Cấu trúc Quần xã chân khớp bé (microarthropoda: Oribatida, Collembola) liên quan đến loại đất ở vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam potx - Pdf 12

Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 1/2008

10

Cấu trúc Quần xã chân khớp bé (microarthropoda: Oribatida, Collembola) liên
quan đến loại đất ở vùng
đồng bằng sông Hồng, Việt Nam
Soil microarthropod community structures
(Microarthropoda: Oribatida, Collembola) in relation to soil
type in the Red river plain, Vietnam

Vũ Quang Mạ
(1)
, Lưu Thanh Ngọc
(2)
,
Nguyễn Hải Tiến
(3)
, Trương Xuân
Cảnh
(4)Abstract
The microarthropod community structures (Microarthropoda: Oribatida, other
Acari, Collembola, and other microarthropods) are closely related to the soil type,
so that they can be used as a bioindicator of the changes of the soil environment.
We have been studied in the region of the Red river plain, from 11 places of 5
provinces and cities, namely Ha Tay, Hanoi, Thai Binh, Ninh Binh and Nam Dinh;
in the period of 2006-2007. The obtained results are followings:
The biggest microarthropod (Oribatida, other Acari, Collembola, other

cơ thể từ 0,1-0,2 đến 2,0-3,0 mm,
thường là nhóm ưu thế.
Microarthropoda, mà đáng kể là ve
giáp (Acari : Oribatida), tham gia tích
cực vào các quá trình tạo đất, quyết
định nhiều hoạt tính sinh học quan
trọng của môi trường và góp phần
nâng cao độ phì nhiêu của đất. Chúng
là thành phần quan trọng tạo nên tính`
đa dạng sinh học của giới động vật,
đồng thời mang truyền nhiều mầm
bệnh và ký sinh trùng qua môi trường
đất. Cấu trúc quần xã Microrthroopoda
ở đất, bao gồm đa dạng thành phần
loài và dạng sống, mật độ quần xã, đặc
điểm phân bố thẳng đứng và bề mặt ,
có liên quan chặt chẽ đến điều kiện khí
hậu và môi trường, với loại đất, kiểu
thảm phủ thực vật và cây trồng, hay
chế độ canh tác đất và phân bón. Vì
vậy cấu trúc này được nghiên cứu
nhiều như một chỉ sinh học
(Bioindicator), chỉ thị các biến đổi tự
nhiên và nhân tác của môi trường đất
[2, 3, 7, 9, 13].
Chưa có nhiều nghiên cứu về biến
đổi cấu trúc quần xã Microarthropoda,
liên quan đến điều kiện tự nhiên và
nhân tác ở hệ sinh thái đất Việt Nam
[6, 10, 11, 12]. Bài báo giới thiệu kết

bằng phương pháp phễu lọc Berlese-
Tullgren. Phân tích và định loại
Oribatida theo hệ thống của Balogh và
Balogh (1992), Ghilarov và
Krivolutsky (1975), Vũ Quang Mạnh
(2007) và các tài liệu liên quan [1, 3,
4, 5, 10].

1. Đại học Sư phạm Hà Nội
2. Đại học Hoa Lư Ninh Bình
3. Đại học Quảng Bình
4.

Trung tâm Công ngh
ệ giáo dục H
à
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 1/2008

12

3. Kết quả và thảo luận
3.1. Cấu trúc quần xã
Microarthropoda ở 4 loại đất nghiên
cứu
Kết quả phân tích về cấu trúc mật
độ giữa các nhóm Microarthropoda ở
đất phù sa sông Hồng cho thấy, nhóm
Oribatida có mật độ lớn nhất, gấp
khoảng 2 lần so với các nhóm ve bét
khác (Acari), bọ nhảy (Insecta:

nhất. Lớn nhất là mật độ là nhóm
Collembola, với 15.387 cá thể/m
2
; sau
đó là Acari khác, với 9.778 cá thể/m
2
;
và nhỏ nhất là Microarthropoda, với
4.000 cá thể/m
2
. Như vậy nhóm
Collembola có mật độ quần thể lớn
nhất, chiếm 43,36% tổng số lượng
nhóm Microarthropoda; rồi đến Acari
khác, với 27,57%. Oribatida chiếm tỷ
lệ 17,79% tổng số lượng cá thể, chỉ
hơn Microarthropoda khác, với
11,28%.
Trong 32 loài ve giáp (Acari:
Oribatida) xác định được ở vùng đồng
bằng sông Hồng, có 22 loài phân bố ở
đất phù sa sông Hồng, bao gồm: 1.
Javacarus kuehnelti; 2. Lohmannia
javana; 3. Epilohmannia cylindrica; 4.
Berlesezetes auxiliaris; 5. Aokiella
florens; 6. Tectocepheus
cuspidentatus; 7. Oppiela nova; 8.
Oxyoppia clavata; 9. Arcoppia
arcualis; 10. Multioppia tamdao; 11.
Perxylobates brevisetus; 12.

