng nhanh, lạm phát ở mức có thể kiểm soát đợc, nhng để duy trì tốc độ
tăng trởng nh vậy thì nhu cầu về vốn đầu t là rất lớn. Trong khi đó, nền kinh
tế nớc ta lại có xuất phát điểm thấp, nghèo nàn, lạc hậu nên nguồn vốn trong
nớc không thể đáp ứng hết nhu cầu về vốn đầu t đó. Vì vậy, nguồn vốn đầu t
nớc ngoài nói chung và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) nói
riêng là rất quan trọng.
Trong những năm qua, kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng mở
cửa với việc mở rộng quan hệ hợp tác với nhiều nớc trên thế giới, chính sách
kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói chung, chính sách khuyến khích đầu t n-
ớc ngoài nói riêng đã góp phần đáng kể vào việc đạt đợc những thành tựu
kinh tế xã hội của đất nớc. Trong đó phải kể đến việc nớc ta nhận đợc ODA
từ rất nhiều nguồn với quy mô ngày càng lớn phục vụ cho công cuộc cải cách
kinh tế xã hội. Thực tế đã chứng minh rằng, ODA có vai trò quan trọng trong
quá trình nâng cấp và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam, đặc
biệt là cơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận tải.
Để có thể thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn ODA trong phát triển
giao thông vận tải cần có những biện pháp cụ thể và toàn diện. Với những lý
do trên, dới sự hớng dẫn tận tình của , Bộ Kế hoạch- Đầu t, em đã đi sâu
nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả
trong Ngành giao thông vận tải Việt Nam làm luận văn tốt nghiệp. Trong
khuôn khổ bản luận văn này chỉ đề cập đến tình hình thu hút và sử dụng
ODA nhằm phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải. Những nhận định đó
dựa trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm thu hút và sử dụng ODA có hiệu quả cho ngành giao thông vận tải

Hỗ trợ phát triển chính thức đợc hình thành và phát triển xuất phát từ
sự thoả thuận của các nớc công nghiệp phát triển sau đại chiến thế giới lần
thứ hai về sự hỗ trợ dới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều
kiện u đãi cho các nớc đang phát triển bằng kế hoạch Marshall của Mỹ cung
cấp viện trợ cho Tây Âu. Tiếp đó là các hội nghị CôlômBô (năm 1955) hình
thành những ý tởng và nguyên tắc đầu tiên về hợp tác phát triển (OECD)
(năm 1961) và Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC), các nhà tài trợ đã tập hợp lại
thành cộng đồng nhằm phối hợp các hoạt động chung về hỗ trợ phát triển
theo Nghị quyết của Liên Hợp Quốc, các nớc giàu cần trích 0,7% tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) của mình để thực hiện nghĩa vụ đối với các nớc nghèo.
1.2. Các hình thức của ODA
Hỗ trợ cán cân thanh toán: thờng là tài trợ trực tiếp (chuyển giao tiền
tệ). Nhng đôi khi lại là hiện vật (hỗ trợ hàng hoá) nh hỗ trợ nhập khẩu bằng
hàng hoặc vận chuyển hàng hoá vào trong nớc qua hình thức hỗ trợ cán cân
thanh toán hoặc có thể đợc chuyển hoá thành hỗ trợ ngân sách.
Tín dụng thơng mại: Với các điều khoản mềm (lãi suất thấp, hạn trả
dài...) trên thực tế là một dạng hỗ trợ hàng hoá có ràng buộc.
Viện trợ chơng trình (gọi tắt là viện trợ phi dự án): là viện trợ khi đạt
đợc một Hiệp định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lợng ODA
cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định, mà không phải xác định
một cách chnh xác nó sẽ đợc sử dụng nh thế nào.
Hỗ trợ cơ bản chủ yếu là về xây dựng cơ sở hạ tầng (đờng xá, cầu
cống, đê đập, trờng học, bệnh viện, hệ thống viễn thông...) Thông thờng, các
dự án này có kèm theo một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dới dạng thuê
chuyên gia nớc ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó, hoặc để
soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho đối tác viện trợ.
Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng
cờng cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản, nghiên cứu tr-
ớc khi đầu t. Chuyển giao tri thức có thể là chuyển giao công nghệ nh thờng
lệ, nhng quan trọng hơn là đào tạo về kỹ thuật, phân tích kinh tế, quản lý,

viện trợ phát triển song chỉ là thực nghiệm, thí điểm, phần t vấn, đào tạo th-
ờng chiếm tỷ lệ cao so với phần thiết bị.
Liên Hợp Quốc cấp vốn cho các tổ chức này hoạt động. Ngoài ra, các
tổ chức này cũng vận động các nớc công nghiệp phát triển tài trợ thêm vốn
cho các chơng trình hoạt động cụ thể của mình
- Các tổ chức tài chính quốc tế: là các cơ quan hợp tác phát triển thông
qua phơng thức tài trợ tín dụng u đãi. Các tổ chức tài chính quốc tế chính
thức có quan hệ tài trợ cho Việt Nam gồm:
+ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Nhóm ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB)
- Liên minh Châu Âu (EU): Là tổ chức có tính chất kinh tế-xã hội
của 15 nớc công nghiệp phát triển ở Châu Âu (chủ yếu là Tây-Bắc Âu). EU
có quỹ lớn, song chủ yếu dành u tiên cho các thuộc địa cũ ở Châu Phi,
Caribê, Nam Thái Bình Dơng, nay bắt đầu tập trung cho Đông Âu và mở
rộng quan hệ với một số nớc Đông Nam á (với Việt Nam từ tháng 11/1990).
- Các tổ chức phi Chính phủ (NGO). Trên thế giới có hàng trăm tổ
chức phi Chính phủ hoạt động theo các mục đích, tôn chỉ khác nhau (từ thiện
nhân đạo, y tế, thể thao, tôn giáo...) Quỹ của các NGO thờng nhỏ, chủ yếu
dựa vào nguồn quyên góp hoặc sự tài trợ của các Chính phủ.
Hiện nay có khoảng gần 150 NGO đã thiết lập quan hệ đối tác ở Việt
Nam, 20 NGO đã thành lập Văn phòng đại diện tại Việt Nam.
- Tổ chức các nớc xuất khẩu dầu mỏ (OPEC)
- Quỹ Cô oét
* Các nớc viện trợ song phơng:
- Các nớc thành viên Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (DAC) của Tổ chức Hợp
tác và Phát triển kinh tế (OECD) là những nớc công nghiệp phát triển, xuất
khẩu t bản: áo, Bỉ, Canađa, Đan mạch, Pháp, Đức, Ai len, Hà Lan, Na Uy,
Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Thuỵ Điển, Vơng Quốc Anh, Mỹ, úc, Niu-di-lân,
Nhật Bản, Phần Lan, Lucxămbua. Trong đó, ODA từ các nớc thành viên

phát triển dẫn đến năng suất lao động thấp. Năng suất lao động thấp dẫn đến
thu nhập bình quân đầu ngời (TNBQĐN) thấp dẫn đến tiết kiệm và đầu t
thấp. Tiết kiệm và đầu t thấp dẫn đến làm giảm tốc độ tích luỹ vốn. Vốn tích
luỹ thấp sẽ không đầu t vào đổi mới công nghệ nhằm tăng năng suất lao động
nên thu nhập đầu ngời thấp dẫn đến tiết kiệm và đầu t thấp dẫn đến tốc độ
tích luỹ vốn thấp...Đó là cái vòng luẩn quẩn , nếu Chính phủ các nớc này
không có một chính sách đúng đắn sẽ không thoát khỏi.
Điều quan trọng, trong chính sách của Chính phủ là cần có vốn để tăng
vốn đầu t, với khối lợng lớn thì nguồn vốn nớc ngoài hỗ trợ đóng vai trò rất
quan trọng. Đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) có đặc điểm là nguồn vốn phần
lớn là của t nhân, chỉ đầu t vào những lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao, thời
hạn thu hồi vốn ngắn nên không thể phù hợp để phát triển cơ sở hạ tầng kinh
tế - xã hội. Trong khi đó, ODA lại phù hợp do đặc điểm là nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức của Chính phủ nớc ngoài và các tổ chức quốc tế cho các
nớc đang phát triển là nguồn vốn cho phép sử dụng trong thời gian dài, với lãi
suất u đãi và chủ yếu dùng để đầu t vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã
hội.
