Hà Nội, 8/2012 Công trình đã được hoàn thành tại:
Viện Vệ sin Dịch tễ Trung ương
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS. TS. Nguyễn Thị Hồng Tú
PGS. TS. Trịnh Thị Ngọc
PHẢN BIỆN 1: PHẢN BIỆN 2: PHẢN BIỆN 3:
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DÙNG TRONG TÓM TẮT LUẬN ÁN
AIDS
Acquidred Immunodeficiency Syndrome
(Hội chứng Suy giảm miễn dịch mắc phải)
BV
Bệnh viện
BKT
Bơm kim tiêm
CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Đặt vấn đề: 2 trang
Chương 1. Tổng quan tài liệu: 49 trang
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 24 trang
Chương 3. Kết quả nghiên cứu: 48 trang
Chương 4. Bàn luận: 43 trang
Kết luận: 2 trang
Khuyến nghị: 1 trang ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, nhân viên y tế (NVYT) chiếm một phần quan trọng của lực
lượng lao động với gần 250.000 người trên cả nước, hàng ngày tham gia cung
cấp các loại hình dịch vụ kỹ thuật y tế tại gần 970 bệnh viện công và tư, 700
phòng khám đa khoa, 500 nhà hộ sinh, trên 16.000 phòng khám tư nhân trên
toàn quốc. Chỉ tính riêng CSYT công năm 2009, đã có 116.825.901 lượt
người khám chữa bệnh, 10.328.096 lượt người điều tr
ị nội trú, 13.626.739
lượt người điều trị ngoại trú, và 2.064.010 cuộc phẫu thuật được thực hiện.
Trong môi trường lao động, ngoài gánh nặng thể lực và tâm lý, NVYT
còn phải đối mặt với các nguy cơ nhiễm khuẩn, đặc biệt là nguy cơ phơi
nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu thông qua các tổn
- Điều tra thực trạng và các đặc điểm tổn TTNN do các VSN ở NVYT.
- Điều tra Kiến thức – Thái độ – Thực hành của NVYT về các yếu tố
nguy cơ và phòng ngừa TTNN do VSN.
- Uớc tính gánh nặng bệnh tật gây ra bởi TTNN do VSN.
- Xây dựng mô hình can thiệp thí điểm và đánh giá.
ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Phân tích sâu về thực trạng và một số đặc đ
iểm của TTNN bởi các VSN,
thực trạng theo dõi, quản lý các TTNN do VSN tại các CSYT, quản lý các
chất thải y tế trong đó có chất thải sắc nhọn.
- Đưa ra và áp dụng mô hình can thiệp phòng ngừa TTNN do VSN:
Nghiên cứu đã bước đầu đưa ra mô hình can thiệp và hiệu quả của các biện
pháp này, đóng góp cho việc phòng ngừa và kiểm soát các nguy cơ TTNN do
VSN cũng như việc xây dựng và triển khai hệ thống giám sát TTNN do VSN
tại các CSYT.
- Đây là đề tài đầu tiên áp d
ụng phương pháp của Tổ chức Y tế Thế giới
vào ước tính gánh nặng bệnh tật do TTNN bởi VSN ở NVYT khu vực điều
trị: ước tính tỷ lệ mới mắc hàng năm HBV và HIV trong NVYT khu vực điều
trị, ước tính phần quy thuộc cho tổn thương bởi VSN. CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Một số đặc điểm lao động đặc thù của NVYT:
Trong môi trường lao
động các NVYT phải tiếp xúc với rất nhiều yếu tố
có nguy cơ tới sức khỏe: các yếu tố sinh học, các yếu tố vật lý (tia X, sóng
siêu âm,v.v ), các yếu tố hóa học, các yếu tố tâm-sinh lý.
Theo Hướng dẫn đánh giá gánh nặng bệnh tật do các yếu tố môi trường
của WHO, gánh nặng bệnh tật gồm các thông số cơ bản sau:
- Số ca tổn thương do VSN trên một NVYT một năm (n);
- Tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn do TTNN bởi VSN ở NVYT (In(HCW))
- Tỷ lệ quy thuộc (AF) của bệnh do tổn thương bởi các VSN.
