Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Cạn - Pdf 12

Khóa luận tốt nghiệp
Lời cam đoan
Tên em là: Cao Thị Như Trang, sinh viên lớp Tài Chính Doanh Nghiệp
46B, Khoa Ngân Hàng – Tài Chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân.
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân Hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn” là do tôi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Trần Thị Thanh Tú – Giảng viên khoa
Ngân hàng – Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân cùng với sự giúp đỡ
của phòng Giao dịch khách hàng – Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn.
Trong quá trình thực hiện khóa luận, em đã tiến hành tìm hiểu và nghiên
cứu thông qua một số nguồn tư liệu từ các giáo trình, tài liệu đã xuất bản hoặc
các báo cáo do cơ quan thực tập cung cấp. Đây là nguồn tư liệu đảm bảo sự
chính xác và hết sức đáng tin cậy. Tôi cam đoan khóa luận này hoàn toàn là kết
quả nghiên cứu nghiêm túc của em, không sao chép ở bất kỳ nguồn tài liệu nào.
Nếu có gì sai phạm em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2008
Sinh viên
Cao Thị Như Trang
Khóa luận tốt nghiệp
Mục lục
Khóa luận tốt nghiệp
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
Khóa luận tốt nghiệp
Danh mục các từ viết tắt
Ký hiệu Chữ viết tắt
NHTM
NHNN
NH
TTKDTM
UNC
UNT

Phát triển Bắc Kạn”, do kinh tế Bắc Kạn còn kém phát triển nên việc thanh
toán không dùng tiền mặt cũng chỉ thực hiện trong phạm vi quốc gia, nên đề tài
của em chỉ nghiên cứu về thanh toán không dùng tiền mặt trong nước.
Mục đích của việc nghiên cứu công tác thanh toán không dùng tiền mặt là
phân tích các vấn đề có liên quan tới thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó rút
ra dược những mặt làm được và những mặt chưa thực hiện được của công tác
này và đề xuất những giải pháp nhằm giúp phát triển và hoàn thiện công tác
thanh toán này tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn.
Bài viết này em sử dụng phương pháp phân tích, so sánh số liệu công tác
thanh toán của chi nhánh trong năm 2005, 2006 và 2007.
1
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận thì gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua
Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn
Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển thanh toán không dùng
tiền mặt tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn
2
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1: Tổng quan về hoạt động thanh toán
không dùng tiền mặt qua Ngân hàng Thương mại
1.1. Khái quát về thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTM
1.1.1. Những vấn đề cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ thanh toán chi trả lẫn nhau phải
dùng hình thức tiền tệ, vì vậy, thanh toán tiền tệ là một yêu cầu khách quan, là
điều cần thiết phục cho quá trình tái sản xuất xã hội. Thanh toán tiền tệ được
thực hiện dưới hai hình thức là thanh toán bằng tiền mặt và thanh toán không
dùng tiền mặt. Thanh toán bằng tiền mặt là việc chi trả trực tiếp bằng tiền mặt

