đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
Lời nói đầu
Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là t liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trờng sống, là địa bàn phân bố các khu dân c,
xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội , an ninh quốc phòng_luật đất đai năm
1993.
Nh vậy đất đai là một t liêu sản xuất đặc biệt, nó đã đợc khẳng định trong luật đất đai
năm 1993, nó là t liệu sản xuất duy nhất mà tham gia vào mọi ngành kinh tế, mọi
ngành sản xuất xã hội . Đặc biệt , với ngành nông nghiệp , là một ngành trực tiếp khai
thác sử dụng đất đai để tạo sản phẩm thì đất đai nó vừa là đối tợng của lao động và
đồng thời là t liệu lao động. Vì thế nó là t liêu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế
đợc . Chúng đều biết ngành sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đầu tiên của
con ngời kể từ khi con ngời biêt lao động, nó là một ngành sản xuất chủ yếu tạo ra sản
phẩm và nuôi sống con ngời. Ngay cả đến bây giờ khi xã hội đã phát triển thì nó vẫn là
một ngành không thể thiếu bởi chúng ta muốn lao động và tham gia vào các hoạt động
xã hội thì trớc hết phải có ăn mà đây là ngành đáp ứng nhu cầu đó của con ngời.
Riêng đối với Việt Nam, đất nớc chúng ta có một nền văn minh nông nghiệp lâu đời,
hiện nay nó vẫn là ngành chủ lực của chúng ta với 76% lao động trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên chúng ta đang trong quá trình tiến hành sản xuất nông nghiệp hàng hoá nên
có một yêu cầu đặt ra là phải tập trung ruộng đất, vốn, lao động, kỹ thuật nhằm sử dụng
các yếu tố một cách hiệu quả hơn ( nhất là yếu tố đất đai ). Để tạo ra năng suất và chất l-
ợng cao, không những đáp ứng nhu cầu trong nớc mà còn cả xuất khẩu nữa, tạo tiền đề
cho phát triển những ngành khác và xa hơn nữa là cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
vào năm 2020 nh chiến lợc phát triển kinh tế xã hội đã đợc Đảng và Nhà nớc ta đặt ra.
Vùng đồng bằng sông hồng, là một trong hai vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả n-
ớc, với những điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội hết sức thuận lợi để phát triển nông
nghiệp hàng hoá. Thế nhng hiện vùng này và cả nớc đang chịu chung một hậu quả mà
nó đã cản trở sản xuất hàng hoá của nớc ta. Đó việc quản lý sử dụng đất còn yếu kém,
bất cập làm cho đất đai sử dụng kém hiệu quả, lãng phí, cha phát huy hết khả năng và
tiềm lực vốn có của vùng.
tham gia vào sản xuất nông nghiệp với t cách là một nhân tố tất yếu .Thế nhng để hiểu
và quản lý nó một cách hiệu quả nhất thì lại có nhiều quan điểm khác nhau.
Nó có thể là đất mà đợc quy hoạch vào mục đích nông nghiệp hay đó là đất có khả
năng nông nghiệp, sử dụng vào mục đích nông nghiệp lâu đời .Nếu hiểu nh vậy thì sẽ
khó phân định rõ ràng đợc quỹ đất nông nghiệp và điều này sẽ cản trở đối với quản lý.
Tại luật đất đai năm 1993 chúng ta quy định gồm có 6 laọi đất: đất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, đất đô thị, đất ở nông thôn, đất chuyên dùng, đất cha sử dụng. Điều này ta
nhận thấy co một vấn đề mâu thuẫn là ở trong đất đô thị cũng có đất nông nghiệp và
ngay cả đất ở nông thôn ( do tập quán và truyền thống sản xuất lúa nớc ) cũng có sự pha
tạp giữa đất ở và đất nông nghiệp. Nh vậy rất khó phân định rõ ràng và điều này dĩ
nhiên là cản trở quản lý. Việc phân định đất theo địa bàn này không phải là một sự thích
hợp cho kinh tế thị trờng và sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn phát triển. Vì vậy tại
luật đất đai năm 2003 của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Viêt Nam đợc quốc hội thông
qua ngày 26/11/2003 ( Hội nghị X họp từ ngày 21/10-26/11/2003 ) và có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/07/2004 đẫ khẳng định : đất nông nghiệp là đất đợc sử dụng vào mục
đích nông nghiệp là chính , nh trồng trọt , chăn nuôi , nuôi trồng thuỷ sản hay làm
những thí nghiệm về nông nghiệp ( nghiên cu giống cây trồng , bảo tồn nguồn gel cây
trồng ).