1.4. Các chính sách và giải pháp phòng ngừa TTNN do VSN
ở NVYT:
1.4.1. Các giải pháp phòng ngừa TTNN do VSN ở NVYT:
Theo nguyên tắc can thiệp y học lao động, các biện pháp phòng ngừa
TTNN do VSN có thể xếp theo thứ tự từ hiệu quả cao đến thấp như sau:
(1) Loại bỏ nguy cơ: Hạn chế các mũi tiêm
(2) Kiểm soát bằng các biện pháp kỹ thuật: Dùng bơm kim tiêm an toàn
(tự hủy, tiêm áp lực), hộp đựng VSN an toàn
(3) Kiểm soát bằng các biện pháp hành chính: Giám sát, tập huấn nâng
cao kiến thức và thái độ
(4) Kiểm soát b
ằng các cải tiến thực hành: Cải tiến thực hành tiêm
(5) Các phương tiện bảo vệ cá nhân.
1.4.2. Phòng ngừa phổ cập (Universal Precaution):
Phòng ngừa phổ cập dựa trên nguyên tắc: coi máu và dịch cơ thể của mọi
người bệnh đều có khả năng lây truyền HBV, HCV, HIV và các tác nhân gây
bệnh truyền theo đường máu khác. Các nội dung của phòng ngừa phổ cập:
1 - Rửa tay thường quy và sát khuẩn tay
2 - Mang găng
3 - Mang các phương tiện phòng hộ (khẩu trang, kính bảo hộ, ủng…)
4 - Tiêm an toàn
5 - Xử lý dụng cụ y tế: cọ rửa, kh
ử khuẩn, tiệt khuẩn
6 - Quản lý đồ vải
7 - Vệ sinh môi trường bệnh viện
ban hành Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HVI/AIDS.
+ Thông tư số 42/2011/TT-BYT ngày 30/11/2011 của Bộ Y tế về Bổ
sung Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp, Bệnh nghề nghiệp do rung toàn
thân, Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp vào Danh mục Bệnh nghề
nghiệp được bảo hiểm và Hướng dẫn Tiêu chuẩn chẩn đoán, giám định.
NVYT làm việc trong môi trường lao động có nhiều yếu tố độc hại,
nhưng công tác an toàn vệ sinh lao động ở một số cơ
sở y tế còn ít được chú
trọng, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp, bảo đảm an toàn
vệ sinh lao động nơi làm việc cho nhân viên y tế trong những năm tới cần
được đẩy mạnh và quan tâm hơn nữa để đảm bảo nhân viên y tế được làm
việc trong môi trường an toàn không có yếu tố nguy cơ đến sức khỏe.
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên c
ứu:
- NVYT làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh, bao gồm: bác sỹ, dược
sỹ, phẫu thuật viên, KTV, điều dưỡng, y tá, dược tá, nữ hộ sinh, hộ lý, lao
công là những người trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân, máu và dịch cơ thể
của người bệnh và chất thải y tế.
- Điều kiện làm việc với VSN và chất thải y tế chứa VSN tại các CSYT.
2.2. Địa đ
iểm và thời gian nghiên cứu:
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu:
– Nghiên cứu cắt ngang về thực trạng TTNN do VSN tại 6 bệnh viện:
Bạch Mai, Phụ sản Trung ương, Việt – Đức, Xanh Pôn, Thanh Nhàn,
Trung tâm Y tế Đông Anh
– Nghiên cứu tiến cứu số mới mắc và tần suất phơi nhiễm trong vòng 1
năm: Bệnh viện Xanh Pôn
- Phiếu quan sát các ca tiêm để đánh giá thực hành của NVYT.
- Phiếu phỏng vấn cán bộ quản lý.
2.3.2.2. Ước tính gánh nặng bệnh tật do TTNN bởi VSN ở NVYT:
Ước tính gánh nặng bệnh tật do TTNN bởi VSN ở NVYT (Tỷ lệ mới mắc
và Tỷ lệ quy thu
ộc) theo hướng dẫn của WHO (2002).
