Thực trạng về đầu tư cho giáo dục bậc THCS ở việt nam - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư, mà đặc biệt là đầu tư phát triển đóng vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nước ta đang trong
tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập vào sự biến đổi của nền kinh tế thế giới. Nhu
cầu đầu tư phát triển vào mọi lĩnh vực của xã hội ngày càng trở thành một vấn
đề cấp thiết, nhất là việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực chính là phục vụ cho phát triển kinh tế xã
hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Bước sang
thế kỉ XXI, phát triển giáo dục, phát triển con người trực tiếp phục vụ yêu cầu
của sự nghiệp đổi mới của đất nước, phát triển giáo dục phải đi trước một
bước hợp lí so với phát triển kinh tế.
Nắm bắt được vấn đề trên, trong những năm qua nước ta đã và đang
thực hiện nhiều chính sách đẩy mạnh đầu tư hiệu quả cho giáo dục trên tất cả
các cấp bậc, đặc biệt là bậc giáo dục THCS.
Trong hệ thống giáo dục phổ thông thì giáo dục bậc THCS đóng một
vai trò khá quan trọng, nó là yếu tố cơ bản của giáo dục phổ thông, tiếp bước
cho nền tảng giáo dục tiểu học, giáo dục bậc THCS như là cầu nối cho những
bước chân bắt đầu chập chững vào đời. Có thể coi phát triển giáo dục THCS
là tiền đề, là khâu quan trọng để thực hiện phát triển. Mục tiêu của giáo dục
THCS đến năm 2020 là thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mĩ, cung
cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp, tiếp cận
trình độ các nước phát triển trong khu vực; hoàn thành phổ cập THCS trong
cả nước. Chính vì vậy em chọn đầu tư cho giáo dục THCS là đối tượng
nghiên cứu trong chuyên đề thực tập tốt nghiệp trên cơ sở thực trạng phát
triển giáo dục THCS thời kì 2001 – 2009 và các căn cứ khác đưa ra một số ý
kiến về giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đầu tư cho giáo dục THCS, thực
hiện các mục tiêu phát triển giáo dục THCS đến năm 2015.
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
1
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

bỏ vốn thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Trên quan điểm
phân công lao động xã hội, có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo
ngành và đầu tư theo lãnh thổ. Theo góc độ tính chất và mục đích đầu tư, đối
tượng đầu tư chia thành hai nhóm chính: công trình vì mục tiêu lợi nhuận và
công trình phi lợi nhuận. Trên góc độ xem xét mức độ quan trọng, đối tượng
đầu tư chia thành: loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến
khích đầu tư và loại bị cấm đầu tư. Từ góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia
thành: những tài sản vật chất (tài sản thực) và tài sản vô hình.
1.1.2. Vai trò của đầu tư phát triển:
Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích
quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư nhà nước nhằm thúc đẩy
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và
nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội. Đầu tư của doanh nghiệp
nhằm tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh
và chất lượng nguồn nhân lực.
Căn cứ vào mục đích của đầu tư phát triển ta nhận thấy đầu tư phát
triển có vai trò rất lớn đối với xã hội cũng như đối với nền kinh tế đất nước.
Vai trò của đầu tư phát triển được thể hiện rất rõ trong những tác động của nó
đến tăng trưởng và phát triển:
1.1.2.1. Đầu tư phát triển tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
- Tác động đến cầu: Để tạo ra sản phẩm cho xã hội, trước hết cần đầu
tư. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền
kinh tế. Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến
28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu,
tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình kinh tế vĩ
mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa
kịp thay đổi, một sự gia tăng đầu tư đã làm cho tổng cầu tăng.

g = Di + DI + TFP
Trong đó: g là tốc độ tăng trưởng GDP
Di là phần đóng góp của VĐT vào tăng trưởng GDP
DI là phần đóng góp của lao động vào tăng trưởng GDP
TFP là phần đóng góp của tổng các yếu tố năng suất vào
tăng trưởng GDP
1.1.2.3. Đầu tư phát triển tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là cơ cấu của tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế,
có quan hệ chặt chẽ với nhau, được biểu hiện cả về mặt chất và mặt lượng,
tùy thuộc mục tiêu của nền kinh tế.
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỉ trọng của các bộ
phận cấu thành nền kinh tế. Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự
phát triển không đồng đều về qui mô, tốc độ giữa các ngành,vùng.
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đầu tư
góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp qui luật và chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kì, tạo ra sự cân đối mới trên
phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của
nền kinh tế, trong khi vẫn coi trọng các yếu tố ngoại lực.
Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô vốn đầu tư
từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp… đều ảnh
hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng
ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó, làm dịch
chuyển cơ cấu kinh tế ngành.
Đối với cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân
đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát
khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên,
địa thế, kinh tế, chính trị,…của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn,

