TCNCYH 38 (5) - 2005
NGHIÊN CỨU TỔN THƯƠNG XƯƠNG KHỚP DO
GÚT MẠN TÍNH
Nguyễn Thị Ngọc Lan
Bộ môn Nội Tổng hợp - Trường đại học Y Hà Nội
t
)
t
:
Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh gút tăng cao trong những năm gần đây, tuy nhiên ở nước ta bệnh gút vẫn
chưa được hiểu biết đầy đủ. Mục tiêu: (1) Mô ả đặc điểm lâm sàng và X quang của tổn thương xương
khớp do gút mạn tính, (2 Phát hiện các yếu tố gợi ý chẩn đoán tổn thương xươ
ng khớp do gút mạn tính.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang gồm 54 bệnh nhân (BN) mắc bệnh gút mạn tính được chẩn đoán xác
định bệnh gút theo tiêu chuẩn của Bennet và Wood 1968, điều trị nội trú tại khoa Cơ Xương Khớp từ
3/2003 đến 6/2004. Kết quả Các triệu chứng gợi ý là viêm nhiều khớp (79,6% BN viêm từ 4 khớp trở
lên), chi dưới (khớp cổ chân, bàn ngón chân I và khớp gối (75 - 80%), đối xứng (60 - 70%) (các BN này
đều có tiền sử c
ơn gút cấp). 80% BN gút mạn tính có tổn thương trên XQ bao gồm hẹp khe khớp, hình
khuyết xương, hốc xương, hình ảnh tân tạo của xương cạnh hình khuyết xương. Các yếu tố gợi ý bệnh
xương khớp do gút mạn tính là giới nam, tuổi trung niên, sưng đau chủ yếu các khớp chi dưới, đối xứng,
sự có mặt của hạt tophi. Kết luận: Các yếu tố gợi ý và XQ xương khớp góp phần ch
ẩn đoán sớm tổn
thương xương khớp do gút mạn tính.
Từ khoá: Viêm khớp/gút mạn tính; XQ/gút mạn tính.
khớp nhỏ nhỡ ở cổ bàn tay. Chính vì vậy, gút mạn
tính thường bị chẩn đoán nhầm là viêm khớp dạng
thấp (VKDT). Ngoài ra, ở giai đoạn mạn tính, hình
ảnh XQ xương khớp có dạng hốc và khuyết xương
cũng gây nhầ
m lẫn giữa 2 bệnh. Từ lâu, các tổn
thương này đã được các nhà thấp khớp học phân
lập riêng dưới tên gọi “bệnh xương khớp do gút
mạn tính”. Tuy nhiên ở nước ta, tình trạng nhầm
lẫn 2 bệnh vẫn khá phổ biến. Theo một nghiên
cứu tại bệnh viện 354 năm 2001, trong số 55 bệnh
nhân mắc bệnh gút thì tỉ lệ chẩn đoán đúng chỉ có
3 bệnh nhân (13,6%), số BN được chẩ
n đoán
VKDT lên tới 59,1% [7]. Do vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu nhằm mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng và X quang
của tổn thương xương khớp do gút mạn tính.
2. Phát hiện các yếu tố gợi ý chẩn đoán
tổn thương xương khớp do gút mạn tính.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 54 BN (52 nam và 2 nữ), điều trị nội trú
tại khoa Cơ Xương Khớp từ 3/2003 đến 6/2004;
không phân biệt giới, từ 16 tuổi trở lên, đáp ứng
các tiêu chuẩn chọn BN nghiên cứu dưới đây.
1.1. Tiêu chuẩn chọn BN nghiên cứu
điểm nghiên cứu, khi đã xuất hiện hạt tôphi (giai
đoạn mạn tính). Hỏi tiền sử triệu chứng sớm (cơn
gút cấp đầu tiên).
- Ch
ụp XQ thường quy với các khớp tổn
thương, 2 tư thế thẳng, nghiêng. Kết quả chuyên
gia XQ đọc theo mẫu thống nhất.
- Số liệu được xử lý trên EPI 6.0 theo chương
trình thống kê y học.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
- Tổng số BN nghiên cứu: 54.
- Giới tính nhóm nghiên cứu:
Nam: 52 (96,3%); Nữ: 2 (3,7%).
- Tuổi thấp nhất: 33 tuổi, cao nhất: 79 tuổi,
trung bình: 59,8 ± 11,23.
- Nhóm tuổi thường gặp nhất là trên 50, chiếm
83,7%.