2.3.2.3. Nội dung và mô hình can thiệp:
a/ Nội dung can thiệp:
Dựa vào cách tiếp cận y học lao động truyền thống của các biện pháp
kiểm soát và phòng ngừa các yếu tố nguy cơ nơi làm việc, một chương trình
can thiệp tổng hợp được triển khai gồm các biện pháp: (1) Giáo dục sức
khỏe; (2) Tăng cường kỹ thuật; (3) Chăm sóc y tế; (4) Quản lý hành chính.
b/ Mô hình can thiệp:
Thiết lập ban ch
ỉ đạo có sự tham gia của lãnh đạo đơn vị, khoa, phòng,
đoàn thể, lồng ghép các biện pháp can thiệp.
2.3.3. Quy trình thu thập số liệu:
- Thử nghiệm bộ công cụ (Pilot)
- Lựa chọn và tập huấn cho cán bộ thu thập số liệu
- Lập danh sách và chọn đối tượng nghiên cứu
- Triển khai và giám sát.
2.3.4. Quy trình quản lý và xử lý số liệu:
Số liệu sau khi thu thập về được nhóm nghiên cứu lưu giữ tại nơi an toàn
và bảo mật, được làm sạch, nhập và xử lý bằng phần mềm EPI INFO 6.04 và
STATA 8.0.
2.3.5. Khống chế sai số trong nghiên cứu:
Thiết kế bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, có bản hướng dẫn rõ ràng, chi tiết;
Các định nghĩa, tiêu chuẩn
đưa ra chính xác và rõ ràng; Tập huấn kỹ cho điều
tra viên; Tiến hành thử bộ công cụ trước khi nghiên cứu chính thức; Giám sát
Bệnh viện Thanh Nhàn 251 54,6 460
TTYT Đông Anh 106 74,6 142
Chung 2242 64,8 3462
Bảng 1 cho thấy số tỷ lệ NVYT nói chung bị TTNN do VSN trong 12
tháng ở các cơ sở y tế nghiên cứu là 64,8%. Trong cùng một bệnh viện, tỷ lệ
NVYT nữ bị TTNN do VSN (66,3%) cao hơn tỷ lệ này ở NVYT nam (60,4)
có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Phần lớn số NVYT bị tổn thương do VSN dưới 5 lần (83,9%), một số ít bị
từ 6 - 10 lần (9,9%), rất ít người bị trên 10 lần.
Bảng 2 cho thấy các y tá/điều dưỡng có t
ần suất bị tổn thương cao nhất
(19/100 người/năm), sau đó là nhóm bác sĩ (11/100 người/năm), các nhóm
khác (Hộ lý, Y công, KTV…) có tần suất tổn thương bởi VSN thấp hơn
(9/100 người/năm). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (với p<0,05).
Bảng 2. Tần suất phơi nhiễm của NVYT theo nghề nghiệp
(kết quả theo dõi tiến cứu tại Bệnh viện Xanh Pôn)
Chức danh Tần số
Tần suất
(/100 người/năm)
p
Bác sỹ 22
11,0 p
1-4
<0,05
p
3-4
<0,05
Nguồn nhiễm khuẩn tiềm tàng Số lượng Tỷ lệ (%)
Bệnh nhân HIV 87 3,9
Bệnh nhân HBV/HCV 175 7,8
BN mang các bệnh truyền nhiễm khác 211 9,4
BN không mang bệnh truyền nhiễm 585 26,1
Không có thông tin về bệnh nhân 1184 52,8
Tổng số 2242 100
Bảng 3 cho thấy rằng các trường hợp TTNN do VSN có thể phơi nhiễm
với bệnh nhân HIV (3,9%), bệnh nhân HBV/HCV (7,8%). Một điều rất nguy
hiểm là một bộ phận lớn NVYT (52,8%) ở các bệnh viện không hề có thông
tin gì về bệnh nhân mà họ tiếp xúc khi xảy ra tổn thương.
3.2.3. Biện pháp xử lý sau khi xảy ra TTNN do VSN:
96,3% đã thực hiện ít nhất một biện pháp sơ cứu sau khi bị tổn thương.