1.2.1. Khái niệm:
Đầu tư cho giáo dục là một nội dung trong đầu tư phát triển con người.
Như vậy có thể hiểu đầu tư cho giáo dục và đào tạo là hành động bỏ tiền ra để
tiến hành hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế nói chung, cho
giáo dục nói riêng. Tài sản đó có thể là trình độ được nâng cao của mọi đối
tượng trong xã hội, từ đó tạo ra tiềm lực, động lực mới cho nền sản xuất xã
hội.
Kết quả của đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo mang lại chính là chất
lượng giáo dục và đào tạo, được thể hiện qua chất lượng của đội ngũ giáo
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
viên, chất lượng của các cơ sở vật chất kĩ thuật giáo dục và đào tạo, đó là đầu
ra của sự nghiệp giáo dục và đào tạo,…
1.2.2. Vai trò của đầu tư cho giáo dục THCS
Phát triển giáo dục là một bộ phận quan trọng trong phát triển kinh tế
xã hội nhằm thực hiện mục tiêu cao nhất của sự phát triển là phát triển toàn
diện con người. Với tính chất là cơ sở, nền tảng của hệ thống giáo dục, giáo
dục phổ thông đóng một vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã
hội. Phát triển giáo dục THCS đóng vai trò như một bước đệm cho phát triển
hệ thống giáo dục phổ thông. Vai trò của đầu tư cho giáo dục THCS thể hiện
rõ trong chính vai trò của phát triển giáo dục THCS, cụ thể như sau:
1.2.2.1. Giáo dục THCS là một bộ phận trong hệ thống giáo dục
Hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đài học và sau đại học. Do đó, trong hệ
thống giáo dục thì giáo dục phổ thông là nền tảng của toàn bộ hệ thống giáo
dục. Giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo
dục THPT.
Giáo dục tiểu học: Là bậc học nền tảng của giáo dục phổ thông cũng
như hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học là bậc học đầu tiên của mỗi con

hội,…
Giáo dục phổ thông là một phân ngành trong giáo dục, giáo dục phổ
thông sáng tạo ra giá trị sử dụng là tri thức phổ thông cung cấp cho học sinh,
giá trị sử dụng của dịch vụ giáo dục phổ thông nhằm thỏa mãn nhu cầu kiến
thức kĩ năng của người đi học là trình độ học vấn hay tài năng được nâng cao.
Giá trị của dịch vụ giáo dục phổ thông bao gồm sự hao mòn cơ sở vật chất
phục vụ giáo dục phổ thông như trường lớp, trang thiết bị, học phí, hao phí
khác khi tham gia dịch vụ giáo dục phổ thông…Như vậy, giáo dục phổ thông
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
là một hình thức dịch vụ trong hệ thống các ngành dịch vụ của nền kinh tế thị
trường, mang đầy đủ các đặc điểm của dịch vụ trong nền kinh tế thị trường.
Giáo dục phổ thông là một lĩnh vực dịch vu lớn, mang tính chất đặc
biệt, nó cung cấp hàng hóa đặc biệt (có sứ mạng cao quí với con người), sự
phát triển giáo dục phổ thông sẽ tạo sự thuận lợi cho phát triển của nhiều
ngành kinh tế dịch vụ khác trong nền kinh tế thị trường.
1.2.2.3. Giáo dục phổ thông với vấn đề thực hiện các mục tiêu về xã hội
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhận thức về vai trò của con
người ngày càng được nâng cao. Ngày nay con người được coi là mục tiêu và
động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, nhân tố con người giữ vị trí trung
tâm, quyết định đến toàn bộ các nhân tố khác của chiến lược phát triển kinh tế
xã hội. Nhân tố con người phải được phát triển trở thành một nguồn lực,
nguồn lực con người, một nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, đồng
thời là tiêu chí quan trọng trong việc xếp hạng các nước trên thế giới.
Chất lượng nguồn nhân lực muốn được nâng cao, phát triển phải thông
qua hoạt động giáo dục đào tạo. Giáo dục đào tạo nhằm mục tiêu phát triển
con người về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, đạo đức trong sáng, có khả năng
lao động, từ đó tạo ra một nền tảng dân trí, đào tạo nên một thế hệ lao động
mới đủ để đáp ứng yêu cầu của đất nước. Do đó, phát triển giáo dục là một

