Sự khác nhau trong quan niệm về thơ của - Pdf 26

Sự khác nhau trong quan niệm về thơ của
Xuân Diệu và Chế Lan Viên
Nguyễn Văn Khánh
Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, không có trào lưu văn học nào đủ sức làm nên Một
thời đại trong thi ca (lời tổng kết của Hoài Thanh) như phong trào Thơ mới (1932-1945). Sở dĩ
tác phẩm có được điều đó là do số lượng và chất lượng đặc biệt phong phú, mới mẻ và độc đáo
của các tác giả, tác phẩm thơ. Mỗi hiện tượng thơ dù trong quá khứ hay đang hiện hữu trên thi
đàn, nếu thực sự có giá trị thì luôn tạo được sự hấp dẫn đối với công chúng và sự quan tâm luận
bàn của thế giới nghiên cứu. Xuân Diệu và Chế Lan Viên là những nhà thơ như thế.
Cả hai ông đều là những nhà thơ lớn của nền thơ ca hiện đại Việt Nam thế kỷ XX mà sự tìm hiểu
nghiên cứu vẫn nằm trong hệ thống mở, nó như một dòng chảy dạt dào không bao giờ ngừng
nghỉ. Sự nghiệp văn học của hai ông mang một nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt cơ sở cho việc xây
dựng nền lý luận thơ ca hiện đại Việt Nam ở cả hai phương diện lý luận và thực tiẽn sáng tác.
Những điều hay, vẻ đẹp, nét độc đáo trong thơ của hai ông đã được phân tích nghiên cứu ở nhiều
cấp độ và bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tất cả đều đã đem đến những đóng góp khám phá
mới đầy lý thú, trong đó có vấn đề quan niệm về thơ. Quan niệm về thơ thực chất là cách nhìn
nhận đánh giá, cách hiểu về bản chất, chức năng, nhiệm vụ, mục đích của thi ca. Vậy quan niệm
về thơ bộc lộ ở đâu và bộc lộ như thế nào qua hai nhà thơ lớn Xuân Diệu và Chế Lan Viên?
Thực tế cho thấy: quan niệm về thơ được bộc lộ khá rõ nét qua thơ, qua các bài phê bình tiểu
luận, thậm chí ngay ở trong những lời trao đổi mạn đàm… của chính nhà thơ đó. Tuy ở mỗi thể
loại, quan niệm về thơ bộc lộ với dáng vẻ và diện mạo khác nhau, nhưng xuyên chuỗi lại ta thấy
nổi lên những quan điểm nhất quán mang tính quy luật trong quan niệm nghệ thuật của từng tác
giả cụ thể.
Với Xuân Diệu, quan niệm bao trùm thơ đó là sự sống. Quan niệm này chi phối cả cuộc đời lao
động sáng tạo của ông. Nó không chỉ nhấn mạnh đến tầm quan trọng và mối quan hệ hữu cơ giữa
thơ với cuộc sống mà còn có tác dụng phê phán những quan niệm thần bí, thoát ly và dung tục
hóa thơ. Với ông, chân lý cuối cùng, chân lý cao nhất, suy đến cùng vẫn là cuộc sống. Chân lý
thứ hai mới là chân lý nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm thơ ở ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, từ
ngữ, âm thanh
Trước Cách mạng, tuy nhiều lúc Xuân Diệu cảm thấy: Rợn ở trong hồn một luồng gió heo may
lạnh toát, hay:

Trong quy trình sáng tạo thơ, theo Xuân Diệu cái chính không phải là vấn đề kỹ thuật mà cái
chính phải là ở chất cảm xúc. Nhưng nói như thế không có nghĩa là ông không coi trọng kỹ thuật
làm thơ. Trái lại, Xuân Diệu là một trong những nhà thơ có quan niệm hết sức nghiêm túc, công
phu, tỷ mỷ và sâu sắc về nghề thơ, “công việc bếp núc” của nhà thơ. Tấy cả những điều đó đặng
đi đến một quan niệm có tính chất then chốt, điểm đến cuối cùng, hay điểm hội tụ các quan niệm
về thơ của ông. Đó là chất lượng của thơ. Xuân Diệu quan niệm một bài thơ hay cũng cho biết
được cả một tác giả, hay “tính sổ xong, cái còn lại của các nhà thơ là những bài thơ hay”. Ông
quan niệm thơ hay là “một vấn đề quan trọng, một vấn đề nền tảng”. Việc ông khẳng định thơ
hay và phê phán thơ dở là làm tăng mỹ cảm cho người đọc, góp phần nâng cao chất lượng thơ.
Tóm lại, với Xuân Diệu, quan niệm nhất quán, bao trùm: Thơ là sự sống tươi trẻ, say mê, nồng
ấm; thơ là sản phẩm của cảm xúc, của trí tuệ, là tinh chất cuộc đời. Thơ là cuộc sống mà “Đã là
cuộc sống, thì chẳng bao giờ chán nản”.
Khác với Xuân Diệu say sưa trong tình yêu, luôn khát khao giao cảm với đời, Chế Lan Viên đi
riêng một ngả xuống cõi âm, qua bãi tha ma đầy yêu tinh, ma quỷ, sọ người, để rồi trở về cõi ta
và bay lên vũ trụ.
Trước hết cần phải thấy rằng thơ Chế Lan Viên không như thơ Xuân Diệu đi từ trái tim đến với
trái tim. Vì thơ ông là thứ thơ triết mỹ, màu sắc nhận thức luận. Một thứ thơ mà chính ông quan
niệm: “không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh, không chỉ ơ hời mà còn đập bàn quát tháo lo toan”.
Nếu như Xuân Diệu chủ yếu lấy phê bình tiểu luận để bàn về nghề thơ và thể hiện quan niệm về
thơ thì “Chế Lan Viên là nhà thơ sử dụng thơ để bàn luận về nghề nghiệp làm thơ một cách say
sưa nhất, đầy đủ nhất”. Từ quan niệm về “thơ loạn”, “thơ điên” đến thơ có ích, thơ hay, thơ dở,
từ trách nhiệm công dân đến thiên chức nghệ sĩ của người làm thơ, từ tưởng tượng đến cảm xúc,
từ hình ảnh ngôn ngữ đến chất trí tuệ trong sáng tạo nghệ thuật…, Chế Lan Viên đều không ít lần
đề cập tới.
Những quan niệm về thơ đó được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ sinh động và tài hoa vừa giàu
chất thơ vừa giàu chất triết lý. Nó đồng thời vừa phản ánh quan niệm về thơ của chính tác giả
vừa phản ánh quan niệm về thơ của cả một thời kỳ lịch sử. Ông đã từng khái quát quan niệm về
thơ xưa và nay:
Thơ xưa hay than mà ít hỏi
Đảng dạy ta thơ phải trả lời