khoản tiền gửi tại Ngân hàng được gọi chung là chủ tài khoản. Nếu như trong
thanh toán sử dụng tiền mặt thì chỉ có sự tham gia của người mua và người bán
thì trong phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thì chủ thể tham gia còn
bao gồm cả Ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác cung ứng dịch vụ thanh
toán.
1.1.2. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt
NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ nhằm mục tiêu cơ bản là lợi
nhuận, vì vậy, nên mạng lưới Ngân hàng rộng khắp để đáp ứng nhu cầu tiền tệ
- tín dụng và thanh toán của nền kinh tế hàng hoá phát triển rộng khắp quốc gia
và vươn ra thế giới. Nhìn lại lịch sử hình thành ban đầu của Ngân hàng, chúng
ta thấy dịch vụ ban đầu của Ngân hàng mà cung cấp là dịch vụ quản lý vốn cho
khách hàng, bên cạnh đó Ngân hàng còn đảm bảo thanh toán nhanh chóng,
chính xác, an toàn thuận tiện cho khách hàng, do đó tạo được sự tín nhiệm cho
khách hàng, và Ngân hàng đã thu hút được nguồn vốn quan trọng nhất cho hoạt
động của mình. Ngân hàng là trung gian thanh toán cho khách hàng làm cho
quá trình lưu thông hàng hóa được tiến hành một cách có hiệu quả. Nền kinh tế
ngày càng phát triển thì tần số giao dịch ngày càng tăng và diễn ra nhanh; khối
lượng tiền tệ ngày càng nhiều, phạm vi đã mở rộng ra tận thế giới. Trong điều
kiện đó các doanh nghiệp không thể thanh toán trực tiếp với nhau mà cần có sự
tham giam của Ngân hàng, chính vì vậy Ngân hàng trở thành trung gian thanh
toán trong nền kinh tế.
Tiền mặt là phương tiện thanh toán không thể thiếu, song ngày nay thanh
toán dùng tiền mặt không còn là hình thức thanh toán tối ưu trong các giao dịch
thương mại dịch vụ nữa, đặc biệt là các giao dịch có giá trị và khối lượng lớn,
4
Khóa luận tốt nghiệp
trước đây trong nền sản xuất hàng hoá còn nhỏ lẻ, khối lượng hàng hoá ít thì
việc thanh toán sử dụng tiền mặt là rất thuận tiện, nhưng trong nền kinh tế thị
trường hiện nay sản xuất hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khối lượng hàng
hoá vô cùng lớn, việc trao đổi hàng hoá đa dạng và trên diện rộng, các hoạt

tiền mặt là tất yếu.
1.1.3. Vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
TTKDTM được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, trong hệ thống
này thì Ngân hàng là một trung tâm thanh toán. Mọi hoạt động trao đổi về hàng
hóa và dịch vụ đều được kết thúc bằng thanh toán, quan hệ thanh toán liên quan
đến mọi hoạt động trong xã hội, vì vậy, việc tổ chức tốt công tác thanh toán đặc
biệt là TTKDTM có ý nghĩa kinh tế rất lớn, ý nghĩa này được thể hiện qua các
mặt sau:
TTKDTM góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển.
Ta biết rằng thanh toán vừa là khâu mở đầu và cũng là khâu kết thúc của một
chu kỳ sản xuất kinh doanh, do vậy nếu tổ chức tốt công tác thanh toán sẽ góp
phần tăng nhanh sự vận động của vật tư, tiền vốn giúp cho các doanh nghiệp
thu hồi được vốn nhanh để phục vụ cho chu kỳ sản xuất sau, cũng tức là phục
vụ cho quá trình tái sản xuất không ngừng phát triển. Nhờ công tác thanh toán
không dùng tiền mặt mà các khách hàng ở xa vẫn có thể thanh toán tiền hàng
hoá dịch vụ nhanh chóng thay vì phải mất nhiều thời gian để vận chuyển tiền
mặt, có thể nói thanh toán không dùng tiền mặt đã rút nhanh vòng quay vốn của
khách hàng.
Thúc đẩy hoạt động thanh toán trong nền kinh tế với những ưu điểm như:
an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí. Phương thức thanh toán
không dùng tiền mặt ra đời đã làm giảm được chi phí in ấn, bảo quản, vận
chuyển.
Thông qua công tác thanh toán không dùng tiền mặt, Ngân hàng có thể
biết được phần nào hoạt động thanh toán của khách hàng từ đó tổng hợp số liệu
để biết được hoạt động thanh toán vốn chung cho cả nền kinh tế. Thông qua
tình hình biến động số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng,
Ngân hàng sẽ thu thập được những thông tin cần thiết về tình hình kinh tế - tài
chính của khách hàng như thông tin về dòng lưu chuyển tiền tệ, doanh thu….
Từ đó, Ngân hàng gián tiếp đánh giá được tình hình kinh doanh, tình hình tài
6