Tính u việt của ODA với hình thức thu hút vốn từ nớc ngoài khác (dới
dạng đầu t trực tiếp, các khoản tín dụng nhập khẩu, đầu t cổ phiếu của ngời
nớc ngoài) là ở chỗ sự chuyển nhợng ODA mang tính chất trợ giúp. ODA là
hình thức tài trợ Chính thức của Chính phủ và các cơ quan chính thức của nớc
viện trợ. Để phân biệt giữa viện trợ và cho vay, các nớc quy định với nhau là
chỉ khi nào yếu tố cho không, nghĩa là bộ phận không phải hoàn lại chiếm từ
25% tổng viện trợ trở lên, thì khoản viện trợ đó gọi là ODA. Thời gian sử
dụng vốn dài, từ 20 đến 50 năm và gồm hai phần: thời kỳ ân hạn (miễn trả
lãi) từ 5 đến 10 năm: thời gian chịu lãi suất với lịch trả đa dạng: gồm nhiều
giai đoạn và những tỉ lệ trả nợ khác nhau ở từng giai đoạn.
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc kêu gọi các nớc phát triển dành GNP để
cung cấp ODA cho các nớc đang phát triển và chậm phát triển, bắt đầu từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai. Các nớc đang phát triển, chậm phát triển thiếu

nhận thấy ở chỗ, cơ sở hạ tầng của các nớc Đông á đợc cải thiện. Singapore,
Malaixia, Thailan...nhờ cơ sở hạ tầng phát triển mà có điều kiện thuận lợi
trong việc thu hút đầu t trực tiếp của nớc ngoài. ở một số nớc, điển hình nh
Philippin là nơi cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn họ đã đầu t ít hơn vào nớc
này.
Bên cạnh những mặt góp phần quan trọng trong công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội đối với các nớc đang phát triển thì ODA cũng có những hạn
chế nhất định.
Do ODA là sự chuyển giao một tỷ lệ nhất định GNP từ quốc gia phát
triển sang các nớc đang phát triển với những điều kiện tài chính mang tính u
đãi cao nên nó chứa đựng nội dung chính trị, xã hội. Nói cách khác, các quốc
gia viện trợ đều có mục đích riêng và có những ràng buộc nhất định áp đặt
cho nớc nhận viện trợ. Nh kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ sau chiến tranh thế
giới II, cung cấp viện trợ cho các nớc Tây Âu bại trận sau chiến tranh thế
giới II này. Để nhận đợc viện trợ, các nớc Tây Âu đã trở thành công cụ đắc
lực trong chính sách chống cộng của nhà cầm quyền Mỹ, gây nên cục diện
đối đầu Đông - Tây hàng thập kỷ. Cụ thể là để đợc nhận viện trợ, các nớc
Tây-Âu phải thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô và khối xã hội chủ
nghĩa nói chung. Họ cũng phải chấp nhận việc Mỹ xây dựng hàng trăm căn
cứ quân sự trên lãnh thổ của mình.
Các nớc viện trợ ngoài mong muốn ảnh hởng về chính trị, các nớc nói
chung đều cân nhắc đến lợi ích kinh tế của mình thu đợc khi bắt bên nhận
viện trợ của mình phải dùng hàng hoá tiêu dùng, dịch vụ và t vấn trong nớc
của nớc cung cấp. Bỉ, Đan Mạch, và Đức yêu cầu 50% số tiền viện trợ phải
dùng để mua hàng hoá, dịch vụ của nớc mình. Tỷ lệ này của Canađa cao nhất
với 65%. Tính trung bình toàn nhóm DAC, 22% viện trợ phải đợc sử dụng để
mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ.
Các nớc nhận viện trợ, ngoài những thiệt thòi kể trên còn bị buộc phải
thực hiện những cải cách kinh tế theo khuôn mẫu do phía nhà tài trợ đa ra.