Nh vậy theo luật đất đai năm 2003 thì đất nông nghiệp là đát đợc sử dụng chủ yếu
vào sản xuất của các ngành nông nghiệp , có nghĩa không phải đất phải đợc sử dụng vào
mục đích nông nghiệp một cách thuần tuý và có tạo ra sản phẩm nông nghiệp thì mới đ-
ợc gọi là đất nông nghiệp , mà chỉ cần đất đó chủ yêu đợc sử dụng vào mục đích nông
nghiệp .Nh vậy với một mảnh đất mà có phần lớn diện tích ( hầu hết diện tich ) đã đợc
sử dụng vào mục đích nông nghiệp hoặc có nguồn gốc lâu đời là đất canh tác nông
nghiệp , hay đợc quy hoạch là đất nông nghiệp nhng thực tế có thể cha sử dụng , hay đất
này mới khai hoang đợc sử dụng vào làm nông nghiệp hay đất có khả năng nông
Sinh viên: nguyễn duy dơng
5
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
Tuy nhiên, đó là về nguồn thu của nhà nớc, còn đối với những ngời sản xuất kinh
doanh nông nghiệp , doanh nghiệp kinh doanh sản xuất nông nghiệp hay các nông trại,
trang trại hay cả những hộ gia đình cũng có thể tạo ra một nguồn vốn lớn cho mình
thông qua các hoạt động nh thế chấp, cho thuê, bảo lãnh hay góp vốn liên doanh bằng
Sinh viên: nguyễn duy dơng
6
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
giá thị quyền sử dụng đất. Mà các hoạt động này đợc quy định rất cụ thể thành quyền và
nghĩa vụ của ngời sử dụng đất trong luật đất đai năm 2003.
Nh vậy đất đai có một vai trò vô cùng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, nó là
cở sở đẻ cây trồng sinh trởng, phát triển và là cơ sở cho việc tồn tại hoạt động sản xuất
của con ngời. Đồng thời nó con là một yếu tố giải quyết vấn đề vốn trong sản xuất nông
nghiệp, nhất là với hiện nay chúng ta đang trong quá trình khuyến khích và thực hiện
sản xuất nông nghiệp hàng hoá, thì giải quyết đợc vấn đề vốn là một điều kiện rất thuận
lợi.
2.Đặc điểm của đất nông nghiệp
Đất đai nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động:
Chúng ta đều biết đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trớc lao động và nó tồn tại
không phụ thuộc vao ý thức chủ quan của con ngời, nó vừa là sản phẩm của tự nhiên,
vùă là sản phẩm của lao động vì từ khi co hoạt động sống của con ngời trên trái đấtthì
chúng ta đã biết khai thác, sử dụng đất đai phục vụ cho đời sống.Và con ngời đã khai
hoang cải tạo đất nh việc bón , xới , đắp đập ngăn lũ hay đào kênh tới tiêu nớc và dần
dần lao dộng của con ngời đã kết tinh voà đất đai, tạo cho đất đai ngày một phì nhiêu
hơn và co giá trị hơn.
Và điều này cũng đợc khẳng định trong luật đất đai năm 1993: Trải qua biết bao
nhiêu thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xơng máu mới tạo lập, bảo vệ đợc vốn
đất đai nh ngày nay. Và nó còn đợc thể hiện rõ hơn khi nớc ta trải qua hai cuộc chiến
chống đế quốc. Thời gian này chung ta ở trong tình trạng rất khó khăn, bọn thực dân đã
tiến hành nhổ lúa trồng đay, lập đồn điền Vì thế để bảo toàn lực l ợng cho kháng chiến
tốt , thich hợp cho nông nghiệp và có nhiều nhng lại có nơi có đất không thich hợp cho
sản xuất nông nghiệp và co rất ít.Thể nhng thiên nhiên đã tạo ra một đặc điểm kỳ diệu
cho đất đai là no không hề bị hao mòn, đào thải khỏi quá trình sản xuất mà nó có thể cải
tạo đợc , biến đất xấu thanh đất tốt và đất đã đợc sử dụng thì ngày lại càng tốt hơn.