phát triển giáo dục Việt Nam, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nguồn
nhân lực, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất
nước.
1.2.3. Nội dung của đầu tư cho giáo dục THCS
Hệ thống giáo dục phổ thông ở Việt Nam hiện nay được chia ra làm ba
bậc học gồm giáo dục tiểu học, giáo dục THCS và giáo dục THPT. Giáo dục
THCS là bậc học sau giáo dục tiểu học, được thực hiện trong 4 năm từ lớp 6
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
đến lớp 9. Giáo dục THCS là bước kế tiếp giáo dục tiểu học, kế thừa và phát
triển những kết quả đã đạt được trong bậc giáo dục tiểu học, đồng thời cung
cấp những hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và hướng nghiệp để người học sinh có
thể tiếp tục học lên giáo dục THPT hoặc tham gia lao động. Do đó, đầu tư cho
giáo dục THCS là đầu tư phát triển con người, chính là góp một phần lớn vào
phát triển kinh tế xã hội. Đầu tư cho giáo dục THCS bao gồm những nội dung
sau:
1.2.3.1. Đầu tư cơ sở vật chất thiết bị
Đầu tư cơ sở vật chất thiết bị chính là đầu tư để đối mới, nâng cao chất
lượng hạ tầng cơ sở, đổi mới công tác tổ chức và sử dụng trang thiết bị dạy
học, cơ sở vật chất trường THCS theo hướng từng bước hình thành hệ thống
phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành,…nâng cao năng lực thực hành
của học sinh làm cơ sở cho đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục THCS
Trên cơ sở xác định mức chất lượng cơ bản về cơ sở vật chất (trường
sở, phòng học, lớp học, thiết bị) đối với trường THCS mà bộ giáo dục và đào
tạo sẽ nghiên cứu thử nghiệm và đề xuất các định mức chất lượng cơ bản về
cơ sở vật chất đối với trường THCS, đảm bảo điều kiện cơ bản cho việc đổi
mới phương pháp dạy học, đổi mới giáo dục THCS hiện nay.
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng tức là đầu tư vào xây dựng cơ bản, trước tiên
là phòng ốc, trường lớp kiên cố, tiếp theo đó là xây dựng và trang bị hệ thống

- Tổ chức dạy học theo phòng học bộ môn
- Hướng dẫn giáo viên tự làm đồ dùng dạy học đơn giản
- Bồi dưỡng hướng dẫn cho giáo viên sử dụng thiết bị dạy học
- Bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thí nghiệm, thư viện trường THCS
- Để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục thì Bộ
giáo dục và đào tạo đã biên soạn và cung cấp các tài liệu bồi dưỡng
giáo viên về kiến thức, kĩ năng ứng dụng công nghệ thông tin vào
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
dạy học, cung cấp cho giáo viên một số giáo án tiết dạy mẫu theo
hướng dẫn có ứng dụng công nghệ thông tin
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng cho toàn thể giáo viên THCS về ứng
dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói riêng cũng như cách
thiết kế bài giảng phù hợp với phương pháp dạy học mới
Đầu tư vào chất lượng giảng dạy của giáo viên là việc làm rất cần thiết.
Khả năng tiếp thu bài giảng của học sinh dựa phần nhiều vào khả năng truyền
đạt của giáo viên. Do đó, đầu tư vào chất lượng giáo viên chính là nâng cao
chất lượng giáo dục THCS.
1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư cho giáo dục THCS
Hiệu quả đầu tư cho giáo dục THCS được đánh giá dựa trên chất lượng
giáo dục THCS đạt được. Do đó, các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả đầu tư cho
giáo dục đó có thể là chất lượng về trường lớp, cơ sở vật chất thiết bị, chất
lượng về giáo viên, học sinh,… Chúng ta hãy xem xét từng chỉ tiêu đánh giá
một cách cụ thể:
1.2.4.1. Chỉ tiêu về giáo viên:
Giáo viên chính là người truyền thụ kiến thức cho học sinh, khả năng
truyền đạt của giáo viên tốt thì học sinh cũng sẽ tiếp thu bài tốt hơn. Chính vì
vậy, chỉ tiêu về giáo viên là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng
giáo dục, chất lượng giáo dục tốt có nghĩa là đầu tư có hiệu quả. Chỉ tiêu về