Các biện pháp thông dụng nh
ất bôi thuốc sát trùng (83,4%) và rửa tay với xà
phòng (83,3%), nặn máu (77,7%). Chỉ 14,2% số người bị TTNN do VSN đã
phải điều trị sau tổn thương và chỉ 96,6% tuân thủ đúng phác đồ điều trị.
3.2.4. Kết quả khảo sát KAP và các biện pháp dự phòng TTNN do VSN của
NVYT:
Tỷ lệ NVYT nhận thức về các tác nhân gây bệnh qua đường máu là
81,9% đối với HIV, 81,3% đối với HBV và 55,3% đối với HCV trong số tất
cả những người tham gia cu
ộc điều tra. Chỉ có 78,3% số người trả lời nghĩ
rằng TTNN là có thể phòng tránh được.
Tỷ lệ NVYT sử dụng hộp đựng VSN trong khi tiến hành công việc là
97,9%; và tỷ lệ có hộp an toàn theo đúng quy chuẩn chỉ 55,2% .
Các thao tác nguy cơ gây tổn thương do VSN vẫn còn tồn tại như dùng
hai tay đóng nắp kim sau tiêm (14,5%) và dùng hai tay đóng nắp kim trước
khi tiêm (10,9%).
3.3. Kết quả ước tính gánh nặng bệnh tật do TTNN bởi VSN:
Nguy cơ của việc dùng 2 tay đậy nắp kim tiêm
26,7 89,8
Sử dụng hộp chứa VSN 21,2 77,6
Các biện pháp xử trí sau khi bị TTNN do VSN
22,6 93,9
Quy trình rửa tay 34,1 57,3
Sử dụng phương tiện bảo vệ
149,0 195,5
Các biện pháp tiêm an toàn
28,1 34,1
Quy trình báo cáo và ghi nhận TTNN do VSN 24,1 190,0
Chỉ số hiệu quả trước – sau can thiệp cho thấy các kiến thức của NVYT
về phòng ngừa và xử trí TTNN do VSN tăng lên rõ rệt, trong đó cao nhất là
việc sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân (149% và 195,5%), quy trình
báo cáo và ghi nhận các trường hợp bị TTNN do VSN (24,1% và 190%), các
biện pháp xử trí sau khi bị thương (22,6% và 93,9%, tương ứng ở 2 cơ sở y
tế).
3.4.2. Sự thay đổi về thực hành của NVYT sau can thiệp:
Bảng 5 dưới đ
ây cho thấy sau can thiệp hầu hết các thực hành an toàn
đều được cải thiện đáng kể: Các thực hành tốt (chuẩn bị tiêm ở một bàn/khay
sạch, sát khuẩn tay trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm và trước khi tiêm, rút
piston kiểm tra trước khi bơm thuốc) đều có chỉ số hiệu quả can thiệp tốt
(6,1% và 38,0%). Các thực hành có nguy cơ cao (lưu kim lấy thuốc trên lọ,
dùng 2 tay đóng nắp kim trước và sau khi tiêm) đều giảm đáng k
ể sau can
thiệp với chỉ số hiệu quả can thiệp cao (29,2% và 76,9%).
Bảng 5. Hiệu quả can thiệp nâng cao thực hành của NVYT
Các chỉ số thực hành
4.1. Thực trạng TTNN do VSN và các yếu tố liên quan:
Kết quả nghiên cứu cho thấy số NVYT bị TTNN do VSN trong 12 tháng
là 66,5%, trong đó cao nhất là BV Việt Đức (79,0%), tiếp theo là TTYT
Đông Anh (74,3%) và BV Bạch Mai (68,0%). Các số liệu cũng cho thấy,
trong cùng một bệnh viện, số NVYT nữ bị TTNN do VSN cao hơn số NVYT
nam. Điều này có thể liên quan đến t
ần số các thao tác liên quan đến VSN
của họ.
Vị trí bị tổn thương do VSN nhiều nhất là bàn tay và ngón tay (94,5%).
Chỉ một số ít trường hợp xảy ra ở chân.
Hầu hết các tổn thương là xuyên thấu da (77,8%) và xước da (19,6%).