nghiên
cứuLoại đất nghiên cứu
Microarthropoda
Oriba
ti-da
Acar
i
khác

Collem
-bola
Microartho
poda khác
Tổng
1. Đất
phù sa hệ
thống
sông
Hồng
Số lượng cá
thể
670 301 323 187 1.481
Tỉ lệ % 45,24 20,32

21,81 12,63 100
Mật độ
(cá thể/m

sa cổ
Số lượng cá
thể
249 75 119 59 502
Tỉ lệ % 49,60 14,94

23,71 11,75 100
Mật độ
(cá thể/m
2
)
11.06
7
3.333

5.289 2.622 22.311

4. Đất đỏ
nâu trên
đá vôi
Số lượng cá
thể
62 40 24 28 154
Tỉ lệ % 40,26 25,98

15,58 18,18 100
Mật độ
(cá thể/m
2
)

bằng sông Hồng đã xác định được 12
loài ve giáp: 1. Epilohmannia
cylindrica, 2. Gymnodamaeus
adpressus, 3. Karenella acuta, 4.
Insculptoppia insculpta, 5.
Perxylobates brevisetus, 6. Xylobates
monodactylus, 7. Rostrozetes
punctulifer, 8. Rostrozetes trimorphus,
9. Scheloribates laevigatus, 10.
Scheloribates pallidulus, 11.
Scheloribates praeincisus, và 12.
Lamellobates palustris.
ở đất đỏ nâu trên đá nền vôi, mật độ
nhóm Oribatida đạt 8.267 cá thể/m
2
;
Acari khác là 5.333 cá thể/m
2
;
Microarthropoda khác là 3.733 cá
thể/m
2
, và Collembola là 3.200 cá
thể/m
2
. Như vậy Oribatida cũng chiếm
ưu thế trong cấu trúc mật độ của nhóm
Microarthropoda, chiếm 40,26% tổng
số lượng. Tiếp theo là Acari khác,
Microarthropoda khác và Collembola;

cấu trúc số lượng của quần xã
Microarthropoda ở 3 trong 4 loại đất
nghiên cứu, là đất phù sa cổ, đất phù sa
sông Hồng, và đất đỏ nâu trên nền đá
vôi; tương ứng chiếm 49,60%, 45,24%
và 40,26% tổng số lượng. Chỉ riêng đất
phù sa sông Thái Bình, nhóm Oribatida
chiếm tỷ lệ không cao, 17,79% tổng số
lượng của nhóm Microarthropoda. Mật
độ quần xã nhóm Oribatida xác định
được ở đất phù sa sông Hồng đạt cao
nhất, với 14.489 cá thể/m
2
. Mật độ này
giảm dần từ đất phù sa cổ, với 11.067
cá thể; đến đất đỏ nâu trên nền đá vôi,
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 1/2008

15
với 8.267 cá thể; và thấp nhất ở đất phù
sa sông Thái Bình, với 6.311 cá thể tính
trến 1m
2
bề mặt đất. Đa dạng thành
phần loài của quần xã Oribatida đạt cao
nhất ở đất phù sa sông Hồng, xác định
được 22 loài. Sau đó số lượng loài
giảm dần từ đất phù sa cổ, với 12 loài,
đến đất đỏ nâu trên nền đá vôi, có 8
loài, và ít nhất là ở đất phù sa sông

2
. Mật độ
quần xã nhóm Microarthropoda khác
đạt cao nhất là 4.156 cá thể/m
2
, ở đất
phù sa sông Hồng. Mật độ này giảm
dần từ đất phù sa sông Thái Bình, đến
đất đỏ nâu trên nền đá vôi, và thấp
nhất ở đất phù sa cổ; tương ứng xác
định được là 4.000, 3.733, và 2.622 cá
thể/m
2
. Trong cấu trúc số lượng của
nhóm Microarthropoda, Acari khác đạt
tỷ lệ cao nhất ở đất phù sa sông Thái
Bình, chiếm 27,57%. Rồi nó giảm dần
từ đỏ nâu trên nền đá vôi, đến đất phù
sa sông Hồng và thấp nhất ở đất phù sa
cổ, chiếm 14,94%.
3.3. Sự thay đổi cấu trúc thành
phần loài Oribatida theo các loại đất
nghiên cứu
Kết quả phân tích đã xác định được
32 loài ve giáp, trong đó có 1 loài chưa
định được tên (sp.), chúng thuộc 24
giống, nằm trong 15 họ. Các loài
Oribatida phát hiện được bao gồm: 1.
Rhysotritia ardua C. L. Koch, 1841; 2.
Javacarus kuehnelti Balogh, 1961; 3.