Điển hình là WB và IMF chỉ viện trợ cho một số nớc đang phát triển khi nớc

tích cực triển khai hợp tác tiểu vùng, tiểu vùng sông Mê Kông mở, trên thực
tế là hợp tác phát triển toàn diện Đông Dơng nằm trong chiến lợc củng cố t
thế chính trị và vị trí kinh tế của Nhật Bản ở Châu á nói chung và ở khu vực
Đông Nam Châu á nói riêng. Cùng với xu thế đó thì kết cấu ODA phần cho
không giảm, phần cho vay tăng lên (nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu t)
2. Sự cạnh tranh ngày càng tăng trong quá trình thu hút ODA
Trên thế giới, một số nớc mới giành đợc độc lập hoặc mới tách ra từ
các nhà nớc liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA. Một số n-
ớc cộng hoà thuộc Nam T cũ và một số nớc Châu Phi bị tàn phá nặng nề
trong chiến tranh sắc tộc đang cần đến sự hỗ trợ quốc tế. ở Châu á, Trung
Quốc, các nớc Đông Dơng, Myanmar,... cũng đang cần đến nguồn ODA lớn
để xây dựng kinh tế, phát triển xã hội. Số nớc có nhu cầu tiếp nhận ODA là
rất lớn vì vậy sự cạnh tranh giữa các nớc ngày càng trở nên gay gắt. Các vấn
đề mà các nớc cung cấp ODA quan tâm đến tạo nên sự canh tranh giữa các
nớc tiếp nhận là năng lực kinh tế của quốc gia tiếp nhận, các triển vọng phát
triển, ngoài ra còn chịu nhiều tác động của các yếu tố khác nh: Nhãn quan
chính trị, quan điểm cộng đồng rộng rãi, dựa trên sự quan tâm nhân đạo và
hiểu biết về sự cần thiết đóng góp vào ổn định kinh tế -xã hội quốc tế. Cùng
mối quan hệ truyền thống với các nớc thế giới thứ ba của các nớc phát triển,
hay tầm quan trọng của các nớc đang phát triển với t cách là bạn hàng (thị tr-
ờng, nơi cung cấp nguyên liệu, lao động). Mặt khác, chính sách đối ngoại, an
ninh và lợi ích chiến lợc, trách nhiệm toàn cầu hay cá biệt... cũng là nhân tố
tạo nên xu hớng phân bổ ODA trên thế giới theo vùng. Ngoài ra còn có thêm
lý do đó là sự chuẩn bị đáp ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến
lợc viện trợ... khác nhau của các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự
chênh lệch trong quá trình thu hút và sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ
nguồn vốn này. Chính sự cạnh tranh gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong
tiếp nhận viện trợ của các nớc đang phát triển. Kể từ năm 1970, ODA chủ
yếu hớng vào Tiểu vùng Sahara và Trung Đông kể cả Ai Cập. Bên cạnh đó,
Trung Mỹ là vùng nhận đợc tỷ trọng viện trợ tăng lên chút ít, tỷ trọng này đã

vùng Sahara và Trung Mỹ, Nhật Bản tập trung vào Châu á (nhng cũng tăng
viện trợ vào Sahara); úc; Niu-di-lân tập trung chủ yếu vào Châu Đại Dơng và
Viễn Dơng.
Sử dụng ODA nh là một điều kiện để áp đặt dân chủ, nhân quyền
theo quan niệm của Phơng Tây cũng thờng hay gặp trong quan hệ hợp tác
phát triển với một số nớc. Một số tổ chức phi Chính phủ, nhất là những tổ
chức có tính tôn giáo, có trờng hợp lợi dụng viện trợ để thực hiện các hoạt
động không hợp pháp.