Những tổn thương này rất nguy hiểm vì đây là nguy cơ đối với việc lây
nhiễm các yếu tố bệnh truyền qua đường máu.
Về hoàn cảnh xảy ra tổn thương do VSN, hầu hết các t
ổn thương đều xảy
ra vào buổi sáng (46,6%), sau đó là buổi chiều (22,3%), ít hơn vào buổi tối
(19,8%) và ban đêm (11,3%). Điều này có thể được giải thích là do tần xuất
tổn thương liên quan tới tần xuất tiêm truyền. Hầu hết các hoạt động y bác sỹ
(đặc biệt là tiêm, truyền, lấy máu xét nghiệm v.v.) thường được tiến hành vào
ban ngày, nhất là buổi sáng, do đó, đây cũng là thời điểm dễ xảy ra t
ổn
thương nhất. Nguyễn Bích Diệp nghiên cứu tình hình tổn thương do các VSN
cũng cho kết quả là tần suất xẩy ra tổn thương nhiều nhất vào ca sáng
(56,7%)
Về các công việc thường xảy ra tổn thương do VSN, tổn thương xảy ra
nhất là khi tiêm (42,9%). Như vậy, các công việc của điều dưỡng có nguy cơ
tổn thương cao nhất.
Trong 6 loại VSN gây tổn thương cho NVYT thì tỷ lệ NVYT bị kim tiêm
dưới da gây tổn thương cao nhất (31,7%), tiếp theo là kim có cánh (19,2%),
Theo mô hình ước tính của WHO, tỷ lệ NVYT phơi nhiễm với các tác nhân
gây bệnh truyền qua đường máu là 2,6% đối với HCV, 5,9% đối với HBV và
0,5% đối với HIV. Điều này có nghĩa là trên thế
giới hàng năm có 16.000
trường hợp lây nhiễm HCV và 66.000 trường hợp lây nhiễm HBV ở NVYT.
Kết quả điều tra trước can thiệp cho thấy rằng các trường hợp tổn thương
do VSN có thể phơi nhiễm với bệnh nhân HIV (1,5% - 3,9%), bệnh nhân
HBV/HCV (4,4% - 11,0%). Một điều rất nguy hiểm là một bộ phận lớn
NVYT (52,8%) không hề có thông tin gì về bệnh nhân mà họ tiếp xúc khi
xảy ra tổn thương. Do đó họ không có các biện pháp theo dõi hay
điều trị
thích hợp sau khi tổn thương xảy ra. Việc thu thập các thông tin về bệnh nhân
là rất quan trọng, nhất là các bệnh lây truyền qua đường máu.
Theo nghiên cứu ca bệnh đối chứng về tổn thương kim đâm từ nguồn lây
nhiễm HIV của CDC bao gồm 33 trường hợp nhiễm HIV và 739 trường hợp
chứng, nghiên cứu này cho thấy nguy cơ nhiễm bao gồm: Tổn thương sâu;
Nhìn thấy máu trên dụng cụ; Kim đặt vào tĩnh mạch hoặc độ
ng mạch; Nguồn
lây từ bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối.
Mặc dù cho tới nay ở nước tá chưa có một nghiên cứu tổng thể về TTNN
do VSN và các yếu tố nguy cơ, nhưng vấn đề này đã được đề cập đến dưới
những góc độ liên quan khác như vệ sinh bệnh viện, chống nhiễm khuẩn
bệnh viện, tiên an toàn và cũng được ghi nhận, thống kê ở một số cơ
sở y
tế. Điều tra cơ bản thực trạng sức khỏe của người tiếp xúc với vi sinh vật
nguy hiểm và tiến hành xét nghiệm HBsAg cho các cán bộ y tế trong một số
bệnh viện ở nước ta cho thấy những cán bộ trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân
có tỷ lệ (+) khá cao (12-15%).
Theo số liệu báo cáo năm 2002 của Cục Y tế Dự phòng và Phòng chống
HIV/AIDS thống kê trên 45/64 tỉnh, thành phố, có t
u quả của chương trình can thiệp.