Mahunka, 1979; 24. Ischeloribates
lanceolatus Aoki, 1984; 25.
Scheloribates fimbriatus Thor, 1930;
26. Scheloribates laevigatus (C. L.
Koch, 1836); 27. Scheloribates
pallidulus C. L. Koch, 1840; 28.
Scheloribates praeincisus Berlese,
1916; 29. Lamellobates ocularis
Jeleva et Vu, 1987; 30. Lamellobates
palustris Hammer, 1958; 31. Galumna
flabellifera orientalis Aoki, 1965; 32.
Pergalumna sp.
Hầu hết các loài ve giáp phát hiện
được qua nghiên cứu đều có vùng
phân bố mới, theo loại đất của đồng
bằng sông Hồng. Trong số đó có 24
loài, được phát hiện ở các loại đất mới,
mà các nghiên cứu của Vũ Quang
Mạnh và các cộng tác viên chưa đề
cập tới [4, 5, 10, 14]. Đó là các loài 1.
Rhysotritia ardua; 2. Gymnodamaeus
adpressus; 3. Berlesezetes auxiliaris;
4. Eremobelba capitata; 5. Aokiella
florens; 6. Oripoda pinicola; 7.
Oppiela nova; 8. Oxyoppia clavata; 9.
Karenella acuta; 10. Insculptoppia
insculpta; 11. Multioppia tamdao; 12.
Perxylobates brevisetus; 13.
Perxylobates vermiseta; 14. Xylobates
capucinus; 15. Xylobates

1. Mật độ quần xã Microarthropoda
đạt cao nhất ở đất phù sa sông Thái
Bình, có 35.467 cá thể/m
2
; giảm dần từ
đất phù sa sông Hồng, phù sa cổ và
thấp nhất ở đất trên nền đá vôi, tương
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 1/2008

17
ứng có 32.912, 22.311 và 20.533 cá
thể/m
2
. Oribatida là nhóm
Microarthropoda ưu thế ở 3 trong 4
loại đất nghiên cứu, là phù sa cổ, phù
sa sông Hồng và đỏ nâu trên nền đá
vôi; với 49,60%, 45,24% và 40,26%
tổng số lượng. Collembola chỉ chiếm
ưu thế duy nhất ở đất phù sa sông Thái
Bình, với 43,36%.
2. Đa dạng thành phần loài
Oribatida xác định được cao nhất ở đất
phù sa sông Hồng, giảm ở phù sa cổ,
đất đỏ nâu trên đá vôi và ít nhất là ở
đất phù sa sông Thái Bình; với 22, 12,
8 và 3 loài. Phát hiện được 4 loài
Oribatida mới cho khu hệ động vật
Việt Nam: 1. Gymnodamaeus
adpressus Aoki et Fujikawa, 1971; 2.

Phan The Viet, 1997: The Oribatid
Mites (Acari: Oribatida) of Vietnam
Tropical Ecology and Medicine, I,
Russian-Vietnamese Centre, Nauka
Press, Moscow, 152-167 (in Russ.)
6. Nguyen Viet Tung, Vu Quang
Manh, 2005: Impact of organic
material input to structure of soil
organism community. Seminar at
Tokyo University of Agriculture, on
Biology and Agriculture Education
7. Noti M. et al., 2003: Diversity of
soil oribatid mites (Acari, Oribatei)
from High Katanga (Congo)
Biological Conservation, 12: 767-785
8. Schinner F. et al. (Ed.) , 1995:
Methods in Soil Biology, Springer,
Berlin, 311-382
9. Sjursea et al., 2005: Effects of
long-term soil warming and
fertilization on microarthropod
abundances in three sub-arctic
ecosystems Applied Soil ecology,
30(3): 148-161
10. Tsonev I., Vu Quang Manh,
1987: Influence of some main natural
Kết quả nghiên cứu khoa học BVTV - Số 1/2008

18


Technology, Heibei Institute of
Microbiology, CAS, Sept. 1 - Oct. 15,
China


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status