Về phân phối theo nhóm nớc, quá nửa số viện trợ từ các nớc DAC đợc
rót vào các nớc có thu nhập thấp. Các nớc chậm phát triển nhất đợc viện trợ
ngày càng tăng kể từ những năm 70. Trong đó, Nhật Bản, Anh, Thuỵ Sĩ và
các nớc Bắc Âu tập trung viện trợ chủ yếu cho các nớc có thu nhập thấp,
trong đó các nớc Bắc Âu tập trung vào các nớc chậm phát triển nhất. Khoảng
15% ODA của các thành viên DAC đợc đa vào các nớc có thu nhập trên
trung bình. Điều đó thể hiện ở chỗ phần lớn viện trợ của Mỹ dành cho Ixra-
en, của Pháp dành cho các lãnh thổ hải ngoại (Guy-an-na, Qua-đơ-lúp, Mác-
ti-níc, Rê-u-nuy-ông),...
Các nớc nhận đợc ODA nhiều nhất từ năm 1988 đến năm 1991:
ở Châu âu, Thổ Nhĩ Kỳ đợc nhận tới 1 tỷ USD trong năm 1991, năm
1994 vẫn còn nhận 200 triệu USD. Đợc nhận ODA tăng vọt trong năm 1991
là An-ba-ni (303 triệu USD), và các nớc thuộc Nam T cũ trong ba năm
(1992-1994) đợc cung cấp 5,5 tỷ USD.
Châu Phi: Ai Cập là nớc nhận đợc ODA với khối lợng lớn từ nhiều
năm nay: Năm 1991 nớc này nhận đợc 5.025 triệu, sau đó giảm dần và năm
1994 vẫn nhận đợc 2.695 triệu USD. Tiếp theo là Tam-đa-ni-a, Mô-dăm-
bích, ... tiếp sau nữa là Ma rốc, Cơ-ma-run, ...
Châu Mỹ: Ni-ca-ra-goa và Bô-li-via là những nớc nhận đợc ODA
nhiều nhất, 500-800 triệu USD mỗi năm, tiếp theo là Mê-hi-cô, Pê-ru, ác-
hen-ti-na,... bình quân 300-500 triệu USD mỗi năm.
Trung Đông: Ixra-en mỗi năm nhận đợc trên 1 tỷ USD viện trợ, năm

Vê-nê-zu-ê-la,...) cũng giảm cung cấp ODA của họ từ 708 triệu USD năm
1980 xuống còn khoảng 440 triệu USD năm 1991, 484 triệu USD năm 1992,
8 triệu USD năm 1993 và 413 triệu USD năm 1994. Tính chung, nguồn ODA
từ các nớc không phải thành viên DAC đã giảm liên tục từ 6038 triệu USD
năm 1990 xuống còn 1387 triệu USD năm 1994 (nguồn: Bộ Kế hoạch- Đầu
t).
Cùng với sự suy giảm của các nớc không phải thành viên của DAC thì
ODA từ các nớc là thành viên của DAC cũng có những chiều hớng suy giảm.
Mặc dù, Nhật và Pháp trong những năm 80 đóng góp chiếm nửa số viện trợ
tăng lên. Đồng thời một nửa số nớc thành viên khác của DAC cũng tăng mức
viện trợ của họ 3,5% mỗi năm (Phần Lan, ý, Na uy, Canađa,...), nhng thì một
số nớc khác trong thời gian gần đây gặp rất nhiều khó khăn trong nền kinh
tế ,họ đã thực hiện chính sách thắt chặt tài chính nên việc cung cấp ODA của
các nớc này có phần suy giảm.
Ngoài ra, ở các nớc phát triển, kinh tế tăng bình quân 6%/ năm trong
các năm 1991-1994 (4%/năm trong thập kỷ 80). Đời sống nhân dân đang đợc
cải thiện rõ rệt. Do sự phục hồi kinh tế ở các nớc phát triển, nguồn vốn
chuyển dịch vào các nớc đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm
tới, ODA là một khoản vốn mà các nớc phát triển hỗ trợ cho các nớc đang
phát triển nó đợc thực hiện từ rất lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những
xu thế vận động riêng, nhìn chung lại, xu hớng vận động hiện nay hàm chứa
cả các yếu tố thuận lợi lẫn khó khăn cho một số nớc đang phát triển nh nớc ta
đang tìm kiếm nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, tuy nhiên các yếu tố thuận
lợi là cơ bản. Xét trên phạm vi quốc tế, ODA có thể huy động đợc lại tuỳ
thuộc vào chính sách đối ngoại khôn khéo và khả năng hấp thụ vôns nớc
ngoài của chính nền kinh tế nớc đó. Qua đó ta có thể thấy rõ đợc những đặc
điểm riêng biệt của ODA so với các nguồn vốn khác.