4.2.2. Ước tính số nhiễm khuẩn do tổn thương bởi VSN:
Theo Pruss A, và cs. phơi nhiễm nghề nghiệp với các VSN nhiễm khuẩn
cũng đưa đến nhiễm HBV trong NVYT với một mức độ lớn. Theo ước tính
của các tác giả này, với HBV tỷ lệ quy thuộc cho tổn thương bởi các VSN là
37%, tương tự như với HCV. Tuy nhiên tỷ lệ mới mắc HBV toàn cầu cao hơn
nhi
ễm HCV. Hàng năm VSN nhiễm khuẩn gây ra 66.000 ca nhiễm HBV và
261 ca chết trong khi chỉ có 16.000 ca nhiễm HCV.
Tại Hoa Kỳ, giữa những năm 1985-1999 có 56 ca bị nhiễm và 136 ca có
khả năng là nhiễm HIV nghề nghiệp trong NVYT đã được báo cáo, tức là
trung bình 13 ca một năm. Trong 4 năm qua trong NVYT tại Hoa Kỳ hàng
năm chỉ có 1 ca chắc chắn và 2 ca được báo cáo. Bằng mô hình, các tác giả
của WHO ước tính trong vùng A hàng năm có khoảng 5 (1 - 20) ca nhiễm
HIV liên quan đến VSN. Tính toán cho các trường hợp có thể hơn trong các
nước Châu M
ỹ vùng A (Arm A) khác, cũng như những trường hợp không
được báo cáo, mô hình này khá phù hợp với số liệu điều tra. Tại Châu Âu,
đến 1977 đã có 96 ca khẳng định và có thể liên quan đến nghề nghiệp được
ghi lại. Để so sánh, mô hình ước tính cho năm 2000 là 6 (1 - 28) ca nhiễm
HIV. Tình hình này tương tự như ở Hoa Kỳ. Xem xét tỷ lệ tăng nhanh chóng
người (và bệnh nhân) sống với HIV/AIDS và việc tiến hành áp dụng PEP,
các ước tính từ mô hình của WHO tương đương như
số liệu điều tra. Điều
này gợi ý rằng các kết quả thu được từ mô hình của WHO phù hợp với các
kết quả thu được từ các phương pháp khác.
Kết quả nghiên cứu này cho thấy ước tính tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn
trong một năm do tổn thương các VSN là 55,76 ca HBV và 0,22 ca HIV. So
với số liệu ước tính của WHO thì số ca HBV có thấp hơn nhưng số ca HIV
thì nằm trong giới h
WHO khuyến nghị tính tỷ lệ quần thể nhạy cảm nên theo nhóm, nhưng do
quần thể nghiên cứu này giới hạn trong một cỡ mẫu không lớn, không cho
phép chia ra các nhóm nghề, nhóm tuổi khác nhau. Trong chỉ dẫn của WHO,
sử dụng các giá trị trung bình cho một số thông số. B
ởi vậy, khi đưa số liệu
vào cho một quần thể nhỏ kết quả thu được có thể kém chính xác hơn các kết
quả tính từ các trị giá đặc thù hơn cho các thông số. Để tính toán gánh nặng
do tổn thương bởi các VSN ở ngành y tế cần có sự ghi chép, thống kê đầy đủ
trong toàn quốc.
Khả năng lây truyền nhiễm khuẩn mỗi khi xảy ra tổn thương bởi VSN: Dù
không nhiều, nhưng đã có m
ột số nghiên cứu khả năng sự thay đổi huyết
thanh một khi xảy ra tổn thương da. Tỷ lệ thay đổi huyết thanh sau tiếp xúc
da với HBV khác nhau, tỳ thuộc vào liệu bệnh nhân dương tính hay âm tính
với kháng nguyên HBVe (HBeAg). Ước tính nhiễm khuẩn trong phạm vi 6%
(đối với nạn nhân âm tính với HbeAg) đến 30% (bệnh nhân dương tính với
HbeAg) với chỉ số trung bình là 18% (Seeff et al., 1978).