thơ ông vẫn nặng về triết lý, chính luận và càng về cuối đời nhu cầu nhận thức luận trong ông
càng khẩn thiết, day dứt hơn. Sự trăn trở, dày vò dường như bao trùm trong quan niệm về thơ
của ông. Ông có cả một bài thơ mang tên Quan niệm thơ:
Làm thơ xưa như ông từ trịnh trọng vào đền
Như chú rể lần đầu sang nhà bố vợ
Như thần tử quỳ trước ngôi mặt Chúa
Như là người mọc cánh thành tiên…
Làm thơ ngày nay như người diễn xiếc…
Làm thơ chứ không để thơ làm…
Cho nên cả trước và sau cách mạng, thơ ông đều nhằm mục đích khám phá thực tại và khám phá
chính bản thân. Từ quan niệm làm thơ tức là điên tới quan niệm thơ là vũ khí tinh thần của giai
cấp, của dân tộc chống kẻ thù và đến cuối đời lại đầy mâu thuẫn, chơi vơi. Quả thực quan niệm
về thơ của Chế Lan Viên luôn vận động và biến đổi không ngừng.
Khi sáng tạo thơ ca, ông luôn quan niệm phải bứt phá, vượt khỏi những gì tầm thường đơn điệu
và tẻ nhạt. Cho nên thơ Chế Lan Viên thường chú trọng khai thác những yếu tố nghịch lý, những
mặt đối lập đầy mâu thuẫn nhưng cũng rất thống nhất trong nội dung và hình thức, giữa hiện
tượng và bản chất, giữa cái xấu và cái đẹp, giữa tồn tại và hư vô… Những câu thơ nặng trĩu ưu
tư của một con người đã đi gần hết chặng đường đời mà dường như vẫn ngơ ngác:
Ôi! con đường không ra đường của kẻ tìm thơ
Cái thơ không ra thơ của kẻ tìm đường
Đã gần hết thời gian của tôi ở trên trái đất.
(Tìm đường – Di cảo I)
Nếu như Xuân Diệu quan niệm thơ luôn phải là tiếng nói của tình cảm và sự nghiệp thơ ông
cũng đã chứng minh điều đó, thì Chế Lan Viên dường như lại quan niệm thơ là tiếng nói của trí
tuệ. Từ trí tuệ mà tác động đến trái tim. Nhưng phẩm chất trí tuệ, hay tư tưởng triết học trong thơ
Chế Lan Viên không phải ông cố tình hay gắng gượng tạo ra như thế mà thực chất là một biểu
hiện mang tính tự thân như bản thân nó vốn là như thế.
Cũng giống như Xuân Diệu chẳng quan tâm lắm đến cái chết của bản thân mình và không mấy
khi viết về cái chết, trong khi đó tồn tại và hư vô, cái sống và cái chết trong quan niệm của Chế
Lan Viên luôn là nỗi ám ảnh rất sâu và rất nặng, ngay từ khi còn trẻ với những bài thơ đầu tiên

văn học hiện đại Việt Nam thế kỷ XX trên hành trình hòa nhập vào quỹ đạo chung của văn hóa
nhân loại.
N.V.K
_______________
Tài liệu tham khảo
- Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Phan Cự Đệ, Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.
- Mã Giang Lân, Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001.
- Lý Hoài Thu, Thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám – 1945 (Thơ thơ và Gửi hương cho
gió), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.
- Nguyễn Bá Thành, Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tưởng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999.
- Lưu Khánh Thơ (Tuyển chọn và giới thiệu), Xuân Diệu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 1999.
- Nguyễn Văn Khánh, Quan niệm về thơ của Xuân Diệu, Luận văn Thạc sĩ khoa học ngữ văn,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status