độ của ngành Ngân hàng, nó phản ánh khá trung thực trình độ quản lý, trình độ
kỹ thuật nghiệp vụ của Ngân hàng, cũng như sự tín nhiệm của khách hàng.
7
Khóa luận tốt nghiệp
Trong nội bộ một Ngân hàng, TTKDTM không chỉ tác động đến nghiệp vụ
thanh toán mà còn tác động đến các nghiệp vụ khác của Ngân hàng như nghiệp
vụ tín dụng, nếu làm tốt công tác TTKDTM thì sẽ thúc đẩy nghiệp vụ tín dụng
phát triển và ngược lại. Đi đôi với sự phát triển kỹ thuật tin học, ngày nay Ngân
hàng hiện đại cũng chyển hướng kinh doanh bằng cách mở rộng các dịch vụ tín
dụng, chứ không chỉ là kinh doanh chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay là
chủ yếu trước đây, trong đó dịch vụ thanh toán đóng vai trò trung tâm và đặc
biệt quan trọng.
1.1.4. Điều kiện để khách hàng tham gia vào thanh toán không dùng tiền
mặt
Khi tham gia vào thanh toán không dùng tiền mặt thì mọi khách hàng đều
phải thực hiện đầy đủ, nghiêm chỉnh các quy định của Ngân hàng về các thủ
tục giao dịch, các giấy tờ thanh toán. Ngân hàng sẽ cung cấp các mẫu giấy tờ
cần thiết theo nhu cầu của khách hàng để họ có thể tham gia vào phương thức
thanh toán này. Đối với các chứng từ này thì cần được viết theo các mẫu có sẵn
của Ngân hàng và phải được ghi rõ ràng, chính xác, không được tẩy xoá, viết
bằng mực không phai….
Đối với các khách hàng thường xuyên tham gia thanh toán qua Ngân hàng
thì phải có tài khoản tại Ngân hàng và phải có số dư đủ để đảm bảo thanh toán
và đảm bảo duy trì tài khoản.
1.1.4.1. Mở và sử dụng tài khoản thanh toán
Các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán (sau
đây gọi chung là khách hàng) có quyền lựa chọn Ngân hàng làm dịch vụ thanh
toán để mở tài khoản. Khi quyết định mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại các
Ngân hàng, khách hàng thường quan tâm đến các yếu tố sau:
• Thuận tiện trong giao dịch, tốc độ nhanh

giao dịch với NH buộc phải là chữ ký của chủ tài khoản.
Sau khi chấp nhận mở tài khoản cho khách hàng thì NH thông báo cho
khách hàng biết số hiệu tài khoản, ngày bắt đầu hoạt động của tài khoản.
9
Khóa luận tốt nghiệp
b, Sử dụng tài khoản thanh toán
- Chủ tài khoản phải đảm bảo có đủ tiền trên tài khoản thanh toán tại thời
điểm giao dịch thanh toán phải được thực hiện, Chịu trách nhiệm về việc chi
trả vượt quá số dư Có trên tài khoản. Trừ trường hợp NH cho phép thấu chi.
Ngân hàng là tổ chức tín dụng có nhận thanh toán phải duy trì trên tài khoản
tiền gửi tại NHNN số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc do
NHNN quy định.
- Chủ tài khoản được toàn quyền sử dụng số dư tài khoản tiền gửi tại NH
thông qua các lệnh thanh toán phù hợp với quy định của Ngân hàng Trung
Ương. Chịu trách nhiệm về những sai sót hay hành vi lợi dụng, lừa đảo khi sử
dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản do lỗi của mình.
- Được hưởng lãi suất cho số tiền gửi trên tài khoản theo mức lãi suất do
NH quy định tùy theo đặc điểm của chủ tài khoản, số dư tài khoản và phù hợp
với quy chế quản lý lãi suất của NHNN ban hành trong từng thời kỳ.
- Được yêu cầu NH cung cấp các thông tin về những giao dịch và số dư
trên tài khoản của mình.
- Tuân thủ các hướng dẫn của NH nơi mở tài khoản về việc lập các lệnh
thanh toán và sử dụng các phương tiện thanh toán, thực hiện giao dịch thanh
toán qua tài khoản: sử dụng, luân chuyển, lưu trữ chứng từ giao dịch, đảm bảo
các biện pháp an toàn trong thanh toán do NH quy định.
- Chủ tài khoản được uỷ quyền cho người khác bằng văn bản sử dụng tài
khoản theo quy định của pháp luật. Người được uỷ quyền có quyền hạn và
nghĩa vụ như chủ tài khoản trong phạm vi được uỷ quyền và không được uỷ
quyền lại cho người thứ ba.
- Không được cho thuê, cho mượn hoặc sử dụng tài khoản của mình cho