2
TCNCYH 38 (5) - 2005
2. Đặc điểm lâm sàng của tổn thương xương khớp
2.1. Số lượng khớp có biểu hiện viêm ở giai đoạn mạn tính và trong đợt gút cấp đầu tiên
Bảng 1. Số lượng khớp có biểu hiện viêm
Giai đoạn
Mạn tính (tại thời điểm nghiên cứu) Cơn gút cấp đầu tiên (hồi cứu)
Số khớp
viêm
N % N %
1 2 3,7 27 50
K. vai 0 0 0 0
Nhận xét: Trong giai đoạn mạn tính, hầu như các khớp đều có tổn thương về lâm sàng (trừ khớp vai
và háng). Tỷ lệ các khớp thường gặp nhất là khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân I và khớp gối, đối xứng
(75 - 85%). Các khớp ở tay (cổ tay, bàn ngón và ngón gần) đối xứng cũng gặp, song với với t lệ thấp hơn
(10 - 30 %). Trong cơn gút cấp đầu tiên, biểu hiện viêm chỉ ở khớp bàn ngón chân cái chi
ếm đa số (61,1%
BN); trong đó 33,3% số BN chỉ viêm 1 bên. Không BN nào có các biểu hiện viêm ở khớp gần ngón tay,
khuỷu, vai, háng trong đợt gút cấp.
ỉ
2.3. Tiền sử cơn gút cấp
- Số BN có biểu hiện cơn gút cấp: 54 BN (100%).
- Vị trí và số lượng các khớp tổn thương: đã nêu trong bảng 1 và 2.
- Tính chất viêm khớp trong đợt cấp: Tất cả các khớp (100%) trong đợt cấp đều có tính chất cấp tính.
Khớp sưng nóng đỏ đau dữ dội và thuyên giảm hoàn toàn trong vòng 1 tuần.
3
TCNCYH 38 (5) - 2005
3. Một số đặc điểm sinh hoá, huyết học (bảng 3)
Bảng 3. Một số đặc điểm sinh hoá, huyết học ở giai đoạn mạn tính (tại thời điểm nghiên cứu)
Tăng
Các chỉ số
Bình thường
N (%)
N (%)
X
± SD
Acid Uric (µmol/l)
Hai bên
N (%)
Tổng
N (%)
K. bàn ngón chân I 6 (20,0) 8 (26,7) 14 (46,7)
K. bàn ngón chân khác 8 (26,7) 4 (13,3) 12 (40,0)
K. cổ chân 2 (6,7) 4 (13,3) 6 (20,0)
K. gối 5 (16,7) 1 (1,3) 6 (20,0)
K. gần ngón tay 3 (10,0) 3 (10,0) 6 (20,0)
K bàn ngón tay 1 (0) 2 (6,7) 3 (10,0)
K. cổ tay 0 (0) 4 (13,3) 4 (13,3)
K. khuỷu 0 (0) 0 (0) 0 (0)
Nhận xét: Tỷ lệ tổn thương trên XQ cao nhất ở các khớp bàn ngón chân - ngón I hoặc các ngón chân
khác (trên 40%), có thể 1 hoặc 2 bên. Không có BN nào có tổn thương khớp khuỷu tay.
4.2. Đặc điểm tổn thương xương khớp
trên XQ của gút mạn tính
Tất cả các khớp của 30 BN (100%) đều có các
tổn thương sau:
4
TCNCYH 38 (5) - 2005
- Hẹp khe khớp.
- Hình khuyết xương, hốc xương.
- Hình ảnh tân tạo của xương cạnh hình khuyết
xương.
IV. BÀN LUẬN
1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu
n thương (trừ khớp vai và
háng). Biểu hiện viêm ở các khớp nhỏ khá cao.
Theo thứ tự giảm dần là khớp cổ chân (83,3 %),
khớp bàn ngón chân I (79,6%) và khớp gối
(75,9%). Hiện nay, trên phạm vi toàn thế giới,
chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT)
được dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán ARC 1987.
Theo tiêu chuẩn này, cả 3 vị trí khớp trên đều
thuộc tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh VKDT. Ba khớp
này cũng có tỷ lệ t
ổn thương đối xứng cao nhất, mà
đối xứng lại là đặc điểm quan trọng để chẩn đoán
bệnh VKDT. Các khớp ở tay (cổ tay, bàn ngón và
ngón gần) đối xứng ở nhóm nghiên cứu của chúng
tôi cũng gặp, song chỉ với tỷ lệ 10 - 30 %. Chính vì
vậy, đứng trước một BN nam, tổn thương ưu thế ở
các khớp cổ, bàn chân hơn là các khớp ở cổ bàn
tay, cần nghĩ
đến bệnh gút. Việc khai thác tiền sử
cơn gút cấp cũng hết sức quan trọng. Tất cả 54 BN
trong nghiên cứu của chúng tôi đều có biểu hiện
cơn gút cấp (100%). Tỷ lệ này cũng là 100% với số
BN tại BV Khánh Hoà [1]. Tuy nhiên, cần nhớ rằng
các cơn gút cấp có thể đã xảy ra từ rất lâu trong
tiền sử: thời gian ngắn nhất là 1 năm, dài nhất tới
36 năm trong nghiên cứu củ
a chúng tôi. Rất may là
tính chất của các cơn gút cấp này rất rõ rệt, do đó
BN khó quên được, vấn đề là thầy thuốc có khai
thác hay không. Đó là các đợt viêm khớp có sưng
thương hốc, khuyết xương trên XQ của 2 bệnh là
khác nhau, nên nếu lưu ý về chi tiết, hình hốc và
hình khuyết trong bệnh VKDT và gút cũng có khác
biệt: hình hốc và khuyết ở bệnh gút rõ ràng hơn,
có độ thấu quang hơn so với bệnh VKDT. Đó là
một đặc đi
ểm rất cần thiết để phân biệt tổn
thương XQ của bệnh xương khớp mạn tính do gút.