III. Quy trình thực hiện dự án ODA
Mỗi quốc gia có những quy định riêng đối với các cách quản lý và
điều hành nguồn vốn này .Dới đây là một số nội dung về quy định của phát

tiến hành thẩm định, trình Thủ tớng Chính phủ quyết định. Trong quá trình
thẩm định có đề cập tới ý kiến tham gia của các bên cung cấp ODA.
- Các dự án của các tổ chức phi Chính phủ thực hiện theo Quyết định
số 80/CT ngày 28/3/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng (nay là Thủ tớng
Chính phủ).
5. Đàm phán ký kết
Sau khi nội dung đàm phán với Bên nớc ngoài đợc Thủ Tớng Chính
phủ phê duyệt, Bộ Kế hoạch- Đầu t chủ trì với sự tham gia của Văn phòng
Chính Phủ, Bộ Tài Chính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và
các cơ quan liên quan tiến hành đàm phán với Bên nớc ngoài.
Trong trờng hợp Thủ tớng Chính phủ chỉ định một cơ quan khác chủ
trì đàm phán với các Bên nớc ngoài thì cơ quan này phải thống nhất ý kiến
với Bộ Kế hoạch-Đầu t về nội dung đàm phán và với Bộ Tài Chính về hạn
mức và điều kiện vay trả (nếu là ODA hoàn lại).
Kết thúc đàm phán, nếu đạt đợc các thoả thuận với Bên nớc ngoài thì
cơ quan chủ trì đàm phán phải báo cáo Thủ tớng Chính Phủ về nội dung làm
việc, kết quả đàm phán và những ý kiến đề xuất có liên quan.
Nếu văn bản ODA ký với bên nớc ngoài là Nghị định th, Hiệp định
hoặc văn kiện khác về ODA cấp Chính phủ thì cơ quan đợc Thủ tớng Chính
phủ chỉ định đàm phán phải báo cáo Thủ tớng Chính phủ nội dung văn bản
dự định kí kết và đề xuất ngời thay mặt Chính phủ kí các văn bản đó. Văn
bản trình Thủ tớng Chính phủ phải kèm theo ý kiến chính thức bằng văn bản
của Bộ Kế hoạch và Đầu t (trờng hợp cơ quan khác trình Thủ tớng Chính
phủ), Bộ Ngoại giao, Bộ T pháp, Bộ Tài chính.
Trong trờng hợp Nghị định th và Hiệp định hoặc các văn bản khác về
ODA yêu cầu phải ký kết với danh nghĩa Nhà Nớc Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, Bộ Kế hoạch-Đầu t (hoặc cơ quan khác với Chính phủ chỉ
định đàm phán) phải báo cáo với văn phòng Chủ tịch nớc ngay từ khi bắt đầu
đàm phán với bên nớc ngoài về nội dung các văn kiện dự định kí kết, đồng
thời thực hiện các thủ tục Quy định tại điều 6 khoản 3, điều 7 và điều 8 của

ơng và các chủ chơng trình, dự án lập báo các 6 tháng và hàng năm về tình
hình thực hiện các chơng trình và dự án ODA gửi về Bộ Kế hoạch- Đầu t, Bộ
Tài chính, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam, Bộ ngoại giao, và Văn phòng Chính
Phủ.
7. Đánh giá
Sau khi kết thúc, giám đốc chơng trình, dự án ODA phải làm báo cáo
về tình hình thực hiện và có phân tích, đánh giá hiệu quả dự án với sự xác
nhận của cơ quan chủ quản và gửi về Bộ Kế hoạch-Đầu t, Bộ Tài chính, Ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam, Bộ ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ.
ch ơng Ii
thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong
ngành giao thông vận tải Việt Nam
giai đoạn 1993 - 1999
I. Vai trò của sự phát triển giao thông vận tải trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội
1. Hiện trạng hệ thống giao thông vận tải của Việt Nam
Cùng với sự u tiên phát triển ngành giao thông vận tải của Chính phủ
bằng nguồn Ngân sách trong nớc, vừa qua các tổ chức tài chính quốc tế, các
Chính phủ nớc ngoài, các tổ chức phi Chính phủ với nhiều hình thức đã tài trợ
cho việc đầu t khôi phục và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nớc ta.