WHO hướng dẫn chỉ số khả năng lây truyền nhiễm khu
ẩn đối với HBV,
HIV khi tổn thương bởi VSN sẽ tương ứng là 18% và 0,32%, coi như một chỉ
số hằng định. Tuy nhiên, khả năng lây nhiễm được dùng để ước tính các
nhiễm khuẩn liên quan đến VSN theo hướng dẫn của WHO nêu trên là số
liệu thu được từ các nghiên cứu ở các nước đã phát triển, và không rõ nếu
những khả năng như vậy có thể áp dụng với các nước đang phát triển không,
trong khi những nơi này những thực hành y học khác nhau có thể ảnh hưởng
đến khả năng lây nhiễm khuẩn. Điều hạn chế này có thể dẫn đến sự ước tính
thấp số lượng nhiễm khuẩn liên quan đến VSN.
Ước tính tỷ lệ hiện mắc ban đầu: Với HBV là dựa vào các tỷ lệ
hiện mắc
trong cộng đồng. Nhưng NVYT tiếp xúc với quần thể bệnh nhân có thể có tỷ
khai chương trình. Can thiệp thí điểm đã đưa ra mô hình hoạt động cho hệ
thống báo cáo và quản lý các trường hợp bị TTNN nhằm hạn chế tối đa hậu
quả của phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu.
Trước khi triển khai can thiệp, việc báo cáo và ghi nhận chưa được đư
a
vào thành qui định bắt buộc và chưa hề có hệ thống báo cáo ở cả 2 bệnh viện
này. Do đó tỷ lệ các trường hợp TTNN không được báo cáo rất cao ở cả 2
bệnh viện (51,4% - 87,7%). Sau khi can thiệp, các bệnh viện đã tiến hành xây
dựng hệ thống báo cáo và hệ thống sổ sách theo dõi, ghi nhận các trường hợp
tổn thương với sự tham gia của Ban Giám đốc bệnh viện, lãnh đạo các khoa
và Khoa Chống nhiếm khuẩn.
- Mỗi khoa có sổ ghi chép trường hợp phơi nhiễm nghề nghiệp theo mẫu
sổ thống nhất.
- Khoa Chống nhiễm khuẩn có sổ ghi chép trường hợp phơi nhi
ễm nghề
nghiệp của các khoa thông báo
Mô hình báo cáo, quản lý sau phơi nhiễm nếu được đánh giá, hoàn thiện
để mở rộng trong toàn quốc sẽ mang lại nhiều lợi ích trong chiến lược phòng
ngừa thuơng tích ở NVYT.
4.3.2. Hiệu quả can thiệp tuyên truyền, giáo dục làm nâng cao kiến thức –
thái độ – thực hành của NVYT:
Kết quả điều tra sau can thiệp cho thấy NVYT đã được nâng cao về nhận
thức, cải thiện vi
ệc thực hành, cụ thể là:
Về nhận thức:
Tỷ lệ NVYT biết về các tác nhân gây bệnh truyền qua đường máu tăng
lên so với trước can thiệp. Tại cả 2 cơ sở y tế tỷ lệ NVYT cho rằng TTNN do
VSN là có thể phòng ngừa được tăng lên rõ rệt, có ý nghĩa thống kê so với
trước khi can thiệp (p<0,001). Sau khi được nghe trình bày và thảo luận
nhóm, hầu hết NVYT đều có nhận thức tốt về các biện pháp phòng ngừ
toàn và thiết bị tiêm không kim. Kết quả cho thấy nhìn chung tỷ lệ TTNN do
VSN giảm 61%, tỷ lệ TTNN do VSN liên quan đến thiết bị tiêm không kim
và xử lý các VSN giảm 50%. Sandra I. Sulssky và cộng sự nhận thấy qua các
báo cáo nghiên cứu thì chủ yếu các chương trình can thiệp mặc dù khác nhau
r
ất nhiều về chất lượng phương pháp luận nhưng nhìn chung trong biện pháp
kiểm soát kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng các công cụ tiêm được thiết kế an toàn
đã có hiệu quả rõ trong việc giảm tổn thương bởi VSN.