Tuy nhiên, nếu khám kỹ BN, phát hiện hạt tôphi,
5
TCNCYH 38 (5) - 2005
thì việc chẩn đoán gút dễ dàng hơn nhiều, không
cần đến XQ để chẩn đoán.
Về triệu chứng xét nghiệm, ngay cả trong giai
đoạn mạn tính, trong nghiên cứu của chúng tôi có
25,9% số BN không tăng acid uric. Về mặt lý
thuyết, nồng độ AU thay đổi phụ thuộc nhiều yếu
tố. Ngay trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gút,
nồng độ AU cũng không phải là tiêu chuẩn chẩn
đoán bệnh gút, mặ
c dù đây chính là nguyên nhân
dẫn đến sự tạo thành các tinh thể urat - đóng vai
trò chính trong cơ chế bệnh sinh của gút. Do vậy,
không tăng acid uric không phải là loại trừ được
bệnh gút. Lúc này, việc khai thác cơn gút cấp
trong tiền sử và tìm kiếm hạt tôphi là rất quan
trọng trong chẩn đoán bệnh gút.
i
bàn ngón chân I (79,6%) và khớp gối (75,9%). Ba
khớp này cũng có tỉ lệ tổn thương đối xứng cao
nhất. Các khớp ở tay (c
ổ tay, bàn ngón và ngón
gần) đối xứng cũng gặp song với với tỉ lệ thấp hơn
(10 - 30 %). Rõ ràng là chỉ có một tỷ lệ thấp BN
gút có viêm các khớp ở tay (cổ tay, bàn ngón và
ngón gần) đối xứng. Trong trường hợp này, việc
khai thác tiền sử cơn gút cấp là hết sức quan
trọng. Giai đoạn này, BN thường đã xuất hiện hạt
tô phi và có thể có có biểu hiện tổn thương trên
XQ. Việc đ
ánh giá độ thấu quang của các hình hốc
và hình khuyết, và đặc điểm xương tân tạo trên
các phim XQ khớp tổn thương có thể gút xác định
chẩn đoán bệnh gút mạn tính.
Ngoài ra, acid uric máu không phải là tiêu
chuẩn chẩn đoán gút, song cũng là yếu tố tham
khảo. Tuy nhiên, cũng nên nhớ rằng ngay cả trong
giai đoạn mạn tính, cũng có 25,9% không tăng
acid uric máu.
V. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 54 BN mắc bệnh gút mạn tính
chúng tôi rút ra kết luận sau:
1. Đặc điểm lâm sàng và X quang của tổn
thương xương khớp do gút mạn tính
1.1. Viêm khớp do gút có đặc đ ểm lâm
sàng rất gợi ý
- Ở giai đoạn man tính: Bệnh cảnh lâm sàng là
viêm nhiều khớp, trong đó các khớp ở chi dưới
1. Đoàn Văn Đệ (2003): “Một số đặc điểm
lâm sàng, chẩn đoán phân biệt bệnh gút và
VKDT”. Tạp chí y học thực hành, số 5; 61 - 63.
2. Hoàng Thị Phương Lan (2003): “Những
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của hạt tô phi
trên bệnh gút mạn tính”. Luận văn tốt nghiệp bác
sỹ y khoa, Trường Đại học y Hà Nội.
3. Nguyễn Kim Loan và cộng sự (1997):
“Nhân 25 trường hợp bệnh gút điề
u trị tại bệnh
viện E”. Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học
(1967 - 1997)”, Bệnh viện E Hà Nội, 100 - 106.
4. Nguyễn Vĩnh Ngọc, Trần Ngọc Ân,
Nguyễn Thu Hiền (2002): “Đánh giá tình hình
bệnh khớp tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch
Mai trong 10 năm (1991 - 2000)”. Công trình
nghiên cứu khoa học 2001 - 2002, tập 1, Nhà xuất
bản y học, 348 - 360.
5. Phạm Hữu Chính (2004): “Bước đầu
nhận xét bệnh thống phong tại bệ
nh viện tính
Khánh Hoà”. Hội nghị khoa học chuyên đề "bệnh
thoái hoá khớp và cột sống", 140 - 143.
6. Trần Thị Minh Hoa, Darmawan, Cao Thị
Nhi, Tạ Diệu Yên, Nguyễn Văn Hùng, Vũ
Đình Chính, Trần Ngọc Ân (2002): “Tình hình
bệnh cơ xương khớp ở hai quần thể dân cư Trung
Liệt (Hà Nội) và Tân Trường (Hải Dương)”. Công
trình nghiên cứu khoa học 2001 – 2002, tập 1,
7