Ta biết với đất đai thì độ phì nhiêu là quan trọng nhát. Thế nhng việc xác định độ
phì cũng chỉ mang tính chất tơng đối vì đất đai có thể tốt với loại cây trông này nhng
cũng có thể là xấu với loại cây trồng kia. Nhng trong lĩnh vực nông nghiệp ta có thể u
tiên cho trồng lúa nớc. Chính đọ phì có thể giúp cây trồng sinh trởng và phát triển mà ta
lại có thể thay đổi đợc độ phì, vì thế với đất đai trong nông nghiệp khả năng sản xuất là
vo hạn.
Nói nh vậy không có nghĩa là năng xuất của sản phẩm nông nghiệp có thể tăng lên
bao nhiêu tuỳ ý ta muốn, mà nó vấp phải qui luật năng suất cận biên giảm dần. Ta có
thể bón nhiều phân nhiều đạm để có đợc năng xuất cao nhng nó chỉ ở trong một giới
hạn nhất định là năng xuất tối đa , tơng đơng với một lợng phân bón nhất định và điều
kiện chăm sóc tốt. Còn quá giới hạn đó thì năng xuất xẽ thấp dần đi.
Vì vậy đặc điểm này của đất đai nông nghiệp cho ta biết phải khuyến khích đầu t ,
thâm canh , cải tạo, khai hoang ở những nơi thiếu đất nông nghiệp , đất xấu để có thể tự
cung cấp lơng thực thực phẩm cho mình. Còn những nơi có điều kiện thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp thì ta phải sử dụng đất cho hợp lý , có hiệu quả cao nhất để có thể sản
xuất nông nghiệp hàng hoá lớn , có chế độ đất đai bền vững và đáp ứng nông sản cho
vùng và xuất khẩu.
3. Khái niệm và sự cần thiết phải quản lý sử dụng đất nông nghiệp
Với một đất nớc thì có rất nhiều những lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mà tất cả
các hoạt động ấy đều có những quy luật hoạt động riêng của nó . Để cho đất nớc , xã
Sinh viên: nguyễn duy dơng
8
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
hội có một sự ổn định thì yêu cầu chúng ta phải quản lý. Chúng ta đều biết con ngời đợc
đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động xã hội thì nên để quản lý đợc xã hội thì cái duy
ương
UBND xã, phường,
thị trấn
Sở tài nguyên môi trư
ờng
Phòng tài nguyên
môi trường
Cán bộ chuyên môn
địa chính cấp xã
Huyện, quận thuộc
thành phố trực thuộc
trung ương, thành
phố thuộc tỉnh, thị
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
Nh vậy cơ quan chuyên môn quản lý về đất đai ở nớc ta là hệ thống ngành dọc
từ bộ Tài Nguyên Môi Trơng đến các cán bộ chuyên môn địa chính tại cấp xã. Hệ thống
ngành dọc này có nhiệm vụ thực hiện quản lý đất đai theo từng cấp và trợ giúp cho
UBND cùng cấp, Chính phủ trong lĩnh vực này. Trong đó các cán bộ chuyên môn địa
chính cấp xã là những ngời trực tiếp quản lý đất đai tại địa phơng thông qua các hoạt
động: đăng ký , theo dõi biến động đất đai , tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử
dụng đất đai , kiểm kê đất đai , giám sát các hoạt động khai thác sử dụng đất đai tại
địa phơng.
Theo luật đất đai năm 2003, tại điều 11 và điều 15 cố quy định cụ thể và rõ ràng
nguyên tắc sử dụng đất và những hành vi bị nghiêm cấm trong khi sử dụng đất . Đồng
thời tại các điều 105, 106 ,107 có những quy định chung về quyền và nghĩa vụ của ngời
sử dụng đất .