- Trang bị hộp an toàn đầy đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng là
một trong những can thiệp quan trọng nhất của biện pháp can thiệp về mặ
t kỹ
thuật. Đây là vấn đề thiết yếu đối với việc phòng ngừa TTNN do VSN không
chỉ cho bản thân NVYT mà còn cho cả cộng đồng. Kết quả nghiên cứu cho
thấy trước khi can thiệp hầu hết các xe tiêm ở các bệnh viện đều được trang
bị hộp đựng VSN nhưng phần lớn là hộp nhựa tự tạo. Sau khi triển khai can
thiệp, các hộp đựng VSN đã được đưa vào áp dụng đạ
i trà. Điều tra và quan
sát thực tế cho thấy hầu như toàn bộ số NVYT được trang bị đầy đủ hộp
đựng VSN an toàn với tỷ lệ cao hơn có ý nghĩa thống kê so với trước can
thiệp. Việc chú ý trang bị hộp chống sốc cũng tốt hơn ở các bệnh viện.
Hatcher và cs. tiến hành năm 2002 đã đánh giá TTNN do VSN trong quá
trình xử lý các VSN đã sử dụng trước và sau khi thay kiểu hộp đựng VSN
mớ
i cho thấy: Trước: Kiểu hộp đựng VSN thả từ trên xuống; Sau: Kiểu “bỏ
thư”. Đánh giá cho thấy trước khi thay đổi kiểu hộp, nguy cơ TTNN do xử lý
VSN cao gấp 2,9 lần so với sau khi thay đổi kiểu hộp. Tỷ lệ TTNN do VSN
hàng năm giảm 2/3.
- Phương tiện rửa tay và sát khuẩn tay: trước khi tiến hành can thiệp việc
cung cấp đủ nước sạch cho NVYT rửa tay trước và sau khi tiêm được các
bệnh viện th
(11/100 người/năm), các nhóm khác (Hộ lý, Y công, KTV…) có tần suất
TTNN thấp hơn (9/100 người/năm). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(với p<0,02).
Đặc điểm TTNN do VSN: 46,0% số trường hợp xảy ra khi tiến hành
tiêm, sau đó là rửa dụng cụ (14,9%) và làm các thủ thuật (14,0%), phẫu thuật
(13,5%), vứt bỏ và thu gom rác thải (8,8%).
Xử lý sau khi bị tổn thương: 93,3% - 96,6% đã th
ực hiện một trong các
biện pháp sơ cứu sau khi bị tổn thương như bôi thuốc sát trùng (83,4%) và
rửa tay với xà phòng (83,3%), nặn máu (77,7%).
2. Ước tính gánh nặng bệnh tật do TTNN bới VSN nhọn tại cơ sở thí
điểm:
2.1. Tỷ lệ mới mắc nhiễm khuẩn do TTNN bởi VSN:
- Tỷ lệ mới tỷ lệ mới mắc viêm gan vi-rút B do TTNN do VSN (I
n
HBV) ở NVYT nói chung là 50 ca/100.000 người/năm; ở Y/bác sỹ là 40
ca/100.000 người/năm; ở Điều dưỡng là 65 ca/100.000 người/năm và ở các
NVYT khác là 30 ca/100.000 người/năm.
- Tỷ lệ mới mắc HIV do TTNN bởi VSN (I
n
HIV) ở NVYT nói chung là
0,2 ca/100.000 người/năm; ở Y/bác sỹ là 0,2 ca/100.000 người/năm; ở Điều
dưỡng là 0,3 ca/100.000 người/năm và ở các NVYT khác là 0,1 ca/100.000
người/năm.
2.2. Tỷ lệ quy thuộc cho TTNN bởi VSN:
- Tỷ lệ quy thuộc do TTNN bởi VSN của viêm gan vi-rút B ở NVYT
nói chung là 32,16%; ở Y/bác sỹ là 27,8%; ở Điều dưỡng là 39,5% và ở các
NVYT khác là 21,7 %.
- Tỷ lệ quy thuộc do TTNN bởi VSN của HIV ở NVYT nói chung là
0,52%; ở Y/bác sỹ là 0,49%; ở Điều dưỡng là 0,53% và ở