phát sinh trong quá trình quản lý tài khoản và cung ứng dịch vụ
thanh toán theo quy định.
• Các nghĩa vụ thanh toán theo quyết định của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền buộc chủ tài khoản phải thanh toán.
• Các trường hợp khác theo thỏa thuận giữa NH và khách hàng.
11
Khóa luận tốt nghiệp
NH có trách nhiệm phát hiện và điều chỉnh kịp thời các tài khoản mở sai
hoặc sử dụng chưa chính xác. NH phải thực hiện đầy đủ, kịp thời các lệnh
thanh toán, các yêu cầu sử dụng tài khoản của khách hàng phù hợp với hoặc
thỏa thuận giữa NH và khách hàng. Kiểm soát các lệnh thanh toán của khách
hàng, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, hợp pháp, hợp lệ, và khớp với đúng
các yếu tố đã đăng ký; cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại dịch vụ, phương tiện
thanh toán cần thiết phục vụ nhu cầu giao dịch của khách hàng qua Ngân hàng.
Thực hiện hạch toán theo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở các
chứng từ kế toán hợp lệ, hợp pháp nhận được. Điều chỉnh các khoản mục bị
hạch toán sai, hạch toán không đúng bản chất hoặc không phù hợp với nội dung
sử dụng của tài khoản theo quy định.
Quyền và nghĩa vụ của khách hàng
Khách hàng có quyền yêu cầu ngân hàng phục vụ cung cấp thông tin về
số dư tài khoản và các giao dịch thanh toán của chủ tài khoản. Khiếu nại và đòi
bồi thường thiệt hại do ngân hàng vi phạm các thoả thuận khi thực hiện dịch vụ
thanh toán (thanh toán chậm, hoặc thanh toán không đúng số tiền, hoặc thu phí
thanh toán không đúng theo quy định). Ngân hàng có trách nhiệm bồi thường
thiệt hại cho khách hàng theo mức phạt chậm trả tối đa bằng mức lãi suất quá
hạn của loại cho vay cao nhất mà Ngân hàng đang áp dụng. Số tiền phạt được
tính như sau:
Số tiền phạt = Số tiền tính phạt x Số ngày phạt x Lãi suất nợ quá hạn
Nếu thanh toán chậm, số ngày phạt tính từ thời điểm kết thúc thời hạn
quy định cho hình thức thanh toán đến ngày tài khoản của khách hàng sử dụng

ký phát Séc; khách hàng có nhu cầu sử dụng Séc lần đầu hoặc khách hàng đã
được cung ứng Séc của Ngân hàng nhưng có số lượng tờ Séc chưa thanh toán ít
hơn 10 tờ/ 01 tài khoản tiền gửi thanh toán.
Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ nộp thuế, trả nợ….
hoặc rút tiền tại các chi nhánh Ngân hàng. Trong hình thức thanh toán bằng
séc, việc trả tiền do người trả tiền khởi sướng và kết thúc bằng việc ghi số tiền
trên tờ séc vào tài khoản của người nhận tiền.
Thời hạn xuất trình của tờ séc là trong vòng 30 ngày kể từ ngày ký phát
và thời gian thanh toán séc là 6 tháng kể từ ngày ký phát séc. Nếu ngày kết thúc
của thời hạn là ngày chủ nhật hoặc ngày lễ tết thì thời hạn được lùi vào ngày
làm việc tiếp theo sau ngày chủ nhật hoặc lễ tết đó.
13
Khóa luận tốt nghiệp
Quy định cho sử dụng séc: tờ séc cần phải điền đầy đủ các yếu tố, viết
bằng mực không phai, không tẩy xoá, sửa chữa, chữ ký của chủ tài khoản phải
giống chữ ký đã đăng ký với Ngân hàng; Chủ tài khoản không được ký khống
trên tờ séc; Chủ tài khoản không được phép ký phát séc quá số dư, nếu vi phạm
: lần 1 thì Ngân hàng sẽ nhắc nhở, lần 2 Ngân hàng sẽ thu hồi số séc chưa ký
phát, bị phạt tiền, đình chỉ ký phát séc trong 6 tháng, lần 3 sẽ bị thu hồi séc,
phạt tiền và bị đình chỉ ký phát séc vĩnh viễn.
Séc gồm 2 phần: mặt trước và mặt sau. Ở mặt trước của tờ Séc bao gồm
các yếu tố:
• Chữ "Séc" được in phía trên tờ Séc
• Số Séc
• Người thụ hưởng
• Số tiền xác định, được ghi bằng cả chữ và số
• Tên của người thanh toán
• Địa điểm thanh toán
• Ngày ký phát
• Chữ ký (có ghi rõ họ tên) của người ký phát