k,DC
(t) / GV
k
(t)] * 100%
Trong đó :
%GV_DC
k
(t) : Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn của cấp học k vào đầu năm
học t
GV
k,DC
(t) : Tổng số giáo viên đạt chuẩn ở cấp học k vào đầu năm học t
GV
k
(t) : Tổng số tất cả các giáo viên của cấp học k vào đầu năm học t
Việt Nam quy định chuẩn về trình độ của giáo viên THCS là từ cao đẳng sư
phạm trở lên.
+ Số giáo viên trên lớp : Là số giáo viên trên một lớp của một cấp vào
đầu năm học.
Công thức : GV_LH
k
(t) = GV
k
(t) / LH
k
(t)
Trong đó :
GV_LH
k
(t) : Số giáo viên trên lớp ở một cấp học vào đầu năm học t

(t) : Tổng số giáo viên của cấp học k vào đầu năm học t
1.2.4.2. Chỉ tiêu về trường học và phòng học
* Về trường học :
- Số trường theo loại hình quản lí : Là số lượng các trường học phân
theo một loại hình nhất định vào đầu năm học. Các loại hình trường là công
lập, bán công, dân lập và tư thục.
Công thức : TRUONG
LH
(t) = ∑ k TRUONG
k,LH
(t)
Trong đó :
TRUONG
LH
(t) : Số lượng trường học theo loại hình vào đầu năm học t
TRUONG
k,LH
(t) : Số lượng các trường học phân theo cấp và theo loại
hình vào đầu năm học t
* Về phòng học :
+ Số phòng học : Là tổng số phòng học của từng cấp vào đầu năm học.
+ Số lớp học trên một phòng học : Tỷ lệ lớp học so với số phòng học
của cấp học đó vào đầu năm học.
Công thức : LH_PHk(t) = LHk(t) / PHk(t)
Trong đó :
LH_PHk(t) : Số lớp trên một phòng học theo cấp học k vào đầu năm
học t
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi : Là tỷ lệ giữa số học sinh của một
cấp học trong độ tuổi qui định cho cấp học đó so với số trẻ em trong dân cư
trong độ tuổi qui định cho cấp đó vào thời điểm đầu năm học. Tuổi quy định
cho cấp học THCS là 11 – 14 tuổi. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng huy động
trẻ em đến trường đúng độ tuổi quy định, chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn hoặc bằng
100%, cần nâng dần chỉ tiêu này trong thời gian tới.
Công thức tính : %HS_ĐĐT
k
(t) = [HS_CM
k
(t) / DS(t)] * 100%
Trong đó :
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
%HS_ĐĐT
k
(t) : là tỷ lệ đi học đúng độ tuổi của cấp học k vào lúc bắt
đầu năm học.
HS_CM
k
(t) : là số học sinh đi học cấp học k ở độ tuổi chuẩn khi bắt
đầu năm học.
DS(t) : là tổng số trẻ em ở độ tuổi chuẩn cho cấp học k khi bắt đầu năm
học .
K : là cấp học. Với k là THCS thì t = 11 – 14
* Tỷ lệ phổ cập THCS :
Đến năm 2000, Việt Nam đã hoàn thành phổ cập tiểu học trên phạm vi
cả nước, trong thập kỉ qua, nước ta đã và đang thực hiện phổ cập THCS trên
phạm vi cả nước.

biến mạnh mẽ trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo nói chung và giáo dục phổ
thông nói riêng.
Hệ thống trường lớp phổ thông các cấp đã phát triển rộng khắp và với
qui mô ngày càng lớn. Bảng dưới đây phản ánh sự phát triển của giáo dục phổ
thông trong thập kỉ vừa qua:
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bảng 1: Sự phát triển của trường, lớp bậc phổ thông giai đoạn 2003 – 2010:
Đơn vị: Trường, phòng
Cấp học Năm học
2006-2007
Năm học
2008 - 2009
Năm học
2009-2010
Tiểu học:
- Trường
- Lớp
14833
266400
14901
26600
15051
265100
THCS:
- Trường