Nhiều tuyến đờng bộ, đờng sông, đờng sắt, nhiều bến cảng đã đang và sẽ đợc
cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới.
Hỗ trợ phát triển chính thức đóng vai trò rất quan trọng trong chơng
trình đầu t cho giao thông vận tải, làm nền tảng cho sự phát triển các hoạt
động kinh tế trong những năm gần đây của Việt Nam.
Trong thời kỳ 1986-1990, tỷ trọng ODA dành cho lĩnh vực này không
lớn chủ yếu tập trung cho một số chơng trình trọng điểm nh Cầu Thăng
Long, cải tạo cảng Hải Phòng, trạm Vệ tinh mặt đất Hoa Sen, hệ thống Cáp
đồng trục ở một số địa phơng.
Bớc vào thời kỳ (1991-1995), nhất là từ năm 1993 nớc ta có điều kiện

đến đờng xe lửa, sân bay, đờng biển để nâng cấp lên khi chúng đang trong
tình trạng rất xấu, cần đầu t hợp lý và cân đối trong kết cấu mạng lới giao
thông.
- Đờng bộ: Việt Nam có chiều dài mạng lới đờng bộ tơng đối lớn, trên
200.000 km năm 1997, đến nay có 210.006 km, kết cấu của đờng bộ gồm:
Quốc lộ, tỉnh lộ, đờng giao thông nông thôn, đờng đô thị.
Trong hệ thống đờng quốc lộ chỉ có 60,6% đờng đợc trải mặt bằng bê
tông nhựa. Còn lại là các đờng loại xấu. ở các vùng sâu, vùng nông thôn khi
nhu cầu vận tải vẫn còn thấp thì rất nhiều đờng quốc lộ cha đợc trải nhựa, chỉ
có 26,6% đờng tỉnh lộ và 9,9% đờng huyện lộ đợc trải mặt.
Mạng lới đờng quốc lộ đợc trải mặt nhng chiều rộng nhỏ (7 m) vẫn ch-
a đủ rộng trong trờng hợp các xe tải và xe khách cùng các loại xe thô sơ khác
đi cùng. Hầu hết các đờng quốc lộ đều có hai làn xe, một số ít đờng quốc lộ ở
khu đô thị và đợc phân cấp thành đờng đô thị, hoặc quốc lộ quan trọng có 4
làn xe nh quốc lộ I, 5 và 51.
Các quốc lộ ở trong tình trạng tốt chỉ có chủ yếu ở tuyến đờng quốc lộ
khu vực vành đai thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tình trạng đờng bộ các
vùng đồi núi phần lớn còn rất xấu.
- Đờng sắt: đợc phát triển cũng rất lâu, nó có khả năng đáp ứng nhu
cầu vận chuyển rất cao, nhng trong thời gian vừa qua thiếu sự quan tâm đúng
mức của Chính phủ nên hệ thống giao thông đờng sắt xuống cấp nghiêm
trọng. Với điều kiện vận chuyển còn rất thấp kém: gồm 7 tuyến chính,
khoảng 2600 km đờng ray. Tất cả là đờng đơn, không có đờng đôi. Trong
mạng lới đờng sắt, riêng tuyến Hà Nội-Sài Gòn đã chiếm 2/3 tổng số. Mạng
lới đờng sắt bao phủ 31 tỉnh thành phố trên tổng số 61 tỉnh thành. Mật độ
mạng lới đờng sắt hầu nh rất hiếm ở miền Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Mê
Kông.
Hiện nay, các công trình đờng sắt rất lạc hậu, không đợc duy tu bảo d-
ỡng và khôi phục cơ sở hạ tầng, nhiều công trình bị h hỏng. Do đó, mất khả
năng cạnh tranh với các hệ thống vận tải khác, nhng nó vẫn giữ vai trò quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status