Có thể nói tóm tắt nh sau:
Vệc sử dụng đất đai phải đợc thực hiện theo đúng quy hoạch sử dụng đất , kế
hoạch sử dụng đất đai và đúng mục đích đã đợc xác định trong quy hoạch kế hoạch sử
Nh vậy yêu cầu quản lý sử dụng đất nông nghiệp hiên nay là một yêu cầu thiết thực
và cần thiết.Nó có thể giải quyêt tốt các vấn đề nêu trên , đa tình trạng sử dụng đất đai
nông nghiệp của nớc ta hiện nay đi vào ổn định và tiếp tục vận động theo quỹ đạo phát
triển để tiến lên sản xuất nông nghiệp hàng hoá nh mục tiêu mà Đảng, Nhà nớc đã định
hớng.
4.Nội dung quản lý sử dụng đất nông nghiệp
Căn cứ vào luật đất đai năm 2003 đã đợc quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và có
hiệu lực thi hành ngày 01/07/2004 thì nội dung quản lý sử dụng đất cũng là một nội
dung của quản lý nhà nớc về đất đai và bao gồm những nội dung sau :
Quản lý quy hoạch sử dụng đất.
Quản lý kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý khai thác, cải tạo và bảo vệ đất.
Hoạt động giám sát và dự báo việc sử dụng đất đai.
4.1.Quản lý quy hoach sử dụng đất.
Quy định sử dụng đất đai là việc khoanh định hay điều chỉnh việc khoanh định đối
với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng địa ph-
ơng và trong phạm vi cả nớc, là việc tính toán , phân bổ việc sử dụng đất đai cụ thể về số
lợng, chất lợng, vị trí không gian. Mục tiêu của việc quy hoạch đất đai là xây dựng cơ sở
khoa học làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất, nhằm lựa chọn phơng án
sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế , xã hội, môi trờng sinh thái , an ninh quốc
phòng.
1
Quy hoạch sử dụng đất là công cụ quan trọng nhằm quản lý sử dụng đất và quản lý
quy hoạch sử dụng đất đai nó là một trong những nội dung của quản lý nhà nớc về đất
đai vì :
Trớc hết ta nhận thấy quy hoạch sử dụng đất đảm bảo sự tập chung thống nhất của
nhà nứơc. Thông qua việc khoanh định đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển
kinh tế xã hội thì nó đã giúp cho nhà nớc có đợc một định hớng về khai thác và sử dụng
đất đai.Từ đó tranh đợc tình trạng sử dụng đất đai lãng phí không hiệu quả và sử dụng
sai mục đích .
Công bố và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất :
Tại luật đất đai năm 2003 thì có quy định rõ ràng về thẩm quyền công bố và địa
điểm công bố . Điều đã này làm giảm nhiều những khoản thiệt hại lớn cho ngời sử dụng
đất nh những khoản đầu t vào sản xuất khi cha biết quy hoạch, nhng khi đầu t thì lại
nằm trong vùng đất quy hoạch, và quy hoạch này không hề thích hợp với mục đích đầu
t của ngời đầu t, vì vậy mà việc nhà đầu t không thu hồi đợc vốn là điều đơng nhiên. Để
giảm thiểu điều này thì luật đất đai năm 2003 có quy định cụ thể về nơi công bố và
ngoài ra tại khoản 3 điều 27 đã khẳng định: nội dung điều chỉnh quy hoạch sử dụng
đất là một phần của nội dung quy hoạch sử dụng đất .Nh vậy luật đất đai năm 2003 đã
thừa nhận việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cũng là một nội dung trong quy hoạch
sử dụng đất. Điều này là một sự khác biệt rõ rệt với luật đất đai năm 1993 vì nó đã quy
định rõ ràng, không những thế khi có điều chỉnh thì phải đợc công bố công khai nh quy
Sinh viên: nguyễn duy dơng
13
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
hoạch ban đầu. Nó đã tạo điều kiện rất thuận lợi để cho các cá nhân, tổ chức sản xuất
không còn phải lo việc mất trắng những khoản đầu t do không phù hợp với quy hoạch
hay do quy hoạch thay đổi mà họ không biết.
Thống kê, kiểm kê đất đai :
Trên cơ sở của sự phát triển luật đất đai năm 1993 thì luật đất đai năm 2003 đã tiếp
tục khẳng định: Hàng năm cán bộ địa chính xã, phờng, thị trấn phải tiến hành thống kê
đất đai và cứ 5 năm thì kiểm kê một lần và báo cáo trực tiếp với cán bộ quản lý cấp trên
của mình.Đây cũng là nội dung của quản lý nhà nớc về đất đai . Tuy nhiên đây là một
điều kiện để phản ánh và đánh giá kết quả thực hiện của những quy hoạch sử dụng đất
đến đâu.Công tác này giúp cơ quan chuyên môn về đất đai có thể quản lý tốt và giam sát
việc thực hiện quy hoạch.
Tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất:
Theo luật đất đai năm 2003, nghị định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của
Chính phủ về hớng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003 và thông t số 05/2004/TT
cụ đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nớc về đất đai , mà kế hoạch sử
dụng đất đai là sự cụ thể hoá của quy hoạch sử dụng đất đồng thời nó xác định mục tiêu
và biẹn pháp cụ thể cho từng năm và thời kỳ 5 năm . Vì vậy đó xẽ là một sự lãnh đạo ,
chỉ đạo tập trung thống nhất . Những mục tiêu , biện pháp ,tất cả đều nhằm đa đất đai đ-
ợc sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất . Từ điều này mà kế hoạch sử dụng đất đai
nó đã góp phần vào việc đảm boả thực hiện chiến lợc phát triển và quy hoạch kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội .
Nói tóm lại quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp chi tiết cho việc
sử dụng và khai thác đất đai hiệu quả , hợp lý . Tuy nhiên , về thực tế của vùng thì
nhiều nơi kế hoạch sử dụng đất đai không đợc thực hiện một cách nghiêm túc , không
phát huy đợc vai trò của một công cụ quản lý . Vì vậy để phát huy đợc hiệu quả khai
thác , sử dụng đất thì công tác kế hoạch sử dụng đất đai là cần thiết và nó thể hiện ở
những nội dung sau:
Trong luật đất đai năm 2003 cũng thừa nhận việc điều chỉnh kế hoạch sử dụng
đất đai là một nội dung của kế hoạch sử dụng đất đai , điều này đã đợc khẳng
định tại khoản 3 điều 27: nội dung điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai là một
phần của kế hoạch sử dụng đất đai.
Khác với luật đất đai năm 1993 thì luật đất đai năm 2003 có quy định thêm cho
kế hoạch sử dụng đất đai nh sau:
o Phân tích đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất đai kỳ trớc.
o Kế hoạch thu hồi diện tích đát trồng lúa nớc, chuyển cơ cấu trong sử dụng
đất nông nghiệp (có quy định cụ thể bbao nhiêu đất phải thu hồi và đợc sử
dụng vào mục đích gì).
o Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích sử dụng vào mục đích nông
nghiệp .
o Cụ thể hoá việc sử dụng đất 5 năm cà hàng năm.
o Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất đai .
Cơ quan chuyên môn về địa chính (thuộc cơ quan chuyên môn về tài nguyên
môi trờng ở các cấp) có trách nhiệm:
Sinh viên: nguyễn duy dơng
phát triển hơn, dân số cũng đông hơn và nhu cầu cũng nhiều hơn thì chế độ canh tác
mới đợc sử dụng là chế độ bỏ hoang. Chế độ sử dụng này có tính đến việc khôi phục đất
đai dựa vào tự nhiên, tuy nhiên cách làm này lại cần đến một thời gian khá dài. Nó
không hề thích hợp với một xã hội có đông dân c và nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp
lớn. Vì vậy lúc này, chế độ canh tác đợc chuyển xang bỏ hoá và luân phiên cây trồng.
Chế độ luân phiên cây trồng là một phơng thức canh tác rất hiệu quả, đất đai đợc sử
dụng một cách có năng suất, nhờ vào việc áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại.
Nh vậy , thực chất của việc khai thác sử dụng đất trong nông nghiệp là việc khai
thác , tận dụng độ phì nhiêu của đất và những điều kiện tự nhiên để sản xuất . Độ phì
Sinh viên: nguyễn duy dơng
16
đề án môn học
Ttđtđc&kdbđs
nhiêu là một yếu tố của tự nhiên ban tặng cho đất đai mà từ đó nó có thể cung cấp cho
cây trồng nớc, không khí, các chất dinh dỡng giúp cây trồng sinh trởng và phát triển.