1000000
2000000
3000000
4000000
5000000
6000000
7000000
8000000
Học sinh THCS Học sinh THPT
2003 - 2004
2009 - 2010
Nguồn: Trung tâm thông tin quản lí GD – Bộ GD & ĐT
Các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ giáo viên cũng được
cải thiện rất nhiều so với thập kỉ trước. Theo thống kê đầu năm 2009 -2010 cả
nước có hơn 486.000 phòng học và hơn 806.000 giáo viên phổ thông, đã cơ
bản khắc phục được tình trạng thiếu giáo viên và tỉ lệ giáo viên/lớp ở các cấp
ngày càng được cải thiện. Tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn ở các cấp đều tăng.
Chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông đã được triển khai mạnh mẽ và
đã có được hiệu quả ở tất cả các bậc học. Năm học 2002 – 2003 đã hoàn
thành thí điểm và tiến hành đại trà thay sách giáo khoa lớp 1 và lớp 6, đến nay
cả nước đã hoàn thành thay sách cho cả 3 cấp học phổ thông.
Trong thời gian qua ngân sách nhà nước dành cho giáo dục cũng tăng
nhanh, chiếm khoảng 10% ngân sách nhà nước (trong đó khoảng 70 – 80%
dùng để trả lương cho giáo viên). Ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo của
khu vực tư nhân ước tính là trên 40% tổng chi phí trực tiếp. Trong số đó nhiều
nhất là chi phí cho cấp mẫu giáo và trung học cơ sở (khoảng 60%) rồi đến tiểu
học (dưới 50%), trung học chuyên ban (19%), đến trung học chuyên nghiệp
và trung học nghề (12%). Nền giáo dục Việt Nam ngoài việc đào tạo ra một
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
22

này đã lên tới 485.500 tỷ đồng, tức là sau 5 năm đã tăng 88,62%, điều này cho
thấy sự phát triển của nền kinh tế trong 5 năm qua là rất đáng kể. Cùng với sự
gia tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội thì trong 5 năm qua vốn đầu tư cho giáo
dục cũng không ngừng tăng lên, năm sau cao hơn năm trước, từ con số 28.611
tỷ đồng năm 2005 lên con số 63.800 tỷ đồng năm 2009. Sự tăng trưởng của
vốn đầu tư cho giáo dục và đào tạo không ngừng tăng lên trong 5 năm qua đã
SV: Hoàng Thị Phương Hoài Lớp: KTĐT 48B - QN
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cho thấy nỗ lực của nền kinh tế - xã hội nói chung và ngành giáo dục nói
riêng để nhằm tạo ra những nhân tài cho đất nước.
Vai trò của đầu tư cho giáo dục và đào tạo trong tổng thể nền kinh tế
được thể hiện rõ ở sơ đồ sau:
Biểu 2: So sánh VĐT cho GD – ĐT với GDP giai đoạn 2005 – 2009:
So sánh VĐT cho GD-ĐT với GDP giai đoạn 2005-2009
0
50000
100000
150000
200000
2005 2006 2007 2008 2009
Năm
Tỷ đồng
GDP
VĐT cho GD
Nguồn: Tổng cục thống kê và Bộ GD – ĐT
Dựa vào bảng số liệu trên cho thấy, vốn đầu tư cho giáo dục ở Việt
Nam rất lớn. Cùng với sự gia tăng GDP theo các năm thì tổng chi cho giáo
dục cũng không ngừng tăng lên. Đây là một dấu hiệu đáng mừng cho sự phát
triển ngành giáo dục nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội đất nước nói

10,04
VĐT cho giáo dục
THCS
Tốc độ tăng
Tỷ đồng
%
17.242
-
20.762
23,1
23.409
36,89
27.998
17,64
31.760
10,54
Nguồn: Bộ GD - ĐT và ngân sách nhà nước
Căn cứ vào bảng tổng kết trên ta thấy rằng nguồn vốn đầu tư chi cho
giáo dục THCS tăng dần qua các năm, chiếm một tỷ trọng khá cao trong tổng
vốn đầu tư chi cho giáo dục đào tạo. Tính đến hết năm 2009, vốn đầu tư chi
cho giáo dục và đào tạo là 87.934 tỷ đồng, vốn đầu tư phát triển giáo dục
THCS là 31.760 tỷ đồng, như vậy vốn đầu tư cho giáo dục THCS chiếm gần
30% trong tổng chi cho sự nghiệp phát triển giáo dục. Điều này cho thấy rằng
sự nghiệp phát triển giáo dục hiện đang được chú trọng quan tâm rất nhiều.
Ta sẽ xem xét cơ cấu nguồn vốn chi cho phát triển giáo dục THCS:
2.2.1.1. Nguồn vốn Ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước là một nguồn vốn quan trọng đối với sự nghiệp
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và cho giáo dục đào tạo nói riêng. Sự
hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn này không chỉ có ý nghĩa riêng đối với
sự nghiệp giáo dục và đào tạo mà còn có một ý nghĩa to lớn trong việc thúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status