Đề tài:
Sự biến đổi trong quan niệm về chức năng sinh sản của gia đình
Việt Nam.
I- TÌM HIỂU CHUNG
Từ lâu người ta đã coi gia đình là tế bào của xã hội. Tế bào gia đình khỏe
mạnh, xã hội sẽ lành mạnh, mọi người đều có cơ hội phát triển và hưởng hạnh phúc.
Tế bào gia đình lỏng lẻo, không đảm đương tốt các vai trò và chức năng của mình, xã
hội có nguy cơ xáo động ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống vật chất và tinh thần của
mọi thành viên trong xã hội.
Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội. Vì vậy, có
thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội
mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Ở Việt Nam,
một định nghĩa về Gia đình được nhiều nhà xã hội học thừa nhận: "Gia đình là một
nhóm xã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc
nuôi dưỡng. Các thành viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền
lợi (kinh tế, văn hoá, tình cảm). Giữa họ là những ràng buộc có tính pháp lý được Nhà
nước thừa nhận và bảo vệ, đồng thời có những qui định rõ ràng về quyền được phép
và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình". (Nghiên
cứu xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1996, trang 190).
Gia đình có nhiều chức năng, trong đó có bốn chức năng cơ bản, đó là: Chức
năng sinh sản, chức năng kinh tế, chức năng giáo dục – xã hội hóa và chức năng tình
cảm. Trong đó, chức năng sinh sản là cơ bản và quan trọng nhất của gia đình. Việc
sinh con đẻ cái nhằm duy trì và phát triển nòi giống được xem là mục đích xây dựng
gia đình và cũng là nhu cầu cần được thoả mãn của các cặp vợ chồng đối với việc làm
cha mẹ. Mặt khác, sự sinh sản trong gia đình giúp cho việc xác định nguồn cội của
con người, từ đó tránh nạn quần hôn, góp phần tạo nên tôn ty gia đình, trật tự xã hội,
đảm bảo các điều kiện cơ bản cho nòi giống phát triển.
Theo dòng văn hóa, ở mỗi thời đại, việc sinh sản của gia đình có những quan
niệm khác nhau về giới tính, số lượng con người. Ở bài viết này, tôi xin đưa ra những
biến đổi trong quan niệm về chức năng sinh sản của gia đình Việt Nam từ truyền
thống đến hiện đại.
mắn nhất. Khổng tử còn khẳng định rằng, nếu không snh được con trai để nối dõi
tông đường là phạm tội bất hiếu. Con cái không phải chỉ là đối tượng sẽ tiếp tục
cuộc sống của gia đình và dòng họ trong tương lai mà còn là sự đảm bảo về việc
giữ gìn truyền thống, thờ cúng tổ tiên, ông bà (Lê Thị Quý, 2011:180). “Đối với
người chồng, hôn hân đánh dấu sự gia nhập địa vị người lớn nhưng chưa hoàn
toàn trọn vẹn, chỉ khi sinh con trai, anh ta mới hoàn thành nghĩa vụ, địa vị anh ta
mới trở nên trọn vẹn. Còn với người vợ, khi sinh con trai, họ đã tiến một bước dài,
từ địa vị “người ngoài”, hòa nhập hoàn toàn với gia đình, được an toàn trong gia
đình chồng vì đã tạo ra được phương tiện tiếp nối gia đình. Nếu không có con trai,
họ phải một mình chịu hoàn toàn trách nhiệm, số phận của họ trở nên bấp bênh,
bất kể họ thực hiện tốt các vai trò khác trong gia đình nhà chồng như thế nào”
(Mai Huy Bích, 1991:50)
Có con trai là điều quan trọng tất yếu, thế nhưng từ xa xưa, dân gian đã
truyền tụng câu nói: “Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” và nhiều
người thường “chấm điểm 10” về thành tích sinh con cho những cặp vợ chồng nào
sinh con gái trước, rồi sau sinh con trai; Trong khi đó những cặp sinh trai trước,
rồi sinh gái chỉ được điểm 9. Nguyên nhân là do con gái đầu lòng từ nhỏ đã là
người giúp việc nhà đặc lực cho cha mẹ ( Mai Huy Bích,Tr88). Nhưng bao nhiêu
con gái đi nữa cũng sẽ không bằng một con trai. Đây cũng là một trong những
nguyên nhân đẻ nhiều ở Việt Nam, đẻ cho bằng được con trai dù đã rất đông con.
3
2. Quan niệm hiện đại: đẻ ít
Quan niệm này tồn tại ở nhiều nước phương Tây, trong nhiều gia đình giàu. Do
quá bận rộn, có quá nhiều nhu cầu, mối quan tâm và do muốn thành đạt trong công
việc nên nhiều phụ nữ và cả nam giới đã chọn không sinh con (Lê Thị Quý,
2011:178).
Ở Việt Nam, cách đây vừa tròn nửa thế kỷ, trong lúc miền Bắc vừa phải tiến
hành 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho miền Nam
tiến hành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, có rất nhiều việc cấp
bách cần được thực hiện, nhưng nhận thức được tác động của sự gia tăng dân số ảnh
lịch sử suy cho cùng là sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi
giống. Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn. Nếu có sự thay
đổi, chẳng qua là sự thay đổi những quan niệm của chức năng này mà ở Việt Nam,
sự thay đổi ấy được thể hiện qua quan niệm về số lượng con và giới tính từ truyền
thống đến hiện đại theo hướng tích cực.
Ngày nay, sự can thiệp của khoa học hiện đại, trong dó có dụng cụ tránh
thai khiến cho con người có thể kiểm soát tỷ lệ sinh và sinh ít con hơn trước. Bên
cạnh đó là hình thức thuê đẻ, các phương pháp sinh sản vô tính với sự trợ giúp của
khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng không thể thay thế tính ưu trội cả về mặt sinh
học lẫn tâm lý xã hội của chức năng sinh sản trong gia đình và đang gặp phải sự
phản đối mạnh mẽ của dư luận ở tất cả các nước trên thế giới.
Việt Nam là một nước đang phát triển, vấn đề dân số có tác động trực tiếp
đến sự phát triển kinh tế và xã hội của nước ta. Để phát triển được, nước ta cần
quan tâm hơn nữa đến vấn đề dân số, cần tăng cường tuyên truyền các chính sách
dân số, kế hoạch hóa gia đình đến tất cả tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đồng bào
nông thôn, vùng sâu vùng xa, bộ phận những người có trình độ thấp. Qua đó giúp
họ nhận thức được những hạn chết, tiêu cực của quan niệm sinh đẻ truyền thống
để tiếp thu những quan niệm hiện đại, tiên tiến hơn, cùng đưa đất nước phát triển
bền vững.
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GS,TS Lê Thị Quý, Giáo trình Xã hội học Gia đình, NXB chính trị-hành
chính, 2011.
2. Mai Huy Bích, Giáo trình Xã hội học Gia đìn, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội.
3. Nhập môn Xã hội học, NXB Khoa học xã hội, 1993.
4. Nghiên cứu xã hội học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 1996.
5. Một số thông tin trên mạng Internet
/>6