a, Khái niệm
Séc chuyển khoản là tờ séc do chủ tài khoản ký phát hành và trực tiếp
giao cho người thụ hưởng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, nhưng
khả năng thanh toán của nó phụ thuộc vào số dư trên tài khoản thanh toán tiền
gửi của người ký phát.
Khi phát hành séc chuyển khoản, chủ tài khoản phải gạch 2 đường song
song chéo góc hoặc viết hay đóng dấu từ “chuyển khoản” ở góc phía trên bên
trái mặt trước tờ séc trước khi giao cho người thụ hưởng.
Séc chuyển khoản chỉ được sử dụng trong thanh toán chuyển khoản giữa
các khách hàng mở tài khoản tại một Ngân hàng hoặc hai Ngân hàng nhưng
phải cùng tham gia thanh toán bù trừ. Về nguyên tắc thì thanh toán séc chuyển
khoản phải được thanh toán dựa trên cơ sở số dư tài khoản tiền gửi hiện có tại
ngân hàng, trong trường hợp nếu có nhiều tờ séc cùng nộp vào Ngân hàng tại
một thời điểm nhưng số dư tài khoản không đủ để thanh toán tất cả những tờ
séc thì Ngân hàng phải ưu tiên thanh toán theo thứ tự các tờ séc phát hành
trước sẽ được thanh toán trước. Nếu tài khoản tiền gửi không đủ tiền để thanh
15
Khóa luận tốt nghiệp
toán (séc phát hành quá số dư tài khoản tiền gửi) séc sẽ bị Ngân hàng từ chối
thanh toán, chủ tài khoản phải chịu trách nhiệm thanh toán tờ séc đó và những
khoản tiền phạt chi phí phát sinh liên quan đến việc khiếu nại và khởi kiện (nếu
có).
b, Quy trình thanh toán séc chuyển khoản
- Trường hợp khách hàng mở tài khoản cùng Ngân hàng
Sơ đồ 1.2.1.3.1.1: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc
chuyển khoản giữa 2 khách hàng cùng chi nhánh.
(2)
(1)
(4) (5) (3)
(1) Đơn vị bán cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho bên mua theo hợp đồng ký

khuyết điểm sau:
Ưu điểm của séc chuyển khoản là: dễ phát hành, thủ tục thanh toán đơn
giản, người phát hành séc không phải đến NH làm thủ tục.
Nhược điển: Phương thức này người thụ hưởng sẽ nhận được séc chuyển
khoản ngay sau khi giao hàng, nhưng séc chuyển khoản ở đây mới chỉ được coi
như là giấy hứa trả còn việc người bán có nhận được đủ số tiền hay không còn
17
Người ký phát Người thụ
hưởng
NH phục vụ
người bán
NH phục vụ
người mua
Khóa luận tốt nghiệp
phụ thuộc vào số dư trên tài khoản tiền gửi của người mua. Kinh nghiệm thực
tế cho thấy nếu tài khoản tài gửi của người mua không đủ số dư thì thường gây
ắc tắc trong việc thanh toán.
1.2.1.3.2. Séc bảo chi
a, Khái niệm
Séc bảo chi là loại séc được NH bảo đảm khả năng chi trả bằng cách trích
trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản tiền vay, để lưu
ký trên một tài khoản riêng nhằm đảm bảo thanh toán cho tờ séc, Séc bảo chi
được sử dụng trong trường hợp hai bên mua - bán không tín nhiệm nhau trong
thanh toán. Khách hàng muốn sử dụng séc bảo chi phải lập các liên uỷ nhiệm
chi (kèm theo chuyển khoản nếu bảo chi thường xuyên) gửi vào NH. Sau khi
kiểm tra các yếu tố hợp lệ NH tiến hành trích chuyển tài khoản đóng dấu bảo
đảm chi trả lên tờ séc chuyển khoản và trả lại cho khách hàng.
Séc bảo chi có phạm vi thanh toán rộng hơn séc chuyển khoản, ngoài việc
sử dụng để thanh toán cho các chủ thể mở tài khoản cùng một chi nhánh ngân
hàng, tại hai ngân hàng cùng tham gia thanh toán bù trừ trên phạm vi tỉnh,