Điều này có nghĩa khi đất đai bị xấu đi tức là độ phì bị giảm sút. Để có thể tiếp tục sản
xuất đợc trên mảnh đất đó thì ta cần bảo vệ cải tạo độ phì cho đất (vì độ phì bị giảm sút
có thể do chế độ canh tác của con ngời không hợp lý hay là do những yếu tố tự nhiên tác
động nh lũ lụt , hạn hán , sạt lở ). Với vùng đồng bằng Sông hồng , là một vuìng rộng
lớn, có địa hình tơng đối bằng phẳng thì công tác bảo vệ , cải tạo không phải là khókhăn
phức tạp. Việc bảo vệ đất một mặt đợc tiến hành từ công tác hạn chế những tác hại của
tự nhiên (đắp đê ngăn lũ, trồng cây tạo thành vành đai bảo vệ ), một mặt hạn chế
những tác hại do con ngời gây ra ( nguyên nhân có thể từ việc bố trí một cơ cấu cây
trồng không hợp lý, sử dụng nhiều chất hoá học mà có thể làm hại đến cây trồng hay
làm thay đổi kết cấu tự nhiên của đất).
Chúng ta đều biết , theo pháp luật thì đất đai nông nghiệp đợc chia làm 6 hạng, từ
hạng I đến hạng VI và dựa vào các yếu tố nh:
Chất đất (độ phì của đất)
Vị trí (khoảng cách so với nơi c trú của ngời sử dụng đất)
Địa hình
sử dụng đất . Điều này không riêng gì trong hoạt động sử dụng đất đai mà trong bất kỳ
một hoạt động gì cũng vậy , đều cần phải có hoạt động giám sát , bởi đây là một nội
dung quản lý quan trọng . Hoạt động giám sát sử dụng đất đai trong nông nghiệp chủ
yếu dựa vào những quy định trong luật đất đai ,quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai
trong nông nghiệp và những chính sách, quyết định , nghị định, khung giá và định mức
thuế có liên quan tới hoạt động sử dụng đất nông nghiệp . Với hoạt động khai thác này
thì nội dung của giám sát đợc xác định là về những sự thay đổi về diện tích , hình thể,
chủ sử dụng , mục đích sử dụng và kết quả theo từng giai đoạn ( tháng , quý, năm) của
việc thực hiện các biện pháp nhằm đạt đợc những mục tiêu đã đề ra Nh vậy thông
qua việc giám sát thờng xuyên này thì cơ quan chuyên môn về đất đai ở các cấp cũng
nh UBND các cấp có thể nắm bắt đợc tình hình thực tế, những thay đổi trong sử dụng
đất để có biện pháp phù hợp đôn đốc , chấn chỉnh hoạt động sử dụng và có hứng điều
tiết theo một mục tiêu đã định.
Đồng thời qua đây , cơ quan chuyen môn có thể nắm bắt những tiêu cực, hạn chế và
yếu kém trong sử dụng , những mất cân đối , thiếu đồng bộ trong quá trình thực hiện
quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai để có hớng điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu và
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đặt ra.
Song song với việc giám sát sử dụng đất là hoạt động dự báo sử dụng đất .
Hoạt động này dựa trên những cơ sở của thực trạng sử dụng đất của địa phơng, sau
khi có những nghiên cứu , đánh giá thực hiện mục tiêu thì cơ quan chức năng đa ra
những dự báo tình hình sử dụng đất trong tơng lai (trong một thời gian ngắn hay lâu
dài). Việc dự báo này có thể đa ra đợc quỹ đất cụ thể trong nông nghiệp cho từng mục
đích sử dụng của từng đơn vị cụ thể là bao nhiêu. Đồng thời cho biết đợc nhu cầu về sử
dụng đất nông nghiệp của từng địa phơng theo từng mục đích . Từ đó dự tính trớc đợc
diện tích đất nông nghiệp sẽ phải thu hồi để chuyển xang những mục đích khác hay diện
tích sẽ khai hoang thêm để đa vào sản xuất nông nghiệp là bao nhiêu. Bằng những kết
quả điều tra thu thập thông tin thì công tác dự báo tiến trình giao đất, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, và việc dự báo sự luân chuyển diện tích nội bộ đất nông nghiệp
nh việc chuyển đất lúa 1 vụ kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản cũng có thể dự tính
Sinh viên: nguyễn duy dơng