19
Người trả tiền
Người thụ
hưởng
Ngân hàng
Khóa luận tốt nghiệp
Sơ đồ 1.2.1.3.2.2: Quy trình luân chuyển chứng từ thanh toán séc bảo chi giữa
2 khách hàng khác chi nhánh.
(2)
(4a) (3)
(1)(1) Người trả tiền làm thủ thục bảo chi séc
(2) Người trả tiền giao séc cho người thụ hưởng để nhận hàng hoa, dịch vụ
(3) Khi nhận tờ séc bảo chi, người thụ hưởng phải kiểm tra các yếu tố, đặc
biệt yếu tố bảo chi séc, tiến hành lập bảng kê kèm tờ séc nộp vào NH phục vụ
mình nhờ thu hộ tiền
(4) NH kiểm tra các yếu tố cần thiết, tiến hành ghi Có vào tài khoản gửi
thanh toán số tiền ghi trên séc và báo Có cho người thụ hưởng, đồng thời
chuyển các chứng từ sang cho NH phục vụ người mua (người trả tiền)
(5) NH phục vụ người trả tiền thực hiện thanh toán tất toán tài khoản
“đảm bảo thanh toán séc”.
Nhận xét: Với những đặc điểm trên thì séc bảo chi có những ưu và
nhược điểm sau:
Ưu điểm: sử dụng hình thức thanh toán này thì có lợi cho người thụ
hưởng vì họ chức chắn nhận được tiền, quá trình thanh toán được nhanh chóng
vì Ngân hàng đã bảo chi séc.
Nhược điểm: với phương thức này thì người phát hành séc phải đến ngân
hàng làm thủ tục bảo chi và lưu ký tiền trên tài khoản không được hưởng lãi;

dịch vụ, nộp thuế, trả nợ hoặc chuyển tiền của người sử dụng dịch vụ thanh
toán tại một chi nhánh Ngân hàng hoặc giữa các chi nhánh, cùng hoặc khác hệ
thống trong phạm vi cả nước. Trong vòng một ngày làm việc khi nhận được uỷ
nhiệm chi Ngân hàng phải thực hiện ngay yêu cầu đó của chủ tài khoản, nếu uỷ
nhiệm chi hợp lệ và số dư trên tài khoản đủ để thực hiện. Đây là hình thức
thanh toán đơn giản, nhanh chóng nên nó thường chiếm tỷ trọng lớn.
Trường hợp hai chủ thể thanh toán mở tài khoản tại hai Ngân hàng thì
đơn vị bán sau khi giao hàng cho đơn vị mua, đơn vị mua sẽ lập UNC gửi đến
Ngân hàng phục vụ mình. Tại Ngân hàng phục vụ đơn vị mua sau khi kiểm tra
tính hợp lệ của chứng từ sẽ tiến hành ghi nợ và chuyển theo liên hàng (nếu hai
Ngân hàng cùng hệ thống) hoặc chuyển sang tài khoản thanh toán bù trừ (nếu
21

Trích đoạn Thanh toán bằng Séc Đánh giá về thực trạng TTKDTM tại chi nhánh Ngân hàng ĐT & PT Bắc Kạn Kết quả đạt được Nguyên nhân của hạn chế: Định hướng hoạt động và mục tiêu để phát triển TTKDTM tